| Bài này do tham
khảo bài "Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ" ngày 16 tháng
3 năm 2005 của ông Ðỗ Tăng Bí, bài "Sự Phân Tán Và Tập
Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ" ngày 10 tháng 4 năm 2005
của tác giả Hồng Châu, tài liệu thống kê của Cao Ủy Tị
Nạn Liên Hiệp Quốc năm 2000, và tài liệu thống kê của
Census Bureau Hoa Kỳ cũng năm 2000. Tất cả đều lấy xuống
từ trên Internet. Trong những tài liệu tham khảo, những con
số căn cứ vào Census Bureau (Hoa Kỳ) thì giống nhau, nhưng
những con số tham khảo từ những tài liệu khác thì không
hoàn toàn giống nhau.
Thưa quí vị, người
Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước cho đến năm 1950 -cách nay
55 năm- vào khoảng 500 người. Chỉ có con số "vào khoảng",
vì lúc đó thống kê về phần người Việt Nam chúng ta hầu
như không có, mà chỉ do phỏng đoán mơ hồ. Con số đó đến
năm 1970, tăng lên khoảng 5.000 người. Từ đó đến năm 1974,
Việt Nam chúng ta trên đất Mỹ gộp chung vào khoảng 20.000
người, sống rải rác các tiểu bang miền Ðông Bắc và miền
Tây Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ cũng chưa hình thành tổ chức Cộng
Ðồng.
Cuộc chiến tranh
ý thức hệ do lãnh đạo cộng sản Việt Nam -tức Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa- cánh tay nối dài của cộng sản quốc
tế tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, từ năm 1954.
Ðến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta sụp
đổ, và lãnh đạo cộng sản cai trị toàn cõi Việt Nam dưới
tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hằng loạt
những chính sách cai trị để đánh quỵ xã hội mà họ vừa
chiếm được, đã ban hành và thực hiện chẳng khác những
cuộc hành quân về phương diện bảo mật:
- Trước hết là
chính sách tập trung cải tạo quân nhân viên chức Việt Nam
Cộng Hòa cũ. Theo tài liệu của Sở Công An Sài Gòn mà họ
đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, thì đến cuối tháng
7 năm 1975, nhà cầm quyền đã đẩy 154.772 quân nhân viên chức
Việt Nam Cộng Hòa cũ vào các trại tập trung. Ðến cuối
tháng 10 cùng năm (1975), Cảnh Sát Công An bắt thêm 68.037 người
nữa. Cộng chung tính đến 30 tháng 10 năm 1975, tổng số cựu
quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ, bị họ giam giữ
trong khoảng 200 trại tập trung trên toàn cõi Việt Nam là 222.809
người. Trong số khoảng 200 trại này, chỉ riêng Ðoàn 776
của họ, đã quản trị đến 82 trại trong tổ chức của
6 Liên Trại trong vùng rừng núi từ Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên
Sơn, ngược lên thượng nguồn Sông Hồng đến tận biên giới
Việt Nam - Trung Hoa.
- Ngày 20 tháng 8
năm 1975, Bộ Văn Hóa Thông Tin cộng sản Việt Nam, ra lệnh
mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hóa phẩm thời Việt
Nam Cộng Hòa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản
động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng
trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra "tòa án nhân dân".
Chính sách này giống như chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng
thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Ðông cộng sản.
- Ngày 18 tháng 9
năm 1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam bất thình lình thực
hiện chính sách đổi tiền. Họ ấn định số tiền tối
đa được mang đến đổi, nhưng chỉ được nhận lại tối
đa là 200 đồng mới, mà họ qui định 1 đồng bạc mới bằng
500 đồng bạc cũ (1 mới = 500 cũ). Số tiền còn lại, cứ
mỗi khi gia đình có nhu cầu phải làm đơn xin và phải được
Phường/Xã chứng nhận mới được cứu xét.
- Ngày 10 tháng 11
năm 1975, chính sách đánh vào ngành kinh doanh thương mãi, ép
mọi chủ nhân mà họ gọi là "vận động" hiến tặng cho
nhà nước toàn bộ cơ sở kinh doanh thương mãi, kể cả nhà
ở, rồi chuyển đến các khu hoang vắng mà họ gọi là "khu
kinh tế mới" tự mưu sinh. Trường hợp không chấp hành sự
vận động của họ, thì bị bắt vào trại tập trung, còn
tài sản đều bị tịch thu. Có nghĩa là, cho dù bằng cách
nào đi nữa thì tài sản cũng vào tay nhà nước cộng sản,
chỉ khác ở chỗ là những chủ nhân có bị vào trại tập
nhỏ -tức nhà tù- hay vẫn trong trại tập trung lớn -tức
xã hội- thế thôi.
- Ðến chính sách
cải tạo văn nghệ sĩ. Trên tờ L' humanité của đảng cộng
sản Pháp, số ra ngày 21 tháng 3 năm 1976 tại Paris, có đăng
tải danh sách 321 văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa, đã
bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt vào trại tập
trung cải tạo từ ngày 13 tháng 6 năm 1976.
- Tháng 6 năm 1977,
lại một chính sách khác ra đời. Ðó là chính sách buộc
tất cả mà họ gọi là "vận động" nông dân có đất ruộng,
đem tập trung vào Hợp Tác Xã, và nông dân vẫn canh tác nhưng
sản phẩm do Hợp Tác Xã quản trị, còn nông dân tùy theo
lao động của mình bỏ ra mà nhận lại đồng lương bằng
sản phẩm do Hợp Tác Xã quyết định. Và họ quản trị lao
động công việc đồng áng chẳng khác những trại lính.
Với những chính
sách khắc nghiệt đó, đã là nguyên nhân chính đẩy hơn 2.000.000
người bằng mọi phương cách rời khỏi quê hương tìm tự
do trên khắp thế giới! Cũng từ ngày Việt Nam Cộng Hòa bị
"quân xâm lăng" mà lãnh đạo cộng sản gọi là "giải phóng"
đánh chiếm, dòng người Việt Nam ào ạt trốn chạy cộng
sản đang cai trị quê hương Việt Nam và nhập cư vào Hoa Kỳ,
đã làm gia tăng nhanh chóng số người Việt Nam sống trên
đất Mỹ, qua 3 thành phần chính sau đây:
- Thứ nhất.
Thành phần di tản trước, trong, và ngay sau ngày 30 tháng 4
năm 1975. Trong đợt di tản này, theo thống kê của Cao Ủy
Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, có khoảng 150.000 người tị nạn
thoát khỏi Việt Nam, trong số này khoảng 130.000 người nhập
cư Hoa Kỳ và khoảng 20.000 người còn lại nhập cư các quốc
gia Châu Âu, mà đa số là nước Pháp. Nhưng theo tài liệu
của cơ quan thống kê Hoa Kỳ -Census Bureau- thì số nhập cư
vào Hoa Kỳ chỉ riêng trong đợt di tản tháng 4 năm 1975 là
128.039 người. Tuy hai con số thống kê có khác nhau, nhưng không
nhiều.
Thưa quí vị, hằng
trăm ngàn người tị nạn đầu tiên từ Guam và Phi Luật Tân
đến Hoa Kỳ, được đưa đến tạm trú tại trại Pendleton
của Thủy Quân Lục Chiến. Vì quá đông, nên một số được
chuyển đến các trại ở Pennsylvania và Florida. Theo tác giả
Hồng Châu, khi bà con tị nạn vào các trại tạm trú trên
đất Hoa Kỳ thì điều kiện để được ra khỏi trại sớm,
như sau: Hoặc mỗi gia đình phải chứng minh có tiền mặt
ít nhất là 4.000 mỹ kim, hoặc phải có cá nhân hay tổ chức
nào đó như những cơ quan thiện nguyện chẳng hạn, đứng
ra bảo trợ. Thật sự thì lúc ấy đa số bà con "bỏ của
chạy lấy người" nên trông chờ vào sự bảo trợ, và cho
dẫu có tiền trong túi cũng e ngại khi để cho người khác
biết mình có tiền, vì không lường trước được là những
gì có thể xảy ra mà bà con chưa quen với tập quán xã hội,
cũng như luật pháp nơi xứ sở xa quê hương đến nửa vòng
trái đất này. Có thể vì vậy mà chỉ có khoảng 15% gia đình
tị nạn ra khỏi trại tạm trú do thân nhân hay bạn bè bằng
hữu bảo trợ. Những cơ quan hay những cá nhân đứng ra bảo
trợ, trong thực tế không bị ràng buộc bởi bất cứ trách
nhiệm nào khác, ngoài trách nhiệm tìm nơi cư trú và giúp
tìm công ăn việc làm lúc ban đầu. Dần dần người tị nạn
tự lực cánh sinh, và từ đó các gia đình tự mình chuyển
nơi ở đến bất cứ thành phố nào thích hợp với hoàn cảnh.
Thứ nhì.
Thành phần trong cuộc vượt biên vượt biển sau cuộc di tản.
Ðây là thành phần được xem là đông nhất và là bi thảm
nhất trong ba thành phần đến Hoa Kỳ. Theo tài liệu thống
kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc phổ biến vào năm
2000, thì thành phần vượt biên vượt biển trong 20 năm đến
bến bờ tự do, tính từ tháng 6 năm 1975 đến năm 1995, có
tất cả là 839.200 người tị nạn, tạm chia ra trong 4 giai
đoạn như sau:
- Giai đoạn 1, từ
tháng 6 năm 1975 đến cuối năm 1979, có 14.600 người vượt
biên giới trên đất liền, và 311.400 người vượt biển mà
thế giới rất xót xa khi gọi là "thuyền nhân". Cộng chung
của giai đoạn 1 là 326.000 người tị nạn.
- Giai đoạn 2, từ
năm 1980 đến năm 1984, có 11.000 người vượt biên giới và
242.000 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 2 là
253.100 người tị nạn.
- Giai đoạn 3, từ
năm 1985 đến năm 1989, có 10.500 người vượt biên giới và
186.500 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 3 là
197.000 người tị nạn.
- Và giai đoạn
4, từ năm 1990 đến năm 1995, có 6.700 người vượt biên giới
và 56.400 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 4 là
63.100 người tị nạn.
Trong số 839.200
"Thuyền Nhân" có khoảng 424.000 người nhập cư vào Hoa Kỳ,
số còn lại định cư tại Australia 111.000, Canada 103.000, Pháp
quốc 27.000, Anh quốc, Cộng Hòa Liên Bang Ðức, Nhật Bản,
Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Ðiển, Tân Tây Lan, Bỉ quốc, Phần Lan,
và nhiều quốc gia khác, nhưng mỗi quốc gia chỉ nhận một
ít người.
Không một cơ quan
quốc tế nào có đủ dữ kiện để ước tính số đồng
bào Việt Nam chúng ta trên đường vượt biên vượt biển
tìm tự do, đã bị bỏ xác trong rừng sâu cũng như trên biển
cả. Chúng ta chỉ có những con số phỏng đoán trên các cơ
quan truyền thông quốc tế, theo đó, cứ 3 người Việt Nam
vượt biên vượt biển thì 2 người đến bến bờ tự do
và 1 người chết mất xác. Nếu chúng ta tạm chấp nhận cách
phỏng đoán này, thì có khoảng từ 400.000 đến 500.000 người
gục ngã trên đường chạy trốn chế độ cộng sản độc
tài!
Thưa quí vị, vào
những ngày cuối tháng 3 năm 2005, một phái đoàn khoảng 150
người gồm nhiều thành phần xã hội trong Cộng Ðồng Việt
Nam tị nạn, từ nhiều quốc gia khác nhau mà đông nhất là
từ Hoa Kỳ, cùng đến Mã Lai và Nam Dương, là những quốc
gia đã đón nhận cưu mang hằng 700-800 ngàn đồng bào Việt
Nam chúng ta trong thời gian tạm trú, chờ đi định cư các
quốc gia thứ ba. Qua những giờ tường trình từ các quốc
gia đó, phái viên Ðinh Quang Anh Thái của đài phát thanh Little
Saigon (Nam California), một trong những câu chuyện cảm động
nhất dù chỉ nghe trên làn sóng. Theo đó thì vài người Mã
Lai khi hay tin tàu chở người Việt Nam vượt biển bị chìm,
họ đã cùng kêu gọi nhiều người nữa ra biển vớt được
130 "xác thuyền nhân Việt Nam", và chôn trong một cái hố!
Quí vị nghĩ gì khi hình dung cái quang cảnh 130 xác đồng bào
lớn nhỏ bập bềnh trên sóng nước vịnh Thái Lan? Và quí
vị nghĩ gì nếu như trông thấy 130 xác đồng bào lớn nhỏ
nhầy nhụa ngổn ngang bị quẳng vào cái mồ chôn tập thể?
Thật là thê lương! Thật là bi thảm! Nhóm lãnh đạo cộng
sản Việt Nam, là nguyên nhân chính đẩy dân tộc vào nỗi
thê lương bi thảm này khi họ chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta!
Và thứ ba.
Thành phần thuộc các chương trình Ðoàn Tụ Gia Ðình, Cựu
Tù Nhân Chính Trị (HO), Con Lai, ..v..v.. Các chương trình này
xem như chánh thức bắt đầu từ năm 1990, dù rằng lác đác
đã có chương trình Ðoàn Tụ Gia Ðình. Số người thuộc
các chương trình này đến Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2002
là 481.245 người, bao gồm 249.086 người thuộc diện di dân,
và 232.159 thuộc diện tị nạn. Trong số người tị nạn,
có khoảng 112.000 cựu tù nhân chính trị, và đa số trong số
tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ trong chương trình HO, số còn
lại là vượt biên vượt biển sau khi ra tù.
Nhân đây, xin được
nhắc lại mục đích và ý nghĩa của hai chữ "H.O." qua lời
thư của cựu Ðại Tướng Vessey. Ðây là nguyên văn bức thư.
John W. Vessey, General
USA (retired). June 10, 1997
To Mr. Nguyen Xuan
Huan
President, Association
of Former Political Detainees in Minnesota.
1030 University Avenue.
ST. Paul, MN 55104.
Dear Mr. Huan.
Because I am unable
to attend your important meeting on Saturday, June 21, I ask that this
letter be read on my behalf to your members and guests.
It is important to
honor all those who served the cause of freedom in Vietnam and Indochina.
It is also important to recognize and assist those who suffered under Communist
rule for their prior service to the Republic of Vietnam. Political detainees
under the Communist regime after 1975 had served their country and their
people in the honorable and esteemed tradition of parriotism, putting service
to country above self during a long and arduous war. The sacrifices of
all who served and fought in the Vietnam war, Vietnam, Americans, and other
Allies, made a difference for the important human ideals of freedom and
personal dignity. The world was changed through a collective effort. The
spread of Communist in Asia was harted by the sacrifices in Vietnam, Laos,
and Cambodia, and with the help of other nations of Southeast Asia. All
who participated in that effort can be proud of their contributions.
When President Reagan
call me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary
to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek
the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained
in the, so-called, "reeducation camps". I was authorized to assure the
Hanoi government that the United States would accept and welcome those
detainees and their families in this country. Because, at the time of the
original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution
between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements
reached were termed "humannitarian operations". Consequently, the term
H.O. has been used within the Vietnamese-American community to refer to
former political detainees who are now resident in the United States.
To me, the term H.O.
is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall within
that context of the term are the among the true heroes of our time.
My very best wishes
to all attending your event.
Sincerely yours.
John W. Vessey
Lời người chuyển
ngữ: Ðây là thư của cựu Ðại Tướng John W. Vessey, cựu
Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ. Ông sinh ra và
lớn lên tại tiểu bang Minnesota. Tôi xin lược dịch phần
chính của lá thư với mục đích phổ biến đến quí vị
chung vui niềm vui vinh dự của gia đình H.O. Minnesota, vì đây
là vinh dự không phải của riêng các H.O. tại Minnesota, mà
là vinh dự của toàn thể H.O. đang sống tại Hoa Kỳ. (Nguyễn
T. Ngọc Châu )
***
"Vinh danh những
người đã phụng sự cho chính nghĩa tự do ở Việt Nam và
Ðông Dương, là một điều quan trọng. Việc công nhận và
trợ giúp những người đã bị chế độ cộng sản ngược
đãi vì đã phục vụ cho chế độ tự do tại các quốc gia
đó, lại càng quan trọng hơn. Những tù nhân chính trị dưới
chế độ cộng sản sau năm 1975, là những người đã từng
phục vụ quê hương và đồng bào với truyền thống yêu nước
cao cả và đáng kính, đã vì nước quên mình trong suốt cuộc
chiến tranh lâu dài và ác liệt. Lòng hy sinh của tất cả
những ai đã từng phục vụ và chiến đấu trong chiến tranh
Việt Nam, người Việt, người Mỹ, và những đồng minh khác,
đã đem lại một ý nghĩa đặc biệt hơn cho lý tưởng của
con người về tự do và nhân vị. Thế giới đã thay đổi
nhờ một nỗ lực tập thể. Sự bành trướng của cộng sản
ở Á Châu đã bị ngăn chận bởi những sự hy sinh ở Việt
Nam, ở Lào, và Cam Bốt, cùng với sự hỗ trợ của các nước
Ðông Nam Á. Tất cả những ai đã tham gia vào nỗ lực đó,
có thể tự hào về những đóng góp của mình".
"Năm 1987, khi đang
hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Ðặc Phái
Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ
ưu tiên hàng đầu mà Tổng Thống giao phó cho tôi, là phải
tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị
giam giữ trong những cái trại gọi là "trại cải tạo". Tôi
được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng, Hoa
Kỳ sẵn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải
tạo cùng với gia đình họ sang Hoa Kỳ.Trong những cuộc thương
thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không hy vọng hai bên sẽ có
ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành
động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được
mang danh "Humanitarian Operation" (chiến dịch nhân đạo), gọi
tắt là H.O. Do đó, danh từ H.O. được Cộng Ðồng Việt Mỹ
sử dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt
Nam đang sống trên đất Hoa Kỳ".
"Riêng đối với
tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh
thần phục vụ, và lòng hy sinh của người H.O. Tất cả những
ai thuộc diện H.O. đều là những anh hùng thật sự trong thời
đại chúng ta".
***
Thưa quí vị, theo
thống kê của Census Bureau năm 1990, Cộng Ðồng Việt Nam tại
Hoa Kỳ là 614.547 người, trong số này có khoảng 18% chào đời
trên đất Mỹ. Cũng từ Census Bureau, tài liệu thống kê dân
số năm 2000 ghi nhận Cộng Ðồng Việt Nam lên đến 1.122.528
người, tức gia tăng gần gấp đôi so với 10 năm trước đó.
Tài liệu thống kê này còn ghi nhận có đến 80.5% người
Việt Nam qui tụ vào 293.621 đơn vị gia cư, với nhân khẩu
từ 3 người trở lên. Tức là mỗi gia đình ít nhất là 3
người. Gần 20% còn lại là sống cá nhân hoặc gia đình 2
người. Vẫn tính riêng đơn vị gia cư trong Cộng Ðồng Việt
Nam tại Hoa Kỳ, thì số nhà do người Việt làm chủ là 158.319
đơn vị -tức 54%- phần còn lại là thuê mướn. Thử làm
một so sánh với người Mỹ, số đơn vi gia cư do người Mỹ
làm chủ là 66.2%. Cứ chấp nhận là Cộng Ðồng Việt Nam
mới hình thành cách nay 30 năm, mà chúng ta đã trở thành chủ
nhà với tỷ lệ 54% so với 66.2% của người bản xứ, rõ
ràng là Cộng Ðồng chúng ta đã vươn lên rất nhanh, dù là
đa số khởi đầu cuộc sống trên vùng đất hứa xa xôi này
với những bàn tay trắng.
Và đây là định
nghĩa "đơn vị gia cư" tạm dịch từ chữ household. Một đơn
vị gia cư là một ngôi nhà, một nhà tiền chế, một phòng
hay một nhóm phòng trong chung cư, mà có nhiều người sống
trong đó, với những sinh hoạt riêng biệt cũng như lối đi
riêng biệt với những người trong những đơn vị gia cư khác.
Với một Cộng
Ðồng 1.122.528 người -tức khoảng 0.4% dân số Hoa Kỳ- nếu
nhìn theo từng vùng mà mỗi vùng gồm một số tiểu bang, thì
vùng đông bắc có 115.487 người, vùng trung tây là ít nhất
với 106.938 người, vùng nam Hoa Kỳ có 335.679 người, và vùng
tây Hoa Kỳ là đông nhất có đến 564.424 người. Nếu nhìn
theo tiểu bang thì Cộng Ðồng chúng ta tại California là đông
nhất với 484.023 người, và tiểu bang có số người Việt
ít nhất là Wyoming chỉ có 128 người. Nếu nhìn theo khu vực
gồm nhiều quận hạt hay nhiều thành phố, thì Cộng Ðồng
lớn nhất là nam California với 263.000 người, thứ nhì là
bắc California, thứ ba là Houston, thứ tư là Dallas Fort Worth,
và thứ năm gồm Washington DC, Virginia, và Maryland với 43.000
người.
Trong giai đoạn
đầu trong khoảng 1975 đến 1980, phần lớn chúng ta khi được
các cơ quan thiện nguyện bảo trợ và tìm nơi định cư đầu
tiên, hầu như ở những thành phố nhỏ. Rồi từng bước
hội nhập vào xã hội nơi đây, người Việt chúng ta dần
dần tìm đến thành phố lớn lập nghiệp, nhất là những
thành phố có cơ sở kỹ nghệ quốc phòng. Nguyên nhân là
từ đầu những năm 80, thời kỳ cao điểm của "chiến tranh
lạnh" giữa khối dân chủ tự do với khối cộng sản độc
tài, hay nói cho đúng là giữa Hoa Kỳ với Liên Xô, nền kỹ
nghệ quốc phòng Hoa Kỳ hoạt động rất mạnh và thu hút
rất nhiều công nhân.
Mức độ ổn định
cuộc sống song đôi với mức độ hội nhập vào sinh hoạt
xã hội, mà tài liệu thống kê năm 2000 đã ghi nhận hơn 70%
trong số hơn 1 triệu 1 trăm ngàn người Việt, tập trung vào
20 thành phố lớn, như Los Angeles, Westminster, San Jose, Houston,
Dallas, Boston, Washington DC, ..v.. v.. Tại những thành phố này,
cư dân Việt Nam có từ 20.000 người trở lên. Cũng phải kể
đến khoảng 30 thành phố mà số cư dân Việt Nam chúng ta
có từ 2.000 đến 10.000 người, phần còn lại là những Cộng
Ðồng nhỏ sống rải rác tại tất cả các tiểu bang, kể
cả Alaska được xem là nơi có thời tiết khắc nghiệt nhất.
Những gia đình thông thạo nghề đánh bắt hải sản thì qui
tụ đến tiểu bang Florida với con số 33.190 người, tiểu
bang Louisiana 24.358 người, tiểu bang Mississippi 5.387 người,
và một số khác qui tụ về vùng vịnh San Francisco.
Vẫn theo tài liệu
thống kê năm 2000, nếu nhìn Cộng Ðồng chúng ta theo thành
phần dân số, thì từ trẻ sơ sinh đến 19 tuổi là 338.457
người, hay là 30.1% trong tổng số cư dân Việt Nam tại Hoa
Kỳ, trong khi người Hoa Kỳ cùng lứa tuổi là 28.6%. Từ 20
tuổi đến 65 tuổi là 725.830 người hay là 64.7%, trong khi người
Hoa Kỳ cùng lứa tuổi chiếm tỷ lệ 58.9%. Từ 65 tuổi trở
lên là 58.241 người hay là 5.2%, trong khi người Hoa Kỳ cùng
lứa tuổi chiếm đến 12.4%. Với tỷ lệ này trong thành phần
dân số Hoa Kỳ hiện nay, và đang có chiều hướng gia tăng
do tuổi thọ ngày càng nâng cao, sẽ là vấn đề mà các nhà
chính trị lẫn xã hội đang nghiên cứu tìm giải pháp thích
ứng cho tương lai trước mặt. Nếu nhìn theo khía cạnh phái
tính, thì trong Cộng Ðồng chúng ta phái nam chiếm 50.6%, và
phái nữ chiếm 49.4%, trong khi Hoa Kỳ thì tỷ lệ phái nữ
cao hơn phái nam. Nữ chiếm 50.9% trong khi phái nam khiêm nhường
một chút với tỷ lệ 49.1%. Nói một cách tổng quát thì Việt
Nam chúng ta trai thừa gái thiếu, còn Hoa Kỳ thì trai thiếu
gái thừa, nhưng thiếu hay thừa cũng không cách biệt bao nhiêu,
nên xã hội không có những vấn đề lớn về mặt này.
Thưa quí vị, nếu
nhìn theo khía cạnh gia đình thì thống kê năm 1990 của Census
Bureau cho thấy, người Việt chúng ta có khuynh hướng lập
gia đình ở tuổi 25 trở lên. Một tỷ lệ đáng lưu tâm là
có đến 28.6% ở lứa tuổi từ 25 đến 44 chưa lập gia đình,
và hơn 1/3 số người trong tuổi từ 65 trở lên là sống độc
thân do ly di hoặc vợ hay chồng đã chết. Có lẽ phải có
một cuộc nghiên cứu tường tận mới có thể tìm câu giải
đáp, nhưng một phần trong những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này có lẽ là do mất mát trong chiến tranh, cũng như
mất mát trên hành trình vượt biên vượt biển! Ðấy là
theo thống kê năm 1990, nhưng với thống kê năm 2000 có nhưng
thay đổi trong khía cạnh này. Theo đó thì số người Việt
chúng ta sống ly thân là 15.046 người hay là 1.7%, số người
ở góa là 32.276 hay là 3.7% mà đa số là phụ nữ, số người
lỵ dị là 35.177 hay là 4.1%.
Nếu nhìn theo khía
cạnh giáo dục, thống kê năm 2000 riêng về Cộng Ðồng chúng
ta có những con số sau đây: Trong số 693.441 người từ 25
tuổi trở lên:
- 18% chưa xong lớp
9.
- 20.1% theo học
từ lớp 9 đến lớp 12.
- 19.1% tốt nghiệp
trung học.
- 7.7% tốt nghiệp
đại học hai năm "hay là 49.236 người", trong khi phía Hoa Kỳ
là 6.3%.
- 14.5% tốt nghiệp
đại học bậc cử nhân "hay là 100.548 người", trong khi phía
Hoa Kỳ tốt nghiệp là 15.5%.
Hai con số tốt
nghiệp đại học 2 năm và đại học 4 năm trên đây chỉ
tính tuổi từ 25 trở lên, trong thực tế nếu tính tuổi 23
và 24 đã tốt nghiệp từ hai cấp này, ắt hẳn sẽ cao hơn
đáng kể.
- 4.9% tốt nghiệp
bậc cao học "hay là 33.578 người", trong khi phía Hoa Kỳ có
tỷ lệ 8.9%.
Nhìn chung trong giáo
dục, theo tỷ lệ thì sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại
học hai năm nhiều hơn sinh viên Hoa Kỳ, nhưng ở bậc đại
học và trên đại học thì sinh viên Việt Nam ít hơn sinh viên
Hoa Kỳ. Có một điều thật rõ nét là những nhóm gia đình
đến Hoa Kỳ trong giai đoạn 1975-1980, có trình độ học vấn
cao hơn những nhóm gia đình đến sau. Nói cách khác, học sinh
sinh viên Việt Nam trong những nhóm gia đình đến trước, thì
thời gian chính là điều kiện giúp hội nhập vào xã hội
Hoa Kỳ nhanh hơn do có nhiều cơ hội thuận lợi hơn, dĩ nhiên
là có mức sống cao hơn.
Nếu nhìn theo khía
cạnh báo chí, một phương tiện dựng lại những sinh hoạt
văn hóa của Cộng Ðồng chúng ta tại hải ngoại. Theo tác
giả Ðỗ Năng Bí căn cứ vào tài liệu của "Trung Tâm Tác
Vụ Ðông Dương" (IRAC), thì sự ra đời của một số báo
chí sau khi định cư tại một số các quốc gia, nhất là tại
Hoa Kỳ và Pháp:
"Tờ Ðất Mới
tại Seattle, tiểu bang Washington tháng 5 năm 1975, tờ Hồn Việt
ở Gleandale, California tháng 7 năm 1975, tờ Văn Nghệ Tiền Phong
ở Arlington tiểu bang Vitginia tháng 11 năm 1975, tờ Quê Mẹ
ở Paris tháng 1 năm 1976, cùng trong tháng đầu năm 1976 có thêm
tờ Trắng Ðen ở Gleandale, California, tờ Việt Nam Quê Hương
ở San Diego, California tháng 3 năm 1976, ..v.v... Ðến nay thì
hầu như tại những thành phố lớn trên các quê hương thứ
hai có đông đảo người Việt chúng ta, hầu như đều có
báo chí Việt ngữ phát hành. Riêng tại California, nhật báo
Người Việt được xem là tờ báo có số lượng phát hành
hằng ngày từ 16.000 đến 18.500 tờ, với số trang ngày thường
là 40 trang, ngày thứ sáu và thứ bảy lên đến 80 trang.Nhật
báo dùng đường bưu điện chuyển đến nhiều thành phố
tại Hoa Kỳ cũng như đến các quốc gia bên Âu Châu, Nhật
Bản, Canada, và Australia.
Nếu nhìn theo khía
cạnh kinh tế, chúng ta có những con số khác nhau. Thưa
quí vị, cứ tạm đồng ý với nhau là chúng ta đang ở vào
năm 1995, thì những gia đình đến Hoa Kỳ trong khoảng từ
năm 1975 đến năm 1990 chẳng hạn, chắc chắn là có mức sống
khác với những gia đình mới đến vài ba năm. Nhưng những
gia đình đến Hoa Kỳ trong cùng thời gian, cũng không có nghĩa
là có mức sống ngang nhau, do hoàn cảnh gia đình về số người,
về kiến thức, về cá tính, về hoàn cảnh, và cả về cơ
hội trong xã hội nơi cư trú nữa. Vậy, xin quí vị không
nên bận tâm theo ý nghĩa tiêu cực, khi quí vị thoạt nghe
một vài con số tưởng chừng không vui.
Theo định nghĩa
của các nhà nghiên cứu xã hội qui định trong sách chỉ dẫn
năm 1989 của liên bang Hoa Kỳ, lợi tức hằng năm ở mức
6.310 mỹ kim cho một người, hay 9.885 mỹ kim cho một gia đình
3 người, được xem là nghèo khổ. Với cách chỉ dẫn này,
thống kê năm 2000 cho thấy là trong Cộng Ðồng chúng ta có
đến 27% sống dưới mức nghèo khổ, trong khi tình trạng như
vậy của người Hoa Kỳ nói chung là 13%. Tài liệu cũng cho
thấy rằng, tính từ tháng 1 năm 1988 đến tháng 6 năm 1994,
số lượng người Việt Nam nhận trợ cấp an sinh xã hội
từ chánh phủ ngày càng gia tăng so với những nhóm chủng
tộc khác, mà một trong những nguyên nhân có thể là Việt
Nam chúng ta hưởng nhiều chương trình nhập cư vào Hoa Kỳ,
mang theo cả những người thân lớn tuổi trong gia đình.
Lợi tức trung bình
hằng năm của những gia đình đến Hoa Kỳ trong những năm
1975 đến 1979 là 58.000 mỹ kim, cao hơn những gia đình đến
Hoa Kỳ trong khoảng thời gian 1987 đến 1990, những gia đình
này có lợi tức trung bình dưới 30.000 mỹ kim. Ở đây chỉ
thấy tài liệu cung ứng những con số mà không thấy đề
cập đến trị giá đồng mỹ kim ở hai giai đoạn khác nhau,
nên khó mà so sánh theo trị giá thật của lợi tức.
Gần 20% những gia
đình Việt Nam chúng ta có 3 người đi làm, đây là con số
cao hơn người bản xứ. Rõ ràng là Việt Nam chúng ta đã mang
đến đất nước Hoa Kỳ một truyền thống gia đình mà người
bản xứ không có được như vậy. Tiếp đây là những con
số về lợi tức gia đình trong Cộng Ðồng Việt Nam chúng
ta theo thống kê năm 2000:
- 27.4% hay là 80.452
gia đình có lợi tức hằng năm dưới 25.000 mỹ kim, trong khi
Hoa Kỳ là 28.6%
- 27.2% hay là 79.864
gia đình có lợi tức hằng năm từ 25.000 đến dưới 50.000
mỹ kim, Hoa Kỳ là 28.7%.
- 31.3% hay là 91.903
gia đình có lợi tức hằng năm từ 50.000 đến dưới 100.000
mỹ kim, Hoa Kỳ là 29.8%.
- 12.3% hay là 36.115
gia đình có lợi tức hằng năm từ 100.000 đến dưới 200.00
mỹ kim, Hoa Kỳ là 9.9%.
- 1.8% hay là 5.285
gia đình có lợi tức từ 200.000 mỹ kim trở lên, trong khi
Hoa Kỳ là 2.4%. Nếu tính riêng trong Cộng Ðồng chúng ta tại
tiểu bang California thì số gia đình có lợi từ 200.000 mỹ
kim trở lên chiếm đến 2.6%. Nhưng tỷ lệ 2.6% này không có
nghĩa là cao hơn 2.4% của Hoa Kỳ, vì lẽ tỷ lệ 2.4% là trên
căn bản toàn liên bang trong khi tỷ lệ 2.6% của chúng ta chỉ
tính riêng tại California mà thôi. Với lại con số trên 200.000
mỹ kim, có một số rất nhỏ Việt Nam chúng ta đứng vào
hàng triệu phú, nhưng trị giá của người Việt Nam giàu nhất
có thể đến hằng chục triệu chớ chưa thể đạt đến
hằng trăm triệu trở lên, vì Cộng Ðồng chúng ta còn non
trẻ về thời gian hội nhập.
Nhìn chung, Cộng
Ðồng non trẻ 30 năm của chúng ta trên đất Hoa Kỳ, có mức
sống chênh lệch không bao nhiêu giữa những thành phần gia
đình Việt Nam với những thành phần gia đình người bản
xứ Hoa Kỳ.
Nếu nhìn theo khía
cạnh kinh doanh thương mãi, thì năm 1982 trên toàn liên bang
Hoa Kỳ có 4989 cơ sở do Việt Nam làm chủ, với doanh thu hằng
năm là 215.000.000 mỹ kim. Ðến năm 1987 thì số cơ sở do Việt
Nam làm chủ đã lên đến 25.671 cơ sở, với doanh thu 1.361.000.000
mỹ kim. Theo thống kê năm 2000 thì Việt Nam làm chủ lên đến
97.784 cơ sở, với doanh thu hằng năm là 6.768.000.000 mỹ kim.
Nếu tính riêng những cơ sở kinh doanh thương mại và dịch
vụ có thuê nhân công, thì 18.948 cơ sở với số công nhân
là 79.035 người, và tiền lương phải trả hằng năm là 1.165.000.000
mỹ kim.
Nếu nhìn theo khía
cạnh hội nhập xã hội, thì thống kê năm 2000 cho thấy có
57.9% người Việt Nam trở thành công dân Hoa Kỳ do tiến trình
nhập tịch, và 23.9% do chào đời trên đất Mỹ. Ngày nay,
muốn nhập quốc tịch phải có điều kiện sống 5 năm tại
Hoa Kỳ và phải vượt qua được cuộc khảo sát Anh ngữ về
một số lãnh vực sinh hoạt.
Trong những gia đình
Việt Nam, tài liệu thống kê cho thấy ngôn ngữ thường dùng
giữa những người thân trong gia đình là tiếng Việt. Ðồng
thời, có nhiều cơ sở giảng dạy tiếng Việt cho lớp trẻ
sinh ra trên đất Mỹ. Theo nét nhìn của những nhà nghiên cứu
Hoa Kỳ, thì đây cũng là yếu tố làm chậm mức độ hội
nhập vào xã hội nơi đây, nhưng theo nét nhìn của người
viết bài này thì đó là yếu tố thật sự cần thiết, góp
phần vào trọng tâm gìn giữ văn hóa dân tộc cho tuổi trẻ
Việt Nam hải ngoại.
Nếu nhìn theo khía
cạnh vận động với cơ quan Hành Pháp lẫn Lập Pháp, về
những quyền lợi cho Cộng Ðồng cũng như hỗ trợ công cuộc
dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam,
nói chung là vận động chính trị. Chỉ riêng khía cạnh
công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng
ta, tính đến ngày 25 tháng 10 năm 2006, có 103 đơn vị hành
chánh đã công nhận quốc kỳ Việt Nam chúng ta, gồm: 11 tiểu
bang, 7 quận hạt, 85 thành phố, thuộc 28 tiểu bang theo thứ
tự mẫu tự sau đây: Tiểu bang California và 3 quận hạt (QH)
với 12 thành phố (TP). Tiểu bang Colorado. Connecticut có TP. Tiểu
bang Florida và 3 TP. Tiểu bang Georgia và 5 TP. Hawai I co 1 TP. Indiana
có 2 TP. Kansas có 3 TP. Tiểu bang Louisiana. Massachussetts có 8
TP. Michigan có 2 TP. Tiểu bang Minnesota và 3 TP. Mississippi có
1 TP. Missouri có 1 TP. Nebraska có 1 TP. New Mexico có 1 TP. New York
có 1 TP. Tiểu bang New Jersey với 1 QH và 2 TP. North Carolina có
1 TP. Tiểu bang Oklahoma và 1 TP. Tiểu bang Ohio và 1 TP. Oregon
có 2 TP. Pennsylvania có 3 TP. South Carolina có 2 TP. Tiểu bang Texas
và 11 TP. Utah có 2 TP. Tiểu bang Virginia với 1 QH và 1 TP. Sau
cùng là Washington State với 2 quận hạt và 13 thành phố.
Cũng cần nhắc
đến do sự vận động riêng tư của kỹ sư Huỳnh Lương
Vinh (Portland, Oregon), mà ngày 17 tháng 5 năm 2004, quốc kỳ Việt
Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta, được ông Craig Van
Hoy, trưởng đoàn leo núi, cắm trên đỉnh núi Everest ở độ
cao 29.035 feet trong dãy Hy Mã Lạp Sơn.
Tóm lại.
Với những con số do những tài liệu thống kê cung ứng liên
quan đến Cộng Ðồng Việt Nam chúng ta trong 25 năm qua -từ
năm 1975 đến năm 2000- đã cho chúng ta nét nhìn tổng quát
qua cuộc di tản cuối tháng 4 năm 1975, cuộc vượt biên vượt
biển vô cùng bi thảm trong suốt 25 năm cuối của thế kỷ
20, rồi từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi đây,
từ lo âu đến ổn định, từ gây dựng đến phát triển,
từ khách hàng trở thành chủ nhân, và trong hầu hết các
lãnh vực sinh hoạt đều có sự đóng góp của những chuyên
viên chuyên gia Việt Nam, thậm chí có một số chuyên gia thượng
thặng như tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh trong lãnh vực vũ trụ
không gian, như bà Dương Nguyệt Ánh, một chuyên gia về chất
nổ nổi tiếng trong lãnh vực quốc phòng trên thế giới,
..v.. v...
Có thể nói rằng,
những tài liệu thống kê trong cách nhìn nào đó, đã cung
cấp cho chúng ta một bức tranh khắc họa hình ảnh Cộng Ðồng
Việt Nam non trẻ qua những con số sau đây tính đến năm 2000:
- Về dân số, là
1.122.528 người. Trong số này, có 80.5% sống trong 293.621 đơn
vị gia cư, và mỗi đơn vị gia cư có từ 3 nhân khẩu trở
lên. Số đơn vị gia cư do người Việt Nam làm chủ là 54%.
- Về khu vực
cư trú. Có 70% người trong tổng số của Cộng Ðồng qui
tụ vào 20
thành phố lớn,
và 30 thành phố cỡ vừa.
- Về hội nhập
công dân. Có 57.9% đã nhập quốc tịch Hoa Kỳ, và 23.9% chào
đời trên đất nước Hoa Kỳ.
- Về học vấn.
Trong số 693.441 người từ 25 tuổi trở lên, có 19.1% tốt
nghiệp trung học, 7.7% tốt nghiệp đại học hai năm, 14.5%
tốt nghiệp đại học bậc cử nhân, và 4.9% tốt nghiệp bậc
cao học. Nếu tính ra số lượng, chúng ta có 183.362 chuyên
viên chuyên gia trung cấp và cao cấp, bao gồm:
7.7% hay là 49.236
người tốt nghiệp đại học 2 năm.
14.5% hay là 100.548
người tốt nghiệp đại học 4 năm.
4.9% hay là 33.578
người tốt nghiệp cao học.
Trên đây là con
số thống kê đến năm 2000 và chỉ riêng tại Hoa Kỳ mà thôi.
Nhưng những năm sau năm 2000, số tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại
tốt nghiệp bậc đại học ngày càng nhiều thêm, và nay là
năm 2006, số lượng đó có thể tin được là trên dưới
230.000 trí thức. Và nếu cộng thêm tuổi trẻ tại các quê
hương thứ hai ngoài Hoa Kỳ, thì Cộng Ðồng Việt Nam chúng
ta trên khắp thế giới cũng đến con số 300.000 trí thức.
Cũng có thể chúng
ta ước tính trên căn bản gia đình chăng? Theo đó, cứ trung
bình mỗi gia đình có 1 người tốt nghiệp đại học, thì
293.621 gia đình chúng ta từ 3 người trở lên tại Hoa Kỳ
có 293.621 trí thức. Nếu phỏng tính theo cách này thì Cộng
Ðồng Việt Nam trên khắp thế giới, có thể có trên 350.000
trí thức.
- Về kinh tế.
Có 97.784 cơ sở kinh doanh thương mãi và dịch vụ do Việt
Nam làm chủ, với doanh thu hằng năm là 6.768.000.000 mỹ kim
(6 tỷ 768 triệu). Nếu tính riêng những cỡ sở kinh doanh thương
mại và dịch vụ có thuê nhân công, thì có 18.948 cơ sở với
số công nhân là 79.035 người, và tiền lương phải trả hằng
năm là 1.165.000.000 mỹ kim (1 tỷ 165 triệu).
- Về lợi tức
của 293.621 gia đình hằng năm, ước tính khoảng 18.641.000.000
(18 tỷ 641 triệu) mỹ kim, bao gồm:
27.4% hay là 89.452
gia đình có lợi tức dưới 25.000 mỹ kim. Nếu chấp nhận
trung bình 20.000 mỹ kim, thì 89.452 gia đình có lợi tức chung
là 1 tỷ 789 triệu.
27.2% hay là 79.864
gia đình có lợi tức từ 25.000 đến dưới 50.000 MK. Nếu
chấp nhận trung bình 35.000 mỹ kim, thì 79.864 gia đình có lợi
tức chung là 2 tỷ 795 triệu.
31.3% hay là 91.903
gia đình có lợi tức từ 50.000 đến dưới 100.000 MK. Nếu
chấp nhận trung bình 75.000 MK, thì 91.903 gia đình có lợi tức
chung là 6 tỷ 892 triệu.
12.3% hay là 36.115
gia đình có lợi tức từ 100.000 đến dưới 200.00 MK. Nếu
chấp nhận trung bình 150.000 MK, thì 36.115 gia đình có lợi
tức chung là 5 tỷ 417 triệu.
1.8% hay là 5.825
gia đình có lợi tức từ 200.000 MK trở lên. Nếu chấp nhận
trung bình 300.000 MK, thì 5.825 gia đình có lợi tức chung là
1 tỷ 747 triệu MK.
Trên đây chỉ ước
tính 80.5% trong tổng số 1.122.528 người sống trong 293.621 đơn
vị gia cư từ 3 người trở lên, như vậy còn lại 19.5% hay
là 218.892 người sống trong chung cư hoặc trong những căn phòng
hay thuê phòng trong những nhà riêng, tạm gọi là "tiểu gia
cư" một người hay hai người. Nếu sử dụng lợi tức tối
thiểu "đầu người hằng năm" ngang bằng số trợ cấp an
sinh xã hội 500 mỹ kim/tháng của chánh phủ liên bang, chúng
ta có lợi tức chung của 218.892 người là 1 tỷ 313 triệu
mỹ kim
Một cách tổng
quát, nếu chúng ta gộp chung lại doanh thu của cơ sở kinh
doanh thương mãi dịch (6 tỷ 768 triệu) với lợi tức chung
của gần 300 ngàn gia đình, thì lợi tức của Cộng Ðồng
Việt Nam chúng ta tại Hoa Kỳ trong năm 2000 vào khoảng 26 tỷ
mỹ kim (tính theo số tròn).
Trên đây chỉ mới
ước tính tổng lợi tức của Cộng Ðồng Việt Nam tại Hoa
Kỳ. Từ ước tính này, ước tính một cách tổng quát về
tổng lợi tức của Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại trong
năm 2004 có thể từ 30 đến 35 tỷ mỹ kim, là trong khả năng
có thể có của Cộng Ðồng chúng ta. Bởi, chánh phủ cộng
sản Việt Nam công bố con số 3 tỷ mỹ kim -khoảng 10% của
tổng lợi tức- do Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại gởi về
Việt Nam trong năm 2004 giúp thân nhân thân quyến, từ đó dễ
dàng chấp nhận con số tổng lợi tức ước tính nói trên./.
Houston, tháng 4 năm
2005
Bổ túc tháng 8
năm 2006
Phạm Bá Hoa
(khóa 5)
|