| Ngày
26 tháng 3 năm 2004, Bộ Chính Trị, tức nhóm lãnh đạo cộng
sản Việt Nam đã ban hành nghị quyết số 36, qui định một
chính sách toàn diện về Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Hải
Ngoại mà họ gọi là những người Việt Nam ở nước ngoài.
Đọc
qua nghị quyết này, dể dàng nhận thấy nó là một văn kiện
mà phần lớn là hệ thống hóa những qui định đã ban hành
những năm trước đó, cộng với một số điểm mới. Điều
đặc biệt là lãnh đạo cộng sản Việt Nam, đã nâng tầm
quan trọng của quốc sách Kiều Vận lên cao hơn lúc nào hết.
Không còn đóng khung trong những tổ chức có trách nhiệm vận
động người Việt Nam ở nước ngoài như trước đây nữa,
mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đặt trách nhiệm lên vai
toàn bộ hệ thống chính trị, toàn bộ các tổ chức đảng,
các tổ chức nhà nước, mặt trận tổ quốc, các ngành các
cấp từ trung ương đến địa phương, và các đoàn thể nhân
dân, từ trong nước ra đến ngoài hải ngoại. Họ kêu gọi
toàn dân phải coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Rõ ràng là lãnh đạo cộng
sản Việt Nam, chánh thức chỉ huy cuộc tổng tấn công vào
Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại chúng ta, bằng cách huy động
toàn đảng, toàn nhà nước, và toàn dân, nói chung là toàn
xã hội, tức 80 triệu người trong nước vói tay ra khỏi biên
giới mà tấn công vào Cộng Đồng 3 triệu người tị nạn
hải ngoại. Phải chăng nhóm đỉnh cao tri tuệ tưởng như
họ đang ở vào đầu tháng 3 năm 1975 với cái gọi là chiến
dịch tổng tấn công mùa xuân của họ tấn công Việt Nam
Cộng Hòa chúng ta hay sao ấy?
Nghị
Quyết 36 hệ thống hóa những văn kiện và những tổ chức
sau đây về Kiều vận:
Một
là, Quyết định của Thủ Tướng cộng sản Việt Nam Phan
Văn Khải ký ngày 27 tháng 10 năm 1999, về một số chính sách
đối với người Việt Nam ở Nước Ngoài, đã được xếp
vào mặt trận văn hoá. Năm sau đó, được bổ túc bởi một
Quyết định nữa.
Hai
là, Ủy Ban Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, do
Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đình Bin làm Chủ Nhiệm. Nay
thì Nguyễn Đình Bin đã rời khỏi chức Thứ Trưởng Ngoại
Giao, và Nguyễn Phú Bình thay thế.
Ba
là, Ủy ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người
Việt Nam Ở Nước Ngoài, do tiến sĩ Nguyễn Văn Đạo, Giám
đốc trường đại học tổng hợp Hà Nội làm Chủ Nhiệm.
Nhiệm vụ của Ủy Ban này là vận động thành lập ít nhất
là một Hội tại mỗi thành phố lớn cũng như tại mỗi tỉnh
có thân nhân của chúng ta cư ngụ, để dùng thân nhân chúng
ta áp lực chúng ta, làm thay họ về những công tác văn hoá
xã hội mà lẽ ra họ phải phục vụ người dân.
Và
bốn là, Quỹ Hỗ Trợ Vận Động Người Việt Nam Ở Nước
Ngoài, ra mắt giữa tháng 4 năm 2003, với ngân khoản đầu
tiên là 7.000 tỷ đồng Việt Nam, tương đương với 450 ngàn
mỹ kim tính theo hối suất lúc ấy. Theo lời của ông Nguyễn
Đình Bin trong ngày ra mắt tại Bộ Ngoại Giao hồi tháng 4
năm 2003, thì Quỹ này tài trợ cho 8 mục tiêu mục tiêu của
Quỹ đánh phá Cộng Đồng chúng ta mà họ gọi là giúp đỡ
những người Việt Nam ở nước ngoài, để nắm quyền khống
chế cai trị chúng ta như họ đang cai trị 83 triệu dân trong
nước, mà người viết đã mổ xẻ trong loạt bài Quỹ Hỗ
Trợ Cộng Đồng. Và 8 mục tiêu này gần như nằm trọn trong
nội dung nghị quyết 36 mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã
ban hành.
Quốc
sách Kiều Vận của lãnh đạo cộng sản Việt Nam đối với
Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
mà họ gọi chúng ta là những người Việt Nam ở nước ngoài.
Họ không xem chúng ta là một Cộng Đồng trên thế giới,
mà họ cố tình đặt chúng ta vào cái thế những cá nhân
riêng rẻ, ám chỉ chúng ta là những cá nhân di dân kinh tế
chớ không có lý tưởng chính trị gì cả. Với nghị quyết
36, lãnh đạo cộng sản Việt Nam chánh thức mở cuộc tổng
tấn công vào Cộng Đồng tị nạn hải ngoại bằng tất cả
khả năng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Mời
quí vị vào những điểm căn bản của nghị quyết 36 trước
khi vạch rõ những mục tiêu họ tấn công chúng ta, mà họ
gọi là những nhiệm vụ chủ yếu.
Điểm
căn bản thứ nhất. Người Việt Nam ở nước ngoài là
bộ phận không tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng
dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường
quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước.
Quí
vị có thấy sự trơ trẽn của nhóm lãnh đạo cộng sản
Việt Nam đến mức không thể tưởng tượng không? Vì họ
thừa biết là mọi người Việt Nam nhất là người Việt
Nam trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại, không thể nào
quên thời kỳ 10 năm đầu kể từ năm 1975, khi mà những công
dân Việt Nam Cộng Hòa cũ không thể sống nỗi sự kềm kẹp
chính trị trong khi tài sản bị họ cướp đoạt trắng trợn,
nên đành phải vượt biên vượt biển đì tìm cuộc sống
tự do với cái giá phải chấp nhận ở mức độ hiểm nguy
rất cao do bị họ bắt bỏ tù, do bị mất xác trong rừng
hay trên biển, trong khi hy vọng vượt thoát đến bến bờ
tự do thật là mong manh! Lúc ấy, họ gọi chúng ta là bọn
ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc, bọn đĩ điếm lưu
manh rác rưởi, bọn ôm chân đế quốc. Họ sử dụng tất
cả những chữ nghĩa nào mà chửi rủa được là họ mang
ra sử dụng để sỉ vả chúng ta là bọn này bọn kia. Nguyễn
Thượng Nhân, Bộ Trưởng Y Tế của cộng sản, còn hô hào
cổ võ cái quan điểm của ông ta là đem hết cái bọn đó
ra mà treo cổ! Không biết bây giờ cái ông Nguyễn Thượng
Nhân đó có nhận ra bản thân ông thuộc cái bọn gì không
nhỉ? Bọn tham nhũng, bọn dâng đất dâng biển cho ngoại bang,
hay bọn gì đó trong cái xã hội mới con người mới xã hội
chủ nghĩa?
Cũng
không thể nào quên 10 năm kế tiếp kể từ năm 1985, khi
họ thấy Cộng Đồng chúng ta ổn định cuộc sống, từng
bước hội nhập vào các lãnh vực sinh hoạt trong các xã hội
kỹ nghệ tân tiến, và gởi tiền về quê hương giúp đỡ
thân nhân thân quyến, lãnh đạo cộng sản Việt Nam hạ giọng
gọi chúng ta là Việt Kiều yêu nước. Mà yêu nước theo ngữ
nghĩa của chế độ cộng sản là gắn liền với yêu xã hội
chủ nghĩa. Chữ với nghĩa này không phải tự tôi chế ra
đâu, mà lãnh đạo cộng sản Việt nam cũng như các phương
tiện truyền thông quốc doanh của họ sử dụng đó.
Và
cũng không thể nào quên là từ năm 1996, khi thấy Cộng Đồng
chúng ta đứng vững tại các quốc gia định cư, khối lượng
tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại tốt nghiệp từ các nền giáo
dục khoa học kỹ thuật tân tiến, nhất là tại Hoa Kỳ ngày
càng đông đảo, và thật sự có mặt trong các cơ quan lập
pháp, hành pháp, và tư pháp tại các quốc gia định cư. Về
khối tài chánh trong Cộng Đồng mà điển hình là số tiền
gởi về giúp thân nhân trên quê hương Việt Nam lên đến
gần 3 tỷ mỹ kim, lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại hạ
giọng thấp xuống nữa để gọi Cộng Đồng chúng ta là khúc
ruột ly hương ngàn dặm. Cũng nhờ khối mỹ kim nhỏ nhoi đó
từ Cộng Đồng tị nạn cộng sản mà lãnh đạo đảng với
lãnh đạo nhà nước cộng sản Việt Nam, có khối tài sản
hằng chục hằng trăm triệu mỹ kim, đã rửa khối tiền dơ
bẩn của họ sạch sẽ trước khi đổ vào các ngân hàng tại
ngoại quốc.
Giờ
đây, năm 2004, lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhận thấy Cộng
Đồng tị nạn chúng ta phát triển mạnh mẽ, đã tạo được
vị trí vững chắc trên các quê hương thứ hai, mà Cộng Đồng
quan trọng hơn hết là tại hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Theo
thống kê năm 2000 thì dân số toàn liên bang Hoa Kỳ là 281
triệu, trong số đó, cộng đồng Việt Nam là 1.122.528 người,
chiếm 0.4%. Nếu tính bình quân một gia đình Việt Nam chúng
ta có 5 người thì ta có 224.000 gia đình, và cứ cho là mỗi
gia đình chỉ một người tốt nghiệp đại học thì ta có
ngay con số 224.000 trí thức, cộng với các cộng đồng ở
Châu Âu, Canada, và Châu Úc, chúng ta dễ dàng có 300.000 trí
thức tốt nghiệp tại các quốc gia có nền giáo dục khoa
học kỹ thuật tân tiến trên thế giới. Đây là khối nhân
lực quí giá hiện nay, đang góp phần phát triển tại các
quê hương thứ hai bằng tất cả tài năng và kinh nghiệm,
sẽ là nỗ lực chính trong mục tiêu nâng và đẩy nước Việt
Nam dân chủ tự do cất cánh vào ngày mai.
Nhóm
lãnh đạo cộng sản Việt Nam, rất thèm muốn khối tài nguyên
nhân lực quí giá này, cộng với sự thèm muốn khối tài
chánh trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta, một Cộng Đồng
mà họ từng lớn tiếng rộng miệng mạt sát chúng ta là lưu
manh đĩ điếm. Khối tài chánh trong Cộng Đồng chúng ta, tuy
chưa đủ lớn để so với cộng đồng Do Thái hay cộng đồng
Trung Hoa, nhưng tin chắc là đủ lớn để họ lấp vào lỗ
hổng tài chánh mà các nhà đầu tư ngoại quốc đang rút dần
ra khỏi nền kinh tế phát triển ngập ngừng và khập khễnh
của Việt Nam.
Thế
là con quái vật cộng sản Việt Nam đang vào vị trí cuối
chu kỳ sống, bỗng dưng họ tưởng như ôm chầm lấy Cộng
Đồng chúng ta qua nghị quyết 36. Không biết là họ có hôn
lấy hôn để sau khi ôm chúng ta hay không, nhưng rõ ràng là
họ rạp mình xuống để gọi chúng ta là bộ phận không
tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp
tác hữu nghị giữa nước ta với các nước. Họ cũng
cố tình không hay không biết là đa số chúng ta đã trở thành
công dân bản xứ, chớ có phải là công dân của cái chế
độ nghe đến tên là muốn . . . ấy đâu mà họ coi chúng
ta như là công dân của họ.
Cũng
xin nói thêm rằng, ngay trong phần 1 của nghị quyết, lãnh
đạo cộng sản Việt Nam nói về cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài, ngoài thành phần tị nạn chúng ta hay nói
cho chính xác là thành phần công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ,
còn có hằng trăm ngàn công dân của họ đã ra ngoại quốc
lao động, học tập, và tu nghiệp. Rõ ràng là họ cố tình
gán ghép thành phần đó vào Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta,
vì thật ra những người trong thành phần này chỉ hợp lệ
tại ngoại quốc khi mà sổ thông hành của họ còn giá trị,
có nghĩa là tạm thời, nên không thể xem là một thành phần
trong Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta được.
Về
nhóm chữ họ coi chúng ta là nhân tố quan trọng góp phần
tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với các quốc gia khác.
Đúng là Cộng Đồng chúng ta có khả năng trong những cuộc
vận động chính trị tại các quốc gia định cư, nhất là
Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Úc, Gia Nã Đại, nhưng là để góp
phần tấn công họ trong lãnh vực nhân quyền, và từ nhân
quyền ảnh hưởng sang những lãnh vực khác trong mục tiêu
chung là góp phần vào công cuộc dân chủ hoá chế độ chính
trị tại Việt Nam, chớ chúng ta không sử dụng khả năng
đó để hùa theo những chính sách đàn áp bắt bớ đồng
bào, những dối trá tráo trở lật lọng của chế độ độc
tài trong những chính sách cai trị đồng bào. Với lại hùa
theo họ là mang tội với quốc gia, dân tộc, và mang tội với
gia đình nữa. Chúng ta chờ đợi những hành động công khai
của họ tại hải ngoại, chúng ta sẽ vận dụng tất cả
khả năng chính trị của mình để ảnh hưởng những chính
sách của chánh quyền bản xứ đối với lãnh đạo nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Gậy ông sẽ đập lưng
ông mà.
Điểm
căn bản thứ hai. Công tác đối với người Việt Nam ở
nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính
trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, và
các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương
đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn
dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Thưa
quí vị, với những tháng đầu năm 2004 này, nghị quyết 36
là một văn kiện phơi bày mục tiêu của lãnh đạo cộng
sản Việt Nam, là xua toàn bộ phương tiện từ nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mở cuộc tổng tấn công
vào Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản trên khắp thế
giới, mà trọng tâm của họ chắc chắn là Cộng Đồng tị
nạn tại Hoa Kỳ. Trận chiến này chẳng khác những tháng
đầu năm 1975, khi họ xua phần lớn quân chính qui từ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, vượt vĩ tuyến 17 tràn xuống
tổng tấn công đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vậy.
Họ
đã thật sự nâng tầm quan trọng của quốc sách Kiều Vận
lên cao hơn lúc nào hết. Họ không còn đóng khung trong những
tổ chức có trách nhiệm vận động người Việt Nam ở nước
ngoài như trước đây nữa, mà lãnh đạo cộng sản Việt
Nam đặt trách nhiệm lên vai toàn bộ hệ thống chính trị,
toàn bộ các tổ chức đảng, các tổ chức nhà nước, mặt
trận tổ quốc, các ngành các cấp từ trung ương đến địa
phương, và các đoàn thể nhân dân, từ trong nước ra đến
ngoài hải ngoại. Họ kêu gọi toàn dân phải coi đây là một
nhiệm vụ quan trọng, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Chính xác là lãnh đạo cộng sản Việt Nam, chánh thức chỉ
huy cuộc tổng tấn công vào Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại
chúng ta.
Quí
vị có thấy chữ và nghĩa của lãnh đạo cộng sản Việt
Nam dùng không? Theo chữ nghĩa của họ, nếu chúng ta hiểu
theo nhận định của bác sĩ Fred C. Schwarz đã nói ờ đầu
bài, thì chúng ta hiểu là họ ra lệnh cho toàn dân trong nước,
phải coi cuộc tổng tấn công Cộng Đồng tị nạn hải ngoại
là hành động đem lại sự đoàn kết toàn dân tộc để
xây dựng và bảo vệ đất nước! Cũng từ trong nghị quyết
36, theo cách hiểu của người viết bài này thì chính sách
của họ về sự ổn định tình hình trong nước là đặt
trên căn bản lưỡi lê với nòng súng. Điều này hẳn là
quí vị đã rõ. Còn đối với sự ổn định Cộng Đồng
tị nạn hải ngoại theo chữ nghĩa của họ, thì họ đặt
trên căn bản đồng tiền và lợi dụng văn hoá.
Tôi
suy đoán là họ sẽ đặt cho những cá nhân, những tổ chức
kể cả những tổ chức thiện nguyện, những công tác kể
cả những công tác thiện nguyện, nói chung là những gì do
chúng dàn dựng lên ngay trong sinh hoạt của Cộng Đồng chúng
ta, bằng những cái tên nghe thật đậm đà tình tự quê hương,
nghe thân thương tha thiết, thậm chí rất nhân đạo phước
đức, trong mục đích tạo xúc động mạnh ở những vị nhiều
lòng nhân nhưng ít chịu suy xét là mình đang làm việc thiện,
hay mình đang bị nhóm lãnh đạo cộng sản lợi dụng, hay
có thể là mình vô tình làm lợi cho họ? Suy đoán là họ
sẽ dùng tiền mua chuộc một cách kín đáo đến mức có thể
người nhận tiền và làm công tác cho họ cũng không nghĩ
đến là mình đã lọt vào bẩy của cộng sản. Bài bản này
của cộng sản xưa cũ lắm rồi, nhưng khổ nỗi là bà con
dễ quên lắm.
Nhân
nói đến cái bẩy của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, xin
dẫn chứng cái bẩy mới nhất mà họ áp dụng phải nói là
thành công. Đó là ngày 12 tháng 6 vừa qua (2004), họ công bố
lệnh thả tù nhân lương tâm Lê Chí Quang trước thời hạn
2 năm. Cũng trong ngày đó, họ công bố lệnh giảm án cho linh
mục Nguyễn Văn Lý xuống còn 5 năm. Thả tù hay giảm án tù,
có gì mà phải công bố cho 80 triệu dân trong nước và thế
giới biết tin? Với lại theo đúng Hiến pháp cũng như luật
pháp của họ thì hai vị ấy không phạm tội gì cả, vậy
mà cứ bỏ tù để khi thả ra sớm một chút là thiên hạ
hoan hô họ. Điển hình là hầu hết các chương trình phát
thanh Việt ngữ của đài BBC, RFI, RFA, hay VOA, cùng các tổ
chức theo dõi nhân quyền, đều cho là lãnh đạo cộng sản
Việt Nam tỏ thiện chí tốt. Thật ra đó chẳng qua là cái
bẩy hay là cái kế của họ cuốn hút các cơ quan truyền thông
vào đó để rồi ngày 15 tháng 6, tức 2 ngày sau đó, cái Quốc
Hội bù nhìn của họ đã phê chuẩn Hiệp Định chánh thức
hoá cho họ được dâng cho cộng sản Trung Hoa hơn 10.000 cây
số vuông trong vịnh Bắc Việt, nhưng không thấy cơ quan truyền
thông nào nói đến hành động ghê tởm này của họ cả.
Vậy là trúng kế của lãnh đạo cộng sản Việt Nam rồi.
Điểm
căn bản thứ ba là Công tác đối với người Việt Nam
ở nước ngoài, cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây
dựng cơ chế chính sách với công tác vận động, kết hợp
các hoạt động trong nước với các hoạt động ở ngoài
nước, và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình
hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và
địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp
luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.
Họ
làm như là họ đang ôm chúng ta vào cái chế độ ghê tởm
của họ, thế là họ liền huy động toàn bộ hệ thống chính
trị, các ngành, hình thành các tổ chức ngay trong Cộng Đồng
tị nạn chúng ta, rồi kết hợp tất cả hoạt động từ
trong nước ra đến hải ngoại, vận dụng các phương thức
hoạt động và áp dụng các biện pháp thưởng phạt theo từng
cá nhân từng tổ chức. Những ai hoạt động cho họ hay hùa
theo họ, họ đều cài vào cái thế tự nguyện, nhưng chỉ
thị của lãnh đạo cộng sản Việt Nam cho đàn em lẫn tay
sai của họ là cố tránh vi phạm luật pháp và tập quán các
quốc gia bản xứ. Nếu đàn em hay tay sai của họ phạm pháp,
cầm chắc là phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao của họ lên tiếng
chối bai bải là những người đó không liên quan gì đến
nhà nước nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cả.
Bài bản của họ là như vậy mà.
Một
điều rất quan trọng là đa số bà con trong Cộng Đồng Tị
Nạn chúng ta, ngày nay trở thành công dân Hoa Kỳ cũng như
công dân của các quốc gia sở tại khác. Khi mà lãnh đạo
cộng sản Việt Nam xâm phạm đến quyền tự do căn bản của
chúng ta, chính là họ vi phạm luật pháp Hoa Kỳ cũng như luật
pháp các quốc gia bản xứ khác. Trong trường hợp này, tôi
có gặp anh Nguyễn Hữu Luyện tại Houston vào giữa tháng 6
vừa qua (2004), anh có gợi ý là chúng ta có thể kiện họ
ra tòa khi quyền tự do của chúng ta bị họ xâm phạm dù chỉ
là xâm phạm trên văn bản. Tôi nghĩ, đây là vấn đề lớn,
cần có những bước thật thận trọng nếu chúng ta thấy
cần viện dẫn đến pháp luật. Thận trọng từ dịch bản
nghị quyết sang Anh ngữ với sự xác nhận của Bộ Ngoại
Giao cộng sản Việt Nam, đến những luật sư nghiên cứu nội
dung trước khi thảo luận kế hoạch đưa ra tòa án.
Thưa
quí vị, bây giờ xin đi sâu vào phần 3 của nghị quyết 36,
bao gồm nhiều mục tiêu trong cuộc tổng tấn công Cộng
Đồng tị nạn chúng ta, mà họ gọi là những nhiệm vụ chủ
yếu. Người viết mở cuộc tổng phản công vào từng
nhiệm vụ chủ yếu của họ, với những phân tách và dẫn
chứng về miệng lưỡi của lãnh đạo cộng sản Việt Nam
lúc nào cũng vo tròn bóp méo, tráo trở lật lọng, dối trá
ngang ngược, chẳng có lời nào chân thật cả, dẫn chứng
về những hành động mà họ đã sử dụng để đánh phá
triệt hạ những tổ chức trong Cộng Đồng tị nạn, trong
mục tiêu cuối cùng là họ cai trị chúng ta ngay trên các quê
hương thứ hai của chúng ta.
Thứ
nhất. Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ
trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh
sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng
thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương đất nước.
Xin
phân tách từng vế một.
Hỗ
trợ ổn định cuộc sống. Nhưng thế nào là ổn định?
Phải chăng hỗ trợ ổn định là những công dân Hoa Kỳ,
công dân Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật, ..v..v.. gốc Việt Nam,
chỉ được suy nghĩ theo lãnh đạo, nói theo lãnh đạo, và
làm theo lãnh đạo cộng sản Việt Nam không? Sử dụng internet
cũng phải xin phép hay sao đây? Nay thì tòa lãnh sự gọi làm
việc, mai thì tòa đại sứ gọi làm việc phải không? Rồi
giải tán hết các Hội đoàn, các tổ chức, giải tán luôn
các tôn giáo, để 'đỉnh cao trí tuệ' đứng ra tổ chức
giùm những thứ quốc doanh hải ngoại phải không?
Xin
lỗi đỉnh cao trí tuệ với những bằng cấp loại nâng đỡ,
trí tuệ theo kiểu chỉ có ở Việt Nam cộng sản là 1 năm
có bằng trung học, 2 năm có bằng đại học. Trí tuệ kiểu
đó mà thò tay vào Cộng Đồng tị nạn chúng tôi là ra tòa
dễ như chơi đấy nhé! Sao trí tuệ mà không hiểu gì hết
vậy, đụng đến công dân bản xứ là vi phạm pháp luật
của các xã hội dân chủ pháp trị nghe chưa.
Tại
sao từ 29 năm trước, hay 19 năm trước, thậm chí là 9 năm
trước, không thấy lãnh đạo cộng sản Việt Nam hỗ trợ
cho Cộng Đồng tị nạn mà toàn chửi rủa nhục mạ, bây
giờ lại bỗng dưng tỏ ra thương yêu đến thế? Lãnh đạo
cộng sản Việt Nam muốn gì đây?
Cần
nhân tài lắm hả? Xin giới thiệu là Cộng Đồng tị nạn
chúng tôi dễ dàng và ít nhất là có đến 300.000 trí thức
hải ngoại. Theo thống kê năm 2000 thì toàn nước Mỹ là 281
triệu người. Trong số đó, cộng đồng Việt Nam là 1.122.528
người, chiếm 0.4%. Nếu tính bình quân một gia đình 5 người
thì Cộng Đồng tị nạn chúng tôi có 224.000 gia đình, và
cứ cho là mỗi gia đình chỉ có một người tốt nghiệp đại
học thì chúng tôi có ngay con số 224.000 trí thức, cộng với
các cộng đồng ở Châu Âu, Canada, và Châu Úc, chúng tôi dễ
dàng có 300.000 trí thức tốt nghiệp tại các quốc gia có
nền khoa học kỹ thuật tân tiến. Còn nếu chấp nhận cứ
hai gia đình có 3 người tốt nghiệp đại học thì riêng tại
Hoa Kỳ con số trí thức sẽ là 336.000 người, và Cộng Đồng
tị nạn hải ngoại từng bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam
nhục mạ chửi rủa, dễ dàng có con số 500.000 trí thức.
Đây chính là khối tài nguyên quí giá hôm nay, sẽ là nỗ
lực chính, cùng với tuổi trẻ trong nước, thực hiện mục
tiêu nâng và đẩy nước Việt Nam dân chủ tự do cất cánh
vào ngày mai, ngày mà chế độ độc tài tàn lụi, sụp đổ.
Các ông đỉnh cao trí tuệ thèm lắm phải không? Thèm để
giúp cho đảng có lý do tồn tại, giúp cho lãnh đạo các cấp
của các ông giàu thêm, chớ không phải thèm để giúp phát
triển đất nước đâu. Hay nói cho đúng, phát triển đất
nước chỉ là mục tiêu phụ của các ông trong khi mục tiêu
chính là sự tồn tại của các ông thôi.
Cần
nguồn tài chánh của Cộng Đồng tị nạn vì đầu tư ngoại
quốc giảm mạnh phải không? Theo bản tin đài BBC ngày
2 tháng 4 năm 2004, hội nghị về Đầu Tư Ngoại Quốc đã
tổ chức tại Hà Nội vào những ngày cuối tháng 3/2004. Hội
nghị này qui tụ nhiều Bộ nhiều Ngành, cùng với nhiều cấp
lãnh đạo nhà nước. Mục đích là thảo luận tìm nguyên
nhân của sự sút giảm đầu tư, và tìm biện pháp sửa chữa
để nguồn đầu tư ngoại quốc gia tăng trở lại. Các đại
biểu tham dự hội nghị rất lo ngại về tình trạng thiếu
hấp dẫn của môi trường đầu tư đang ngày càng suy giảm,
mà nguyên nhân trước mắt trông thấy là do qui hoạch thiếu
tính toán, và luật pháp vẫn gây nhiều trở ngại cho các
doanh gia ngoại quốc.
Với
những con số thống kê công bố chánh thức trong hội nghị,
cho thấy vốn đầu tư ngoại quốc chưa thật sự đổ vào
các ngành có kỹ thuật cao, mà chỉ quanh quẩn trong các ngành
sản xuất những mặt hàng thông dụng. Điều này cho thấy
là môi trường hấp dẫn của Việt Nam hãy còn non kém trong
mục tiêu thu hút các đại công ty cũng như các công ty xuyên
quốc gia từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, vì hầu như chưa có những
công ty hay đại công ty kỹ thuật cao đổ vốn vào Việt Nam.
Hội
nghị cũng thừa nhận là những dự án lớn chưa có, nhưng
ngay những dự án nhỏ đăng ký rồi thì đa số là hoạt động
kém hiệu quả, hoặc triển khai chậm, hoặc bị rút giấy
phép trường hợp như tại Sài Gòn, trong năm 2003 có khoảng
80% số dự án đăng ký đã bị giải thể hoặc rút giấy
phép. Trường hợp này tại Hà Nội thì thấp hơn, nhưng cũng
chiếm đến 30% trong tổng số đăng ký trong cùng năm 2003.
Do vậy mà tâm lý các nhà đầu tư ngoại quốc, khi từ xa
nhìn vào cứ tưởng Việt Nam là một thị trường béo bở,
nhưng khi bắt tay vào việc thì họ gặp nhiều phiền phức
hơn là họ nghĩ. Nhiệt tình ban đầu do vậy mà nguội lạnh
nhanh chóng.
Theo
những nhà đầu tư ngoại quốc dự họp, thì tình hình đầu
tư ngoại quốc hiện nay tại Việt Nam xấu hơn nhiều so với
những năm 90. Ông Vũ Khoan, Phó Thủ Tướng Việt Nam cũng cho
rằng: 'sự quy hoạch của Việt Nam còn khập khễnh, nặng
tính bảo hộ, và trong thực tế hầu như loại trừ vốn đầu
tư nước ngoài trong các lãnh vực như điện, xi măng, sắt
thép, trong khi những ngành này rất cần vốn và kỹ thuật
ngoại quốc'.
Nhân
quyền bị phê phán dữ dội phải không? Bây giờ tìm kế
cuốn hút mọi dư luận vào cái nghị quyết này để có được
chút thời gian yên tỉnh hả? Lê Chí Quang cũng như linh mục
Nguyễn Văn Lý chẳng vi phạm tội gì trong Hiến Pháp cũng
như luật pháp, nhà nước vẫn cứ bắt, tòa án vâng lệnh
đảng vẫn cứ tuyên án, nay ra cái điều thả sớm hay giảm
án rồi hô hào nhà nước nhân đạo để thu hút các cơ
quan truyền thông vào đấy, để rồi hai ngày sau khi tự khen
là nhà nước nhân đạo thì Quốc Hội phê chuẩn hiệp ước
tặng không cho đàn anh cộng sản Trung Hoa hơn 10.000 cây số
vuông của vịnh Bắc Việt. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam
có muốn thế giới khen về tiến bộ trong hồ sơ nhân quyền
không? Dễ lắm. Bước đầu, cứ áp dụng đúng nội dung bản
Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, rồi
từng bước tiếp theo, với sự đóng góp của các luật gia
trong Cộng Đồng tị nạn hải ngoại để xây dựng một hệ
thống luật pháp thích hợp giữa văn hoá và hoàn cảnh đất
nước, với hệ thống luật pháp mà thế giới văn minh và
Liên Hiệp Quốc áp dụng. Thế là được cộng đồng thế
giới và cả Cộng Đồng tị nạn hải ngoại khen ngay.
Giúp
Cộng Đồng tị nạn hải ngoại yên tâm làm ăn sinh sống
và hội nhập vào đời sống xã hội sở tại hả? Có
lầm lẫn với cộng đồng gốc xuất ngoại lao động và du
sinh tại các quốc gia cộng sản cũ không đây? Trong những
năm cuối thập niên 70 sau không giúp mà bây giờ lại giúp
vậy? Vì những năm đó Cộng Đồng tị nạn chân ướt chân
ráo tại các quốc gia định cư, còn bây giờ thì đời sống
quá vững vàng, đa số bà con trong Cộng Đồng tị nạn trở
thành công dân các quốc gia sở tại. Các ông đỉnh cao trí
tuệ coi chừng bị đưa ra tòa nếu như đụng đến quyền
tự do cá nhân của Cộng Đồng tị nạn chúng tôi đấy nhé,
đừng tưởng Cộng Đồng chúng tôi là những công dân trên
quê hương Việt Nam bị cái chế độ độc tài của các ông
bịt mắt bịt miệng bịt tai rồi Công An muốn làm gì thì
làm đâu nhé!
Giúp
Cộng Đồng tị nạn chúng tôi gắn bó với quê hương hả?
Sao nghị quyết 36 không cho một định nghĩa 'thế nào là gắn
bó' cho nó rõ nghĩa vậy. Phải chăng gắn bó là theo lệnh
đảng theo lệnh nhà nước, đưa trí thức và mang tài chánh
trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản độc tài về giúp cộng
sản độc tài làm giàu thêm phải không?
Luận
điệu này độc lắm nghe bà con. Bà con mà gắn bó kiểu này
thì toàn bộ hệ thống tuyên truyền của họ suốt ngày suốt
tháng oang oang lên rằng, đảng với nhà nước nước Cộng
Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam khoan hồng cho cái bọn ngụy
quân ngụy quyền, cái bọn đĩ điếm lưu manh, cái bọn phản
quốc, như đã khoan hồng cho cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao
Kỳ được về thăm quê hương, được gắn bó với quê hương,
để chứng tỏ chế độ của họ là chế độ ưu việt, chế
độ bách chiến bách thắng như họ đã từng vênh cái miệng
của họ sau khi đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đấy.
Và như vậy, cái chế độ độc tài tàn bạo của họ, chẳng
những không có tội với quốc gia dân tộc dù họ giết chết
hằng chục triệu công dân Việt Nam để đạt mục đích chiến
lược cho cộng sản quốc tế, dù họ làm kiệt quệ tài nguyên
quốc gia, dù họ gây cảnh tương tàn trong cuộc chiến trải
dài bao thế hệ trong trang sử đầy máu và nước mắt trong
một giai đoạn lịch sử bi thương thù hận! Một cuộc chiến
không vì quyền lợi quốc gia dân tộc Việt Nam mà chỉ vì
quyền lợi của cộng sản quốc tế thôi.
Đến
nhiệm vụ thứ hai của họ là hoàn chỉnh và xây dựng
một hệ thống chính sách trọng dụng nhân tài, phát huy sự
đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển
đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối
với những chuyên gia trí thức người Việt Nam ở nước
ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn quản
lý và điều hành, chuyển giao công nghệ kỹ thuật cao cho
đất nước, góp phần phát triển nền văn hoá nghệ thuật
của nước nhà.
Thưa
quí vị, một đoạn trong phần nhận định của nghị quyết,
họ nói một cách trắng trợn rằng: 'nhiều người đã về
thăm gia đình, thăm quê hương, hợp tác kinh doanh, là xu hướng
chủ yếu của người Việt Nam ở nước ngoài. Còn những
người chưa về thăm đất nước nên chưa thấy những thành
tựu phát triển nên còn mặc cảm, còn thành kiến với chế
độ.' Họ còn nói cứ như thiệt rằng: 'nhu cầu giao lưu văn
hoá và giữ gìn tiếng Việt trong cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài là một nhu cầu rất lớn và trở nên bức
thiết, nhưng chưa được đáp ứng'.
Vấn
đề có thiệt không đây? Về Việt Nam là thăm thân nhân thân
quyến. Đó là một góc trong đạo nghĩa dân tộc một cách
tự nhiên mà, đừng tưởng cứ về thăm thân nhân là chấp
nhận trở thành công dân để chịu sự cai trị của bộ máy
nhà nước Việt Nam đâu nhé! Cái lối gán ghép này vẫn là
một thứ bài bản 'yêu tổ quốc là yêu chủ nghĩa xã hội
mà họ luôn gán ghép như vậy'. Không tin thì bộ máy Công
An thử kêu những người về Việt Nam nhưng chưa phải là
công dân ngoại quốc và những người là công dân ngoại quốc
gốc Việt Nam về thăm thân nhân, hù dọa và bảo họ ký giấy
trở về Việt Nam sống và làm việc, có ai chịu ký không.
Tương tự như vậy, Công An cứ gọi những người Việt Nam
hải ngoại về thăm thân nhân đến cơ quan Phường Xã, rồi
bảo những người đó ghi tên mua văn hoá phẩm xã hội chủ
nghĩa, thử xem có ai mua không? Nếu mua thì mua loại nào? Và
Công An theo dõi xem khi ra khỏi cơ quan họ liệng cái thứ văn
hoá lộn đầu, cái thứ ăn nói ngược ngạo ấy ở đâu!
Theo dõi là nghề của Công An mà, có gì khó khăn đâu.
Xin
được cung cấp vài thông tin về chính sách và hành động
mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam gọi là khoan hồng là nhân
đạo sau khi họ chiếm Việt Nam Cộng Hòa, để nhận
ra điều mà họ kêu gào 80 triệu dân trong nước, kêu gào
những người Việt Nam ở nước ngoài -nói theo ngôn ngữ của
họ- và kêu gào những quốc gia liên hệ đến sự sống còn
của họ, hãy để quá khứ lại sau lưng. Họ luôn kêu gào
như vậy bởi vì cái quá khứ sau lưng của họ ngập tràn
máu, nước mắt, đầy dẩy sự dã man tàn bạo, cái quá khứ
đầy xác người dân Việt trong nửa thế kỷ qua!
Trước
hết là cướp đoạt bằng cách đổi tiền. Bốn tháng
sau ngày chiếm Việt Nam Cộng Hòa, lãnh đạo cộng sản Việt
Nam mờ màn cho chính sách cướp đoạt tài sản của công dân
Việt Nam Cộng Hòa cũ bằng chính sách đổi tiền. Đổi tiền
mà gọi là cướp đoạt sao? Thoạt nghe tưởng như chuyện
đùa, nhưng quả đúng như vậy. Đổi tiền của lãnh đạo
cộng sản Việt Nam là một hành động cướp đoạt. Vì kế
hoạch đổi tiền được họ chuẩn bị hết sức bí mật
chẳng khác kế hoạch xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 tại sông
Bến Hải xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa vậy. Những nhân viên
ngân hàng bị giữ lại tại chổ để học tập, và hoàn toàn
cách ly với gia đình. Rồi ngày 18 tháng 9 năm 1975, một cơn
sấm sét giáng xuống đầu người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ
bằng cái lệnh đổi tiền, và rất giới hạn số tiền được
đổi. Do vậy mà số tiền còn lại giống như những tờ giấy
chẳng những vô dụng mà rất có thể bị khép vào tội tư
sản là khác. Đổi thì đổi hết tức là trao cho nhà nước
tất cả, nhưng chỉ được nhận lại một số tiền tượng
trưng khả dĩ đủ sống trong những ngày trước mắt. Phần
lớn số tiền còn lại thì nhà nước giữ, mỗi khi cần sử
dụng phải làm đơn kê khai nhu cầu với số tiền cần lấy,
phải có chứng nhận của chánh quyền địa phương, và quyết
định được lấy ra bao nhiêu là quyền của nhà nước chớ
không phải của người chủ những đồng tiền đó. Quí vị
có thấy là trên thế gian này có cái quốc gia văn minh nào
mà người dân phải làm đơn xin chánh quyền địa phương
để sử dụng tiền của mình không nhỉ?
Rồi cướp đoạt vàng khi người Việt gốc Hoa ghi danh
vượt biển. Theo tác giả Lê Tùng Minh trong bài 'Việt Nam SauTháng
Tư Đen, thì chánh phủ cộng sản cho phép các sở Công An địa
phương, tổ chức những chuyến vượt biển cho thành phần
người Việt gốc Trung Hoa để lấy vàng bổ sung cho ngân sách
nhà nước. Các Sở Công An nhất là tại các thành phố trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa cũ, áp dụng từ tháng 11 năm
1978. Chính sách này nhằm đẩy thành phần có nguồn gốc Trung
Hoa ra khỏi Việt Nam, mà không mang tiếng là trục xuất một
thành phần có thể là tai mắt của cộng sản Trung Hoa, vì
lúc ấy tình hình bang giao giữa cộng sản Việt Nam với cộng
sản Trung Hoa căng thẳng, do cộng sản Việt Nam đứng hẳn
về phía cộng sản Liên Xô. Chính sách này có hai cái lợi
cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam, vừa đẩy được một số
ngườì ra khỏi Việt Nam, vừa thu được 7 lạng vàng từ
mỗi người vượt biển trong chính sách này. Theo lời của
Đại Tá Trần Bình, Cục Trưởng Cục Công An, chỉ thị từ
trung ương thì thu 3 lạng vàng trên mỗi đầu người nhưng
thực tế các Sở Công An thu mỗi người ghi danh vượt biển
đến 7 lạng vàng. Như vậy, từ năm 1978 đến 1972, họ thu
được khoảng 700.000 lạng vàng. Vàng thì họ thu khi ghi danh
tại các Sở Công An, còn bao nhiêu người thật sự thoát khỏi
Việt Nam sau khi nạp vàng cho họ thì không ai biết được,
vì có rất nhiều chuyến tàu chở người ghi danh vượt biển
kiểu này, khi chưa ra đến hải phận quốc tế thì họ viện
dẫn tàu trục trặc hay sẽ có giông gió bão tố gì đó, thế
là họ quay vào và mọi việc xem như chấm dứt việc ra đi
nhưng vàng thì không một ai được trả lại, cũng không một
lời nào được công bố cho mọi người biết. Nhưng 700 ngàn
lạng vàng mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thu góp, có thật
sự vào ngân sách nhà nước hay vào túi riêng của những người
liên hệ và những người quyền thế, chỉ có họ với Trời
mới biết thôi.
Đến
tội
ác trong chính sách cải tạo. Ngay từ ngày 30 tháng 4 năm
1975, khi quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa chiếm trọn phần đất từ vĩ tuyến 17 trở xuống vùng
Cực Nam tổ quốc, lãnh đạo cộng sản Việt Nam sử dụng
chính sách 'tập trung cải tạo' đối với quân nhân viên chức
của Việt Nam Cộng Hòa vừa sụp đổ, mà họ gắn cho cái
tên đầy miệt thị là ngụy quân ngụy quyền, nhưng về phía
họ thì họ gọi là khoan hồng nhân đạo. Thật sự cho đến
nay là năm 2004, chưa thấy một tài liệu nào nói về con số
chính xác bị họ bắt nhốt trong khoảng 200 trại tù trên
toàn cõi Việt Nam. Trong con số 200 này thì chỉ riêng Đoàn
776 của họ có đến 82 trại tù mang ám số từ AH1 đến AH
82, trực thuộc 6 Liên Trại rải rác trong vùng rừng núi Tây
Bắc Hà Nội
Chỉ
biết là vào cuối tháng 6 năm 1976, ông Phạm Hùng, Phó Thủ
Tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lúc ấy,
trả lời phóng viên hãng thông tấn AFP rằng: Có 200 ngàn tù
nhân đang lao động ở các trại tập trung cải tạo.
Bốn
tháng sau đó, tức ngày 16 tháng 9 năm 1976, người phát ngôn
của chánh phủ cộng sản Việt Nam đã tuyên bố với báo
chí trong nước và ngoài nước tại Hà Nội rằng: 95% người
của chế độ Mỹ Ngụy bị bắt sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,
đã được cho về đoàn tụ gia đình. Hiện chỉ còn 40 ngàn
sĩ quan công chức có nhiều nợ máu với nhân dân, phải bị
cải tạo trong thời hạn 3 năm. Sau đó, một số người sẽ
bị đem ra xử án'. Nếu theo câu trả lời trên đây thì số
người bị bắt lên đến 800 ngàn, vì 40 ngàn người đang
bị cải tạo chỉ là 5% trong tổng số bị bắt.
Nhưng
theo bản báo cáo của phòng lưu trữ hồ sơ thuộc Ban An Ninh/Sở
Công An thành phố Hồ Chí Minh, thì đến ngày 30 tháng 7 năm
1975, đã có 154.772 sĩ quan công chức của Việt Nam Cộng Hòa
cũ chịu ra trình diện và bị bắt tập trung cải tạo.
Cũng theo bản báo cáo này, tính đến ngày 30 tháng 10 năm 1975,
đã bắt thêm được 68.037 người trốn trình diện và đưa
vào trại cải tạo. Như vậy, tính từ đầu tháng 5 đến
cuối tháng 10 năm 1975, số quân nhân cán bộ và viên chức
Việt Nam Cộng Hòa cũ bị họ giam giữ tập trung cải tạo
là 222.809 người.
Thưa
quí vị, với những con số trên đây, con số nào đáng cho
chúng ta tin cậy? Nếu chấp nhận con số do Ban An Ninh thuộc
Sở Công An, thì tổng số quân nhân cán bộ và viên chức
Việt Nam Cộng Hòa cũ bị bắt tập trung cải tạo, tính đến
tháng 10 năm 1975 là 222.809 người.
Nhưng
có đúng là lãnh đạo cộng sản Việt Nam lừa và bắt quân
nhân cán bộ viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ học tập chỉ
để cải tạo, hay đó là cách thức hiện từng bước trong
chính sách tiêu diệt hơn 200 ngàn người mà họ gọi là ngụy
quân ngụy quyền? Vì những nơi mà họ gọi là những khu kinh
tế mới từ năm 1975, cộng với những khu cư trú trong vùng
biên giới Việt-Lào, thuộc tỉnh Thanh Hóa, mà đầu những
năm 80 lãnh đạo cộng sản Việt Nam có kế hoạch thành lập
nhiều khu chỉ định cư trú để đưa các tù chính trị
Việt Nam Cộng Hòa cũ và gia đình, đến đó cư trú trong vòng
tay kiểm soát của họ. Nhưng kế hoạch chỉ định cư trú
này không thực hiện được sau khi đã đưa những toán nghiên
cứu tại chổ, nghe đâu bị áp lực từ phía Liên Xô mà Liên
Xô bị áp lực từ phía Hoa Kỳ, vì thuở ấy Liên Xô cần
Hoa Kỳ trợ giúp thực phẩm. Trong toán nghiên cứu chỉ định
cư trú, có ba tù chính trị mà cựu Trung Tướng Nguyễn Hữu
Có là một trong số đó.
Chỉ
nhắc lại vài tội ác của lãnh đạo cộng sản Việt Nam
từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, để xin quí vị đừng bao giờ
quên cái tư cách tị nạn cộng sản của chúng ta, và cũng
đừng quên là họ luôn đồng hóa đảng cộng sản của họ
với đất nước nhé, vì họ nói yêu tổ quốc là yêu xã
hội chủ nghĩa mà. Và họ cũng đồng hoá bản thân hàng lãnh
đạo với đồng bào, vì bất cứ cá nhân hay tổ chức nào
chống họ thì họ kết tội là chống đồng bào mà.
Đến
nhiệm vụ chủ yếu thứ hai là hoàn chỉnh và xây dựng
mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài
hoạt động đầu tư về kinh doanh trong nước, coi trọng các
hình thức đâu tư kinh doanh qui mô vừa, và nhỏ, do người
Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện, hoặc thông
qua người thân trong nước thực hiện. Mờ rộng và tạo thuận
lợi hơn nữa về chính sách kiều hối. Phát huy khả năng
của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết
lập và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Việt Nam.
Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng
trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp
người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước, nhằm
bảo vệ quyền lợi chính đáng. Đồng thời xử lý các vi
phạm đúng theo pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp
lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài về
đầu tư làm ăn được yên tâm tin tưởng.
Thưa
quí vị, người viết vẫn xé ra từng mục tiêu nhỏ của
họ để phản công trực diện. Đầu tiên, họ nói là họ
sẽ có một số chính sách nhằm thu hút những người trong
Cộng Đồng tị nạn hải ngoại về Việt Nam bỏ tiền ra
kinh doanh.
Hẳn
quí vị còn nhớ là từ khi lãnh đạo cộng sản Việt Nam
'mở cửa và đổi mới' vào cuối năm 1986, họ đã ban hành
những chính sách tương tự như vậy nhưng họ chỉ nhắm vào
những doanh gia ngoại quốc, nhất là những doanh gia Châu Á.
Giờ đây, qua nghị quyết 36, cuộc tổng tấn công của họ
nhắm vào đánh phá Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại,
vừa dụ dỗ lôi cuốn Cộng Đồng tị nạn hải ngoại về
Việt Nam. Nói theo ngôn ngữ chính trị thế giới, thì lãnh
đạo cộng sảnViệt Nam 'tay phải cầm cây gậy sắt, tay
trái cầm củ cà rốt ni lông'. Và củ cà rốt ni lông này
là hậu thân của cái bánh vẽ mà ông Hồ Chí Minh thuở sanh
tiền luôn sử dụng. Thông thường thì sử dụng tay phải
mạnh hơn tay trái, cho nên cây gậy và là cây gậy sắt trong
tay phải, còn củ cà rốt mà là củ cà rốt bằng nhựa trong
tay trái. Tôi muốn mô tả cái bản chất bạo lực sắt máu
là tay phải, kèm theo cái chính sách tuyên truyền nhồi nhét
là tay trái của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Đây là sự
kiện khách quan không ai phủ nhận được.
Nhưng
tại sao đến bây giờ họ lại kêu gọi mời mọc Cộng Đồng
tị nạn hải ngoại về Việt Nam làm ăn với họ? Phải chăng
vì tình hình đầu tư ngoại quốc đang sút giảm trầm trọng
mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam tập trung toàn lực tổng
tấn công Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại
chăng để mong sử dụng khối tài chánh trong Cộng Đồng tị
nạn chúng ta? Họ xua quân vượt biên giới mà tổng tấn công
chúng ta, mà họ sử dụng lời lẽ cứ như thành tâm lo cho
Cộng Đồng tị nạn chúng ta, cái Cộng Đồng mà tất cả
miệng lưỡi của lãnh đạo cộng sản Việt Nam và toàn bộ
phương tiện tuyên truyền của họ, chụm vào nhau mà miệt
thị gọi chúng ta là bọn này bọn kia để chửi rủa chúng
ta với tất cả lời lẽ xấu xa nhất. Cái chính sách chửi
bới đó cũng hành hạ khủng bố thân nhân chúng ta trên quê
hương Việt Nam, nay họ lại làm cái công việc mà họ gọi
là vận động thành lập cái Hội buộc thân nhân chúng ta
phải vào cái Hội đó, để rồi theo lệnh họ mà khuyên chúng
ta điều này điều khác theo ý họ. Vì vậy, xin quí vị đừng
bao giờ quên điều đó, vì điều đó cũng là sự thật khách
quan không ai phủ nhận được nghe quí vị.
Bởi
vì họ tổng tấn công vào Cộng Đồng chúng ta để dụ dỗ
lôi cuốn những vị nào vô tình hay cố ý quên đi cái chính
sách của lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã từng nhục mạ
mình, quên đi cái chế độ đã từng rình rập bắn giết
mình trên sông trên biển, hay chận bắt bỏ tù khi mình tìm
đường vượt thoát chế độ độc tài của họ. Khi dụ dỗ
được, lôi cuốn được, từng bước họ sẽ khống chế
chúng ta, rồi nắm quyền cai trị Cộng Đồng chúng ta ngay
trên những quê hương thứ hai từng bảo bọc giúp đỡ chúng
ta. Xin quí vị cũng nhớ là bộ máy nhà nước của họ không
có thông tin mà chỉ có tuyên truyền thôi, mà đã là tuyên
truyền thì không có gì là thật hết. Ngay cả Hiến Pháp mà
trên nguyên tắc, và cũng chính họ nói, đó là bộ luật cao
nhất của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhưng
trong thực tế thì họ chỉ áp dụng những gì bảo vệ cho
chế độ độc tài của họ, còn những gì bảo vệ dân chủ
tự do cho người dân thì họ chỉ để lòe đồng bào với
thế giới thôi. Cũng vì thế mà luật gia trẻ của Hà Nội,
anh Lê Chí Quang nói rằng: Việt Nam có hai Hiến Pháp, một
để cai trị và một kia để thế giới xem. Anh bạn trẻ Lê
Chí Quang nói hai Hiến Pháp, đó chỉ là cách diễn đạt cho
dễ nhận, chớ thật ra lãnh đạo cộng sản Việt Nam chỉ
có một Hiến Pháp, nhưng áp dụng theo hai cách như vừa nói
trên.
Mục
tiêu nhỏ thứ hai của lãnh đạo cộng sản Việt Nam là mở
rộng kiều hối, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng trong
nước, và phát huy khả năng người Việt hải ngoại làm dịch
vụ.
Mở
rộng kiều hối, là mở thêm nhiều cơ sở chuyển tiền, hay
chuyển tiền với lệ phí nhẹ, hay hình thức nào khác nữa?
Chưa biết sự mở rộng của họ như thế nào, nhưng có điều
suy đoán gần như cầm chắc là họ sẽ mở thêm nhiều dịch
vụ chuyển tiền nữa, chớ lệ phí quá nhẹ như 1 mỹ kim
cho mỗi trăm mỹ kim gởi về Việt Nam chẳng hạn, thì Cộng
Đồng chúng ta biết ngay là cơ sở của lãnh đạo cộng sản
Việt Nam và rất có thể họ sẽ bị tẩy chay. Vì những dịch
vụ thông thường của tư nhân mà nhận lệ phí như vậy thì
làm sao trang trải nỗi những chi phí thường ngày, kể cả
tiền lương dù chỉ một nhân viên.
Và
quí vị cũng thừa biết là càng nhiều cơ sở chuyển tiền
thì họ càng nhiều cơ hội rửa những triệu mỹ kim của
họ trước khi bỏ vào các ngân hàng ngoại quốc. Mà không
chừng họ mở dịch vụ vừa chuyển tiền, vừa làm cơ sở
phân phối sản phẩm xuất cảng từ Việt Nam dưới dạng
nào đó, đồng thời với việc mà họ nói là phát huy khả
năng người Việt hải ngoại làm dịch vụ, có phải là họ
sẽ sử dụng thân quyến xa gần hoặc những tay sai của họ,
đứng ra mở những dịch vụ kiều hối chăng?
Và
vế cuối cùng trong mục tiêu thứ ba là sự phối hợp giữa
các cơ quan trong việc giải quyết những việc liên quan đến
người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước nhằm
bảo vệ quyền lợi chính đáng, đồng thời xử lý các vi
phạm đúng theo pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp
lý ổn định làm cho người Việt Nam ở nước ngoài về làm
ăn yên tâm tin tưởng.
Quí
vị có nghĩ là dường như lãnh đạo cộng sản Việt Nam tưởng
Cộng Đồng tị nạn chính trị tại hải ngoại, đều mắc
bệnh mất trí nhớ hay sao ấy? Vì chỉ có mắc bệnh mất
trí nhớ mới làm cho chúng ta quên cái cốt lõi của nguyên
nhân trốn chạy hay rời khỏi quê hương đất nước của
mình, để hình thành một Cộng Đồng tị nạn cộng sản
tại gần 90 quốc gia trên thế giới! Và chỉ khi nào quên
cái nguyên nhân đó, người mất trí nhớ mới nghe theo cái
ngôn ngữ tuyên truyền dối trá từ trong mọi thứ văn bản,
chớ không riêng gì cái nghị quyết 36 của con người mới
văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, kể cả bản Hiến Pháp của
họ.
Họ
nói đến bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài về đầu
tư kinh doanh, như là xử lý đúng theo pháp luật tạo môi
trường ổn định pháp lý để làm cho người Việt Nam ở
nước ngoài yên tâm tin tưởng mà trở về.
Quí
vị có thấy là riêng nhóm chữ xử lý đúng theo pháp luật,
tự nó cho thấy là từ trước đến giờ họ không thực hiện
đúng theo pháp luật, cho dù pháp luật của họ. Nếu nói rằng
pháp chế xã hội chủ nghĩa của họ không giống ai, e có
phần quá đáng, nhưng rõ ràng là ngữ nghĩa trong pháp chế
xã hội chủ nghĩa của họ rất không rõ nghĩa, cho nên đảng
với nhà nước Việt Nam giải thích thế nào tùy theo quyền
lợi tùy theo mục đích chính trị của họ. Như vậy, khi họ
nói tạo môi trường ổn định pháp lý, quí vị có tin nỗi
không? Vì nếu lãnh đạo cộng sản Việt Nam làm đúng như
họ hứa hẹn trong nghị quyết 36, thì họ hãy hành động
như một bằng chứng cụ thể là ngay tức khắc, họ trả
tự do cho tất cả những ai đang bị họ giam giữ, bị họ
bỏ tù, và những ai đang bị họ quản chế đi. Vì nếu căn
cứ vào luật pháp và hiến pháp của họ thì những vị đó
không ai có tội gì để phải bị quản chế hay bị bỏ tù
cả. Trước mắt, nếu làm được như vậy, lãnh đạo cộng
sản mới nói đến môi trường pháp lý ổn định để làm
yên lòng Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
từ đó lời dụ dỗ của họ may ra có tác dụng phần nào
trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta.
Đến
nhiệm vụ chủ yếu thứ tư của họ với nguyên văn như sau:
đổi
mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình
thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam
ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những
hoạt động hướng về tổ quốc của bà con, nhất là của
các thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp
uật và phong tục tập quán quốc gia sở tại. Hỗ trợ các
dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu
trên. Chủ động mở rộng tiếp xúc với người Việt Nam
ở nước ngoài, kể cả với những người còn định kiến
mặc cảm với nhà nước và chế độ ta, tức chế độ
độc tài.
Với
nguyên văn trong nhiệm vụ chủ yếu thứ tư này có 3 vế.
Trước hết là Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức
vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn
kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn
nhau.
Thưa
quí vị, ngay trong vế đầu này được hiểu là những phương
cách trước đây mà tay chân của lãnh đạo cộng sản Việt
Nam áp dụng để xâm nhập Cộng Đồng tị nạn chúng ta đã
không thành công, nên trong cuộc tổng tấn công này họ phải
thay đổi phương cách khác, và không phải một mà là nhiều
phương cách khác nhau để xâm nhập mà họ gọi là vận động.
Tôi
suy đoán rằng, bước đầu xâm nhập được vào cộng Đồng
chúng ta, mà cũng có thể là ngay chính họ chưa xâm nhập nhưng
họ sử dụng những tên tay sai do mua chuộc bằng vật chất
hay trúng kế mỹ nhân của họ, sẽ đưa ra phương thức nào
đó để hình thành một hay nhiều tổ chức mà bước đầu
mang tính cách nhân đạo để trợ giúp những thành phần trong
nước nhờ có chế độ độc tài của họ mà trở nên nghèo
khổ, bệnh tật, nghiện ngập, trộm cướp, mà họ thực hiện
đúng theo phương châm của chế độ cộng sản độc tài là
vô
sản toàn thế giới nói chung, và vô sản mọi người dân
Việt nói riêng, ngoại trừ những đỉnh cao trí tuệ lãnh
đạo ở các cấp là hữu hữu sản. Thưa quí vị, tôi
sử dụng hai chữ hữu để nói lên rằng, chẳng những họ
có tài sản mà còn có nhiều thiệt nhiều nữa quí vị ạ!
Bước
kế tiếp, một mặt có thể họ sẽ luồng vào các tổ chức
trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta để dùng tiền lèo lái
các sinh hoạt. Mặt khác, họ thành lập những cơ quan hay tổ
chức gì đó dưới sự bảo trợ của ông này bà kia, mà thật
sự là thuộc cơ quan ngoại giao của họ. Và mục đích của
họ là qui tụ các tổ chức của họ được ngụy trang, hoặc
những tổ chức mà những vị đứng đầu có bệnh mất trí
nhớ vào đó, để được sự trợ giúp phương tiện trong
những sinh hoạt lễ hội như: Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ,
xá tội vong nhân Rằm Tháng Bảy, lễ hội Tết Trung Thu, nói
chung là những lễ hội nhìn từ bên ngoài xem như vô thưởng
vô phạt về mặt tuyên truyền của họ. Cũng có thể, bỗng
dưng từ cá nhân hay tổ chức nào đó tỏ ra rộng lượng,
trợ giúp tài chánh một cách hào phóng cho tổ chức khác nhân
lễ hội gì đó, mang ý nghĩa nhân đạo kèm theo một vài điều
kiện nhỏ như: gợi ý cho người tham dự nên quên quá khứ,
như quảng bá khéo cho cái nhản hiệu hòa giải hòa hợp, hoặc
kêu gọi mời mọc nên tham gia vào những tổ chức nhân đạo
để cứu giúp đồng bào nghèo khổ trong nước, thậm chí
khi bị ngấm vào đồng tiền trợ giúp của họ có thể họ
đưa ra điều kiện không nên chào quốc kỳ Việt Nam nền
vàng ba sọc đỏ nữa đó, dĩ nhiên họ phải tạo dựng những
lý lẽ theo cách của họ để ban tổ chức bị bệnh mất
trí nhớ, hoặc bị trúng kế mỹ nhân, hay trúng đồng mỹ
kim kế, dễ chấp nhận điều kiện mà họ gọi là nhỏ nhoi.
Vế
thứ hai là khuyến khích những hoạt động hướng về tổ
quốc của bà con, nhất là của các thế hệ trẻ trên cơ
sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập
quán quốc gia sở tại, đồng thời hỗ trợ các dự án của
người Việt Nam ở nước ngoài cũng nhằm mục tiêu trên.
Quí
vị có thấy là lãnh đạo cộng sản Việt Nam chơi chữ chưa?
Họ khuyến khích những hoạt động của Cộng Đồng tị nạn
cộng sản chúng ta hướng về tổ quốc, tức là hướng về
đảng cộng sản độc tài của họ đó, vì họ đồng hóa
đảng của họ vào tổ quốc mà. Quí vị có nhớ là từ giữa
năm 2001, hằng loạt những đảng viên cộng sản trẻ lẫn
đảng viên cộng sản lão thành, lần lượt lên án lãnh
đạo đảng cộng sản đã đem đất đem biển dâng cho cộng
sản Trung Hoa, thế là những người đó đều bị lãnh đạo
đảng và lãnh đạo nhà nước cộng sản Việt Nam, thông qua
các phương tiện truyền thông đại chúng, đã cực lực lên
án là nói xấu đảng, làm mất đoàn kết với nước Cộng
Hòa Nhân Dân Trung Hoa láng giềng, gây tổn thương đến lợi
ích đất nước. Và rồi, những người dám nói sự thật
đó không lãnh án tù ngồi cũng bị tù cải tạo, hay ít nhất
cũng bị quản chế tại nhà hay tại nơi nào đó.
Họ
nhắm vào thành phần trẻ là ưu tiên trong cuộc tổng tấn
công này đó quí vị, có vẻ như lãnh đạo cộng sản Việt
Nam cho rằng, tuổi trẻ hải ngoại chẳng biết gì về tội
ác của họ từ năm 1945 đến nay, cho nên họ nghĩ là họ
sẽ xâm nhập vào thành phần này dễ dàng hơn thành phần
trung niên trở lên. Phải chăng họ chưa tin là những tổ chức
của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, đã và đang hoạt động
không phải do chính tuổi trẻ tổ chức và điều hành, nên
họ nhắm thẳng vào tuổi trẻ. Dĩ nhiên là cũng có thể có
một số nào đó, chỉ quan tâm đến học hành rồi làm việc
kiếm nhiều tiền và thụ hưởng, nhưng chưa chắc là thành
phần này dễ dàng bị họ xâm nhập đâu. Dẫu sao thì tuổi
trẻ cũng biết rằng, sự có mặt tại hải ngoại là do nguyên
nhân cha mẹ chạy trốn chế độ cộng sản độc tài, chớ
không phải tự nhiên mà trở thành công dân các quốc gia sở
tại.
Vế
thứ ba là chủ động mở rộng tiếp xúc với người Việt
Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn định kiến
mặc cảm với nhà nước và chế độ ta, tức chế độ
độc tài đó quí vị.
Có
thiệt không đây? Vì ngay cả tòa đại sứ tại Washington DC
là cơ quan cao nhất của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, trong
những tháng cuối năm 2002 và đầu năm 2003, đã luân phiên
nhau chạy vào chạy ra Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ như con thoi để
vận động van xin can thiệp cho thành phố Westminster và Cộng
Đồng Việt nam tị nạn cộng sản đừng xây dựng tượng
đài chiến sĩ Việt Mỹ tại đó, còn chẳng có kết quả
gì. Thế rồi vào hạ tuần tháng 4 năm 2003, tượng đài uy
nghi đã được khánh thành rất trọng thể, trang nghiêm, với
sự tham dự của nhiều nhân vật trong cơ quan lập pháp lẫn
hành pháp Hoa Kỳ tham dự, cùng với hằng chục ngàn bà con
trong Cộng Đồng tị nạn từ nhiều nơi đổ về tham dự,
đã không thể nén được nỗi xúc động khi quốc kỳ Việt
Nam nền vàng ba sọc đỏ từ từ kéo lên song hàng với quốc
kỳ Hoa Kỳ và cờ tiểu bang California.
Tháng
8 năm 2003, một phái đoàn tòa đại sứ cộng sản Việt Nam
từ Washington DC. đến Boston gặp Hội Đồng thành phố. Lúc
đầu ra cái điều dạy dỗ nếu treo cờ Việt Nam trên nóc
toà thị sảnh thì nên treo lá cờ máu của họ và họ sẳn
sàng cung cấp lá cờ đó, khi thấy không xong họ bèn hạ giọng
để yêu cầu gở lá cờ Việt Nam trên nóc tòa thị sảnh
xuống, đồng thời hủy bỏ nghị quyết công nhận quốc kỳ
Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ. Kết quả là bà nghị viên
Henigan, thay mặt Hội Đồng thành phố trả lời rất ngoại
giao, là phái đoàn tòa đại sứ hãy mang những vấn đề chính
trị về Washington DC nói chuyện với Bộ Ngoại Giao, vì thành
phố có luật của thành phố.
Nhân
đây cũng xin nêu con số các địa phương tại Hoa Kỳ đã
công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ chúng ta,
tinh đến ngày 28 tháng 6 năm 2004, gồm: trọn 5 tiểu bang, 3
quận hạt, 58 thành phố. Và 66 địa phương này thuộc 22 tiểu
bang. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam thảm bại hoàn toàn trong
trận chiến này mà tôi gọi là Trận Chiến Dựng Lại Cờ
Vàng quí vị à!
Đến
cái thảm bại tệ hơn nữa là một phái đoàn 6 nhân vật
thuộc hàng lãnh đạo do ông Nguyễn Phúc Thanh, Phó Chủ Tịch
Quốc Hội dẫn đầu, xin thăm chánh thức khu Little Saigon và
tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ nơi đây trong ngày 29 và 30
tháng 4 năm 2004, gọi là bày tỏ thiện chí với ngưởi Việt
Nam ở nước ngoài, nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bác bỏ, vì
Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại thành phố Westminster
và những thành phố lân cận, sẳn sàng dàn chào bằng cuộc
mít tinh biểu tình vĩ đại với một rừng cờ Việt Nam nền
vàng ba sọc đỏ, và rất nhiều thùng cà chua trứng thúi.
Cũng trong thời gian này, Hội Đồng thành phố Westminster và
thành phố Garden Grove kế cận, đệ nạp 2 dự thảo nghị
quyết thành phố không chấp nhận đón tiếp những phái đoàn
cộng sản Việt Nam. Và hai Hội Đồng thành phố đã thông
qua hai dự thảo nghị quyết 'no VC zone' hay là 'vùng không có
Việt cộng' với số phiếu 100% vào ngày 19 tháng 5 vừa qua
(2004). Đây là hai văn bản lập pháp cấp thành phố, nhưng
là thành phố cấp bậc thủ đô của Cộng Đồng Việt Nam
tị nạn cộng sản tại hải ngoại, đã như hai nhát kiếm
thống nhất, cùng một lúc, xé toạt nghị quyết 36 của lãnh
đạo cộng sản Việt Nam vậy. Ít nhất cũng là đối với
Cộng Đồng tị nạn tại vùng Nam California.
Với
lại quí vị cũng không thể nào quên vụ Trần Trường trương
cờ cộng sản với hình Hồ Chí Minh, khiến Cộng Đồng tị
nạn chúng ta phẫn nộ và liên tục mít tinh biểu tình, và
cuối cùng chúng ta đã thành công. Trong vụ này, thành phố
Westminster đã chi ra 348 ngàn mỹ kim để trả lương phụ trội
cho Cảnh Sát và Cứu Hỏa giữ trật tự trong suốt thời gian
biểu tình phản đối Trần Trường, mà có thể là hắn đã
theo lệnh lãnh đạo cộng sản Việt Nam thực hiện hành động
thăm dò phản ứng Cộng Đồng tị nạn chúng ta đấy. Mà
cho dù có phải hay không phải, thì Trần Trường rõ ràng là
tay sai của họ. Vì vậy mà thành phố Westminster và thành phố
Garden Grove, nhanh chóng thông qua hai dự thảo nghị quyết đại
loại là 'vùng không có Việt cộng', trước là theo đòi hỏi
chính đáng của khối cử tri người Mỹ gốc Việt, và hai
là tránh cho ngân sách thành phố thiếu hụt vì cái chuyện
hoàn toàn không mang lại lợi ích cho cư dân thành phố.
Họ
còn nói đến những người còn định kiến hay mặc cảm với
cái chế độ độc tài sắt máu của họ mà họ sẽ tiếp
xúc vận động. Nhân danh là một người trong những người
mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam gọi là còn định kiến
và mặc cảm, tôi mạnh mẽ xác nhận rằng, không có vấn
đề còn hay không còn định kiến gì đó, mà chỉ có vấn
đề bổn phận công dân đối với tổ quốc Việt Nam dân
chủ tự do. Với bổn phận đó, chúng tôi tự thấy phải
thực hiện bổn phận của mình trong mọi hoàn cảnh, cho dù
tuổi trẻ hay tuổi già cũng đều tha thiết với bổn phận
đó mà thôi.
Còn
mặc cảm, xin hỏi mặc cảm gì? Cộng Đồng Việt Nam
tị nạn cộng sản tại hải ngoại, từ những bàn tay trắng
gần 30 năm trước, mà nay đã có một Cộng Đồng gần 3 triệu
người, lớn mạnh về nhiều mặt, như: khối tài nguyên nhân
lực có trình độ khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế
giới, nhiều hơn trong nước với 82 triệu dân (tính đến
1/7/2004), khối tài chánh mà chỉ riêng số tiền gởi về giúp
thân nhân thân quyến ngang bằng hoặc nhiều hơn phân nửa
ngân sách nhà nước hằng năm, với khối vật lực toàn máy
móc kỹ thuật mới nhất, với hơn phân nửa trong Cộng Đồng
đã trở thành công dân các quốc gia sở tại, có gì mà mặc
cảm với cái chế độ độc tài khắc nghiệt đến mức không
chịu nỗi, đành phải rời quê hương mà tìm cuộc sống chính
trị tự do nơi xứ người. Cộng Đồng tị nạn cộng sản
tại hải ngoại, rất tự hào về những thành tích đạt được
vượt quá dự tưởng khi tìm thấy đời sống tự do nơi các
quốc gia dân chủ văn minh trên thế giới.
Chính
họ, nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam mới là những người
mang nặng mặc cảm với Cộng Đồng tị nạn chính trị tại
hải ngoại, bằng chứng là từ giữa thập niên 70 cứ rình
rập bắn giết hay bắt bỏ tù những người vượt biên vượt
biển trong khi luôn miệng chửi rủa miệt thị bọn này bọn
kia, rồi từ giữa thập niên 80 khi thấy những người mà
họ đã không bắn được, cũng không bắt được, và đã
định cư tại ngoại quốc có cơ ngơi với mọi thứ tiện
nghi trong cuộc sống, rồi gầy dựng được cơ sở kinh doanh
dịch vụ, nói chung là phát đạt và gởi tiền về giúp thân
nhân. Từ đó, cái mặc cảm sai lầm, cái mặc cảm tội lỗi,
buộc họ hạ giọng gọi chúng ta là Việt kiều yêu nước.
Chúng
ta, một Cộng Đồng tị nạn hải ngoại gần 3 triệu người,
không hề bỏ quê hương như lãnh đạo cộng sản Việt Nam
luôn gán ghép chúng ta như vậy. Một Cộng Đồng rất yêu
quê hương của mình, rất trân trọng đất nước của mình,
một đất nước có chiều dài lịch sử gần 5000 năm với
biết bao anh hùng liệt nữ. Yêu quê huơng đất nước, nhưng
không bao giờ yêu cái chế độ xã hội chủ nghĩa mà lãnh
đạo cộng sản Việt Nam luôn gán ghép cho đồng bào trên
quê hương Việt Nam chúng ta đâu. Chính vì Cộng Đồng tị
nạn chúng ta yêu quê hương đất nước, mà từ đó phát
sinh tinh thần trách nhiệm, và tự phát hình thành những tổ
chức dẫn đến hình thành Cộng Đồng, với những loại hình
sinh hoạt khác nhau nhưng trong cùng mục tiêu bảo tồn nếp
sống dân tộc, đồng thời hỗ trợ công cuộc dân chủ hóa
chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam.
Rồi
quí vị có thấy là từ giữa thập niên 90, khi lãnh đạo
cộng sản Việt Nam nhận thấy Cộng Đồng mà họ từng bắn
giết bỏ tù và chửi rủa, nay lớn mạnh về tất cả các
lãnh vực sinh hoạt trong các xã hội dân chủ văn minh trên
thế giới, làm cho mặc cảm của họ nặng thêm khi họ hạ
giọng thêm nữa để gọi chúng ta là khúc ruột ly hương ngàn
dặm, và họ luôn tìm mọi cách để moi tất cả những gì
bên trong những khúc ruột ly hương này đấy quí vị ạ!
Xin
hỏi: Nhóm đỉnh cao trí tuệ có gì hơn Cộng Đồng tị nạn
hải ngoại mà tiếp xúc vận động? Và vận động cái
gì? Họ chỉ có cái bài bản là hãy quên quá khứ mà lo
xây dựng tương lai chăng? Nhưng tương lai như thế nào? Có
phải nó là cái tương lai mờ mịt mà tuổi trẻ Việt Nam
trong nước đã và đang trông thấy chăng?
Vậy
thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam và những tay sai chủ động
cách nào đây? Cho những tên tay sai quen biết với những cá
nhân năng nổ trong hoạt động hỗ trợ công cuộc dân chủ
hoá chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam, tiếp xúc
dọ dẫm mua chuộc bằng tiền chăng? Hay mua chuộc bằng tình
như một tổ chức xuất hiện tại hải ngoại mấy năm nay,
chuyên lừa những vị có dòng máu yêu nước nhưng cũng nhiều
giọt máu tình, đã từng thực hiện thành công? Vì vậy mà
nhiều vị vào dễ nhưng khó ra vì hình ảnh trần trụi
đầy dẫy trong băng nhựa và phim ảnh rồi. Đó là bài bản
sở trường của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, nhưng không
hiểu vì sao mà tổ chức đó áp dụng y chang như vậy nữa.
Chẳng lẽ lại trùng hợp ngẫu nhiên?
Đến
mục tiêu thứ 5 mà họ gọi là nhiệm vụ chủ yếu, nguyên
văn như sau: tích cực đầu tư cho chương trình dạy và
học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất
là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa
tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy
tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh, và trên
mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi
có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại
hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên ngưởi Việt Nam ở
nước ngoài. Tổ chức các đoàn nghệ thuật, nhất là các
đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục
vụ. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là
người Việt Nam ở nước ngoài về biểu diễn, thi đấu,
tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi dấu quốc
tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn
hoá, văn học, nghệ thuật, triển lãm hội thảo, và du lịch
về nguồn.
Thưa
quí vị, xin xẻ mục tiêu thứ năm này thành 3 mục tiêu nhỏ.
Đầu tiên là họ nói sẽ gia tăng đầu tư cho chương trình
dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài,
nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo
khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình
dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh,
và trên mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới
những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt.
Thật
ra thì ai cần học tiếng Việt đây? Lãnh đạo cộng sản
Việt Nam hay Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại?
Bởi vì tiếng Việt mà lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà
nước Việt Nam sử dụng, đã lai một thứ ngôn ngữ nào không
ai biết. So với ngữ nghĩa thông thường từ trong lịch sử
dân tộc mà bao thế hệ ông cha đã sử dụng, hơn 50 năm cai
trị đất nước, họ đã tráo nghĩa để thành một nghĩa
khác, họ bẻ cong ngữ nghĩa theo điều mà họ gọi là văn
hoá mới xã hội chủ nghĩa do họ sáng chế, và họ dám khoe
là chính họ dựng nên nền văn hoá mới cho lịch sử nữa
chớ!
Đến
sách
giáo khoa mà họ nói là họ sẽ hoàn chỉnh. Chữ hoàn chỉnh
mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam dùng ở đây, chắc không
có cách nào hiểu khác hơn là họ sẽ đưa sách giáo khoa xã
hội chủ nghĩa của họ in lại bìa cho sáng sáng một chút
để đưa ra ngoại quốc xâm nhập vào Cộng Đồng tị nạn
chúng ta đó quí vị à! Cái thứ sách giáo khoa mà lúc còn
trong tù trên đất Bắc, tôi có đọc tập sách dạy lớp mẫu
giáo. Họ dạy rằng: 3 tên Ngụy chết cộng với 2 tên Mỹ
chết, là 5. Quí vị có thấy là họ đầu độc tuổi thơ
về chế độ chính trị, về hận thù, về bắn giết, một
cách khủng khiếp không? Ngay từ tuổi lên bốn lên năm đã
bị đầu độc như vậy cho đến tuổi thành niên, thử hỏi
những thế hệ đó nhìn mọi người không cộng sản như thế
nào, nếu Cộng Đồng tị nạn chúng ta tại hải ngoại cũng
như thế giới văn minh không kịp giúp phần nào trong những
thế hệ đó nhìn thấy mặt bên kia của cuộc sống, thì toàn
bộ xã hội Việt Nam ngày nay ra sao! Mặt bên kia có nghĩa là
đối nghịch với xã hội xã hội chủ nghĩa, mà trong đó
tuổi trẻ trên quê hương Việt Nam luôn bị bịt mắt bịt
tai bịt miệng.
Cũng
là sách giáo khoa. Vào cuối năm 1991 khi tôi làm việc ở
quận Cam, Nam California, cùng với cựu giáo sư Võ Hồng Lạc.
Anh kể cho nghe câu chuyện về bản thân của Anh như thế này.
'Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh là Hiệu Trưởng trường
trung học Mạc Đỉnh Chi, Phú Lâm, Sài Gòn. Ngay sau đó, Anh
chỉ là giáo sư sử địa vì chức Hiệu Trưởng có người
từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhận rồi. Trước khi dạy,
Anh cầm cuốn sử địa vào trình với Hiệu Trưởng bài giảng
về sông Cửu Long. Theo sách giáo khoa xã hội chủ nghĩa
thi sông Cửu Long chảy ngang Sài Gòn, Anh bảo điều này
không đúng nên Anh không thể dạy học trò được. Thế là
Hiệu Trưởng liền gọi người nào đó có vẻ là cơ sở
đảng của nhà trường thì phải. Anh ta hỏi giáo sư Lạc:
Anh nói gì? Sau khi anh ta nghe giáo sư Lạc trình bày, anh ta bảo:
3 giờ chiều gặp hắn.
Đến
giờ hẹn, giáo sư Võ Hồng Lạc nghe hắn phán một câu không
thể nào tưởng tượng được cái mức độ đần độn của
hắn. Câu mà hắn phán như thế này: Sách giáo khoa đã do
trung ương đảng duyệt, mà khi trung ương đảng duyệt thì
không có vấn đề sai sót gì hết. Nếu anh không dạy tức
là anh chống đối đảng. Anh Lạc bèn làm đơn xin nghỉ
việc. Lập tức Anh bị qui tội chống đảng vì đã không
thi hành lệnh đảng. Thế là anh Lạc tối tăm mặt mũi, vì
tự nhiên bị gắn cho cái tội chống đảng tuy Anh chưa biết
tội này sẽ bị trừng phạt như thế nào. Thôi thì xuống
nước năn nỉ, để được thất nghiệp còn hơn là mang cái
tội chưa từng nghe thấy bao giờ.
Cái
thứ sách giáo khoa xã hội chủ nghĩa mà lãnh đạo cộng sản
Việt Nam nói là sẽ mang ra dạy cho Cộng Đồng tị nạn cộng
sản tại hải ngoại, trở thành con người mới văn hoá mới
xã hội chủ nghĩa, quí vị nghe có thông không?
Còn
cử
giáo viên ra hải ngoại để giúp bà con học tiếng Việt
nữa chớ! Có thiệt không đây? Nếu lãnh đạo cộng sản
Việt Nam cần gởi giáo viên ra hải ngoại để nhờ Cộng
Đồng tị nạn dạy những bài học thế nào là tiếng Việt
chân chính, thì rất nên, và trường hợp này Cộng Đồng
tị nạn sẳn lòng dạy miễn phí. Vì chỉ riêng Cộng Đồng
tị nạn tại Hoa Kỳ, đã có hằng trăm trung tâm dạy Việt
ngữ, chẳng những dạy cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại
mà con dạy cho tuổi trẻ ngoại quốc nữa, nhất là tuổi
trẻ Hoa Kỳ. Với lại, môn học Việt ngữ cũng đã xâm nhập
vào hệ thống giáo dục bậc trung học tại một số tiểu
bang, và lác đác ở bậc đại học nữa. Đó là bằng chứng
cho thấy, Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
rất quan tâm đến vấn đề dạy Việt ngữ cho những thế
hệ sinh ra và lớn lên trên quê hương thứ hai.
Vậy,
tốt hơn hết là lãnh đạo cộng sản Việt Nam, nên gia tăng
ngân sách giáo dục để xây dựng và hoàn chỉnh toàn bộ
sách giáo khoa thích hợp với nền nếp dân tộc, thích hợp
với hoàn cảnh đất nước, và thích hợp với trào lưu dân
chủ trên toàn thế giới, để đưa vào hệ thống giáo dục
trên quê hương Việt Nam đi.
Trong
vế thứ hai, họ nói là sẽ tổ chức trại hè nói tiếng
Việt cho thanh thiếu niên ngưởi Việt Nam ở nước ngoài.
Tổ chức các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật
dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ. Tạo điều kiện
cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước
ngoài về biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam
đi biểu diễn và thi đấu quốc tế.
Thưa
quí vị, quí vị có nghĩ là các cơ quan ngoại giao của lãnh
đạo cộng sản có dám công khai tổ chức những trại hè
mà họ nói trong nghị quyết 36 hay không? Tôi suy đoán là họ
không dám hành động công khai như vậy đâu, mà những trại
hè đó nếu có, sẽ do họ lòn tiền vào những tay sai ở tổ
chức nào đó trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta để tổ chức.
Cũng có thể họ không có tay sai trong tổ chức mà họ muốn
qua đó để họ đạt mục đích, họ sẽ làm như người tốt
bụng nào đó bỗng dưng yểm trợ một khoản tiền đáng kể,
rồi ra vẻ như vui miệng kèm theo một vài điều kiện nào
đó mà ban tổ chức tưởng như chẳng có gì dính dáng đến
chính trị chính em, thế là nhận tiền và nhận lời. Vậy
là trúng kế của họ rồi, vì khi nhận tiền thì nay họ thêm
một ý kiến mai thêm một ý kiến theo ý họ, thế là mình
thực hiện nhưng mục đích thì họ đạt. Cái gì chớ mưu
mô mánh khóe láu lỉnh thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam là
bậc thầy đó quí vị à!
Họ
lại nói đến mục tiêu như là trao đổi giữa các lực
sĩ cùng với những nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại và
hải ngoại về trong nước. Ở cái khoản này, quí vị
cũng rõ là Cộng Đồng tị nạn hải ngoại chúng ta chưa có
một vị hay một tổ chức, khả dĩ đủ tư cách để hoạch
định chương trình chung cho bất cứ vấn đề gì, vì lẽ
các tổ chức trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta trên toàn
thế giới đều do tinh thần trách nhiệm mà tự phát hình
thành. Trong khi lãnh đạo cộng sản Việt Nam nắm quyền hoạch
định thời biểu, chỉ định các lực sĩ cũng như văn nghệ
sĩ của họ, và giao nhiệm vụ cho từng cá nhân hay từng nhóm,
trước khi ra hải ngoại xâm nhập Cộng Đồng tị nạn chúng
ta mà họ gọi là phục vụ cho chúng ta, thì những văn nghệ
sĩ hay lực sĩ trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta hoàn toàn
hành động riêng rẽ. Điều này tự nó không có gì để phàn
nàn, điều đáng phàn nàn là khi về nước thì những cá nhân
đó không thể nào hành động hoàn toàn theo ý mình được.
Chỉ mong là những vị nào nhân danh văn nghệ sĩ hay lực sĩ
trong Cộng Đồng tị nạn, vui lòng đừng bao giờ quên cái
bản chất lọc lừa dối trá của lãnh đạo cộng sản Việt
Nam, cũng đừng quên cái tư cách tị nạn chính trị của mình.
Còn
những người do đảng với nhà nước cộng sản Việt Nam
chỉ định ra hải ngoại xâm nhập Cộng Đồng tị nạn chúng
ta để làm gì? Thuần túy trình diễn nghệ thuật, hay tạo
tiền đề cho sự xâm nhập ở bước kế tiếp, chuẩn bị
vai trò nội ứng cho cuộc tổng tấn công như Tết Mậu Thân
đầu năm 1968, hay mùa hè năm 1975 đây?
Đến
vế chót trong mục tiêu thứ 5 là thường xuyên tổ chức
các chương trình giao lưu văn hoá, văn học, nghệ thuật, triển
lãm hội thảo, và du lịch về nguồn.
Nhớ
lại rằng, từ năm 1945 đến 1975 trên đắt Bắc, và từ 1976
đến nay trên toàn cõi Việt Nam, nhóm lãnh đạo cộng sản
Việt Nam đã phá tan cội rễ nền tảng xã hội nông thôn
làng xóm, và đảo lộn luân thường đạo lý trong cấu trúc
xã hội Việt Nam. Chúng ta hãy nghe bà Dương Thu Hương, nhà
văn chuyên nghiệp của Việt Nam, đã chua chát pha lẫn đớn
đau khi thốt lên rằng: 'trong lịch sử, không có chế độ
nào man rợ bằng chế độ cộng sản, một chế độ bắt
con gái con dâu tố cáo cha hiếp dâm mình, một chế độ bắt
vợ chồng, cha mẹ, anh em, con cái, chủ tớ, láng giềng, đấu
tố lẫn nhau, giết hại lẫn nhau'.
Vậy
thì ai cần giao lưu văn hoá đây? Ai cần phục vụ văn hoá
đây? Vì văn hoá mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam nói đến,
là thứ văn hoá lộn đầu, văn hoá nói ngược, nói thế này
phải hiểu thế khác. Chất thật thà trong sáng trong văn hóa
truyền thống dân tộc từ ngàn xưa, đã bị nhóm lãnh đạo
cộng sản Việt Nam làm băng hoại tất cả, để du nhập
từ cộng sản quốc tế cái gọi là 'văn hoá xã hội chủ
nghĩa' vào xây dựng một xã hội sống với nhau bằng lọc
lừa dối trá theo đúng bản chất của chế độ độc tài.
Vì trong xã hội xã hội chủ nghĩa có cái gì tốt đẹp đâu,
cho nên phải nói dối làm dối, báo cáo dối, chẳng những
dối người khác mà dối cả chính bản thân của họ nữa.
Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại đâu có cần thứ văn hoá
đó mà đòi giao lưu. Trái lại, Cộng Đồng Tị Nạn Hải
Ngoại sẳn sàng dạy cho họ những bài học vỡ lòng về văn
hoá dân tộc, và tất cả đều miễn phí, không cần phải
giao lưu gì cho tốn công và tốn cả tiền nữa.
Nếu
bây giờ lãnh đạo cộng sản Việt Nam trở nên hiền lành
tốt bụng, biết lo cho dân cho nước thì chịu khó xem lại
đống sách tịch thu của xã hội Việt Nam Cộng Hòa cũ, may
ra còn sót lại cuốn nào sau khi đốt như vua Tần Thỉ Hoàng
của Trung Hoa, thì đem ra ấn loát và đưa vào sử dụng trong
hệ thống giáo dục, giúp xã hội Việt Nam khôi phục lại
nền nếp văn hoá dân tộc ngày xưa đi. Cộng Đồng tị nạn
cộng sản tại hải ngoại đâu cần cái thứ văn hoá xã hội
chủ nghĩa đó mà giao lưu.
Nguyên
văn mục tiêu thứ 6 của lãnh đạo cộng sản như sau: đổi
mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin tuyên truyền,
giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình
đất nước và chính sách của đảng với nhà nước. Đầu
tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước
ngoài trên làn sóng phát thanh, phát hình, và internet. Chú trọng
đổi mới nội dung, hình thức, và kỹ thuật. Hỗ trợ việc
ra báo viết, và xây dựng thư viện trên mạng internet để
phục vụ người Việt Nam sống xa tổ quốc. Hỗ trợ kinh
phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc
gửi sách báo, văn hoá phẩm ra ngoài phục vụ người Việt
Nam.
Theo
vế một trong mục tiêu này cho thấy lãnh đạo cộng sản
Việt Nam sẽ nâng công tác tuyên truyền lên trọng tâm cao
hơn, đồng thời mở các đài phát thanh phát hình tại hải
ngoại, để tấn công Cộng Đồng tị nạn chúng ta ngay
trên quê hương thứ hai của chúng ta, mà họ gọi là giúp
người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất
nước, cùng những chính sách của họ. Đầu tư cho các chương
trình phát thanh phát hình và internet dành cho người Việt Nam
ở nước ngoài. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức,
và kỹ thuật của các chương trình.
Chắc
quí vị hiểu ngay chính sách tuyên truyền của họ, sẽ gây
rối loạn giữa thông tin với tuyên truyền, điều mà từ
trước đến nay không xảy ra vì không có làn sóng phát thanh
phát hình nào của họ ngay tại hải ngoại, làm cho những
ai mắc bệnh mất trí nhớ trong Cộng Đồng tị nạn chúng
ta sẽ hoang mang, vì lời lẽ mà họ nói sẽ đổi mới toàn
diện. Theo cách nói đó, tôi suy đoán là họ sẽ không có
thay đổi quan trọng nào trong nội dung tuyên truyền đâu, mà
họ chỉ thay đổi về hình thức và kỹ thuật tuyên truyền
thôi. Họ còn nói là giùp cho người Việt Nam ở nước ngoài
hiểu đúng tình hình đất nước nữa chớ! Chữ hiểu đúng
mà họ dùng ở đây phải hiểu là họ dụ dỗ chúng ta hiểu
theo cách hiểu của họ đó quí vị à! Chữ và nghĩa của
họ ngược ngạo như vậy mà.
Về
nội dung tuyên truyền, chẳng lẽ lãnh đạo cộng sản Việt
Nam dám nhắc đến những khẩu hiệu như: tiến nhanh tiến
mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, hay Liên Xô
là thành trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội, hoặc ngọn
cờ chủ nghĩa xã hội là bách chiến bách thắng chăng? Tôi
tin là họ không dám đâu, mà họ sẽ sử dụng toàn ngôn ngữ
vuốt ve Cộng Đồng tị nạn chúng ta, vì vuốt ve o bế trong
ý nghĩa mánh mung tráo trở lật lọng là nghề của họ mà
quí vị. Tôi nghĩ là họ sẽ không thể trực tiếp thực hiện,
mà cầm chắc là sẽ thông qua những thân nhân xa gần hay những
tay sai của họ thực hiện. Nghĩa là sẽ không bao giờ có
cái đài nào có kèm theo cái tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam được. Bằng chứng là cái đài phát thanh do tay sai
trong hàng ngũ một tôn giáo thực hiện tại Nam California chỉ
3 tuần là im tiếng, vì sự chống đối liên tục của Cộng
Đồng tị nạn nơi đây. Chương trình phát hình của họ thông
qua một đài truyền hình tư nhân tại Australia cũng tắt lịm
bởi sự chống đối mạnh mẽ liên tục của Cộng Đồng
tị nạn Úc Châu.
Vậy,
những đài đó nếu có, thể nào cũng có hai chữ Việt Nam,
cộng thêm nhóm chữ nào đó mà theo thói quen thì họ thường
dùng những cái tên dài ngoằn. Còn cái nội dung chính trị,
đại loại là có thể là họ sẽ viện dẫn đất nước có
độc lập có hòa bình rồi, hãy để quá khứ lại sau lưng,
đừng nghe theo những người đi ngược lại lợi ích dân tộc,
mà hãy tự hào mình là người Việt Nam mà về giúp Việt
Nam, gời tiền về Việt Nam nhiều thêm, giúp cho đồng bào
nghèo nhiều hơn nữa, giúp xây trường học, giúp nuôi dưỡng
trẻ mồ côi, giúp người già bệnh tật,, v..v... Tự hào là
sự kiện hiển nhiên rồi, nhưng giúp giữ vững ngôi vị của
cái chế độ độc tài là không à nghe.
Cho
dẫu họ dùng những cái tên gì đó cho những chương trình
thoạt nghe rất ư là nhân đạo, rất ư là nên làm, nhưng
chúng ta cũng dễ dàng nhận ra những lợi ích cho họ nếu
như mục đích của họ thành công: Điều lợi thứ nhất là
họ sẽ khoe với thế giới rằng, chế độ xã hội chủ nghĩa
của họ là ưu việt, bằng chứng là những người Việt Nam
ra nước ngoài bị họ chửi như tát nước, mà khi nghe họ
nói sẽ có những chính sách trọng dụng nhân tài và đãi
ngộ nhân tài là hưởng ứng ngay. Điều lợi thứ hai là họ
chứng minh với thế giới, với đồng bào trong nước, là
do chính sách khoan hồng nhân đạo của chế độ xã hội chủ
nghĩa, tha tội chết cho cái bọn ngụy quân ngụy quyền, cái
bọn phản quốc, cái bọn rác rưởi đĩ điếm, về sống
và an tâm phục vụ quê hương đất nước. Nhưng lạ là những
người mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã gọi là bọn
này bọn kia để chửi rủa nhục mạ đủ điều, nay lại
thành trí thức thành chuyên viên đến mức họ phải xuống
nước dụ dỗ vậy kìa! Và điều lợi thứ ba của họ là
họ sẽ xoa tay mà chạy tội với quốc gia dân tộc. Chạy
tội vì họ cho rằng, chế độ xã hội chủ nghĩa của họ
không ngược đãi người dân dưới quyền cai trị của họ,
còn những người đang sống ở nước ngoài chẳng qua là những
người không có lý tưởng chính trị gì cả nên không có
vấn đề chính trị. Vậy, xin quí vị đừng bao giờ tin theo
lời ngon tiếng ngọt của họ nghe quí vị. Họ tuyên truyền
không hà, mà tuyên truyền thì toàn láo khoét cả.
Nếu
thật sự lãnh đạo cộng sản Việt Nam chăm lo vấn đề thông
tin cho Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại, thì
hãy dùng những phương tiện đó mà lo cho 80 triệu đồng bào
trong nước đi. Vì đồng bào trên quê hương rất cần những
thông tin nhanh chóng, trung thực, và đầy đủ cho mọi người
biết để không còn ai lén lút nghe các đài phát thanh ngoại
quốc qua chương trình tiếng Việt nữa. Vì Cộng Đồng tị
nạn tại hải ngoại thừa thải thông tin rồi, đâu có cần
cái thứ thông tin một chiều mà lại không trung thực nữa.
Đến
mục tiêu nhỏ kế tiếp trong mục tiêu lớn thứ 6 là họ
ra
báo viết, và xây dựng thư viện trên mạng internet để phục
vụ cho người Việt Nam sống xa tổ quốc.
Quí
vị có thấy là mưu đồ của lãnh đạo cộng sản Việt Nam
nhằm phủ trùm các phương tiện truyền thông quốc doanh lên
Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại không? Vậy, từ nay nếu
quí vị thấy có tờ báo mới nào xuất hiện tại các chợ
cũng như các cơ sở kinh doanh thương mãi, xin quí vị lưu ý
để tránh lẫn lộn giữa những tờ báo thật sự của bà
con trong Cộng Đồng tị nạn với báo của lãnh đạo cộng
sản Việt Nam nghe quí vị, dĩ nhiên là do những tay sai của
họ đứng tên chớ không phải cộng sản chánh cống đâu.
Tốt hơn hết là quí vị có cơ sở kinh doanh thương mại trong
Cộng Đồng đừng đăng quảng cáo trên những tờ đó, nếu
lỡ đăng đến khi nhận ra là tay sai của cộng sản thì xin
quí vị chấm dứt liên hệ với họ giùm nghe. Cũng xin bà
con trong Cộng Đồng tẩy chay những tờ báo cộng sản bằng
cách đừng cầm lên vì chỉ làm bẩn tay quí vị thôi.
Đến
cái thư viện trên NET. Nếu quí vị quí bạn có vào thư viện
đó của họ, mong quí vị xem nó như nơi tham khảo, và điều
quan trọng là tham khảo nhưng phải hiểu theo cách hiểu thông
thường chớ đừng hiểu theo ngữ nghĩa của lãnh đạo cộng
sản Việt Nam nghe quí vị. Chữ với nghĩa của họ sử dụng
không bình thường như chúng ta sử dụng đâu, nghe theo họ
là trúng kế của họ đó.
Mục
tiêu cuối cùng trong mục tiêu thứ 6 của họ hỗ trợ kinh
phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc
gửi sách báo, văn hoá phẩm ra ngoài phục vụ người Việt
Nam.
Quí
vị có thấy là lãnh đạo cộng sản nói giao lưu văn hoá
trong mục tiêu thứ 5, nhưng trong mục tiêu thứ 6 này họ chỉ
nói đến việc hỗ trợ kinh phí đưa sách báo và nói chung
là văn hoá phẩm từ trong nước ra hải ngoại thôi. Cho nên
họ nói giao lưu tức trao đổi hai chiều, nhưng thật sự chỉ
có một chiều, giống như người dân trong nước chỉ được
cho thấy một mặt của cuộc sống, còn mặt bên kia hoàn toàn
bị họ che kín, vì nếu người dân biết rõ mặt bên kia,
tức những xã hội dân chủ tự do và phát triển của thế
giới không cộng sản, thì người dân đâu ngồi yên cho họ
cai trị.
Đến
mục tiêu thứ 7 trong nghị quyết 36 mà lãnh đạo cộng sản
Việt Nam gọi là nhiệm vụ chủ yếu, nguyên văn như sau: hoàn
chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở
nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ
chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành
tích trong vận động xậy dựng cộng đồng, đóng góp xây
dựng đất nước, tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở
trong nước có thành tích trong công tác vận động người
Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình có lý và trên
cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch
sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết
dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với
những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc,
phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam
sinh sống với Việt Nam, hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng
người Việt ở nước sở tại.
Một
trong 3 mục tiêu nhỏ là lãnh đạo cộng sản Việt Nam nói
sẽ hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người
Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng
các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có
thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp
xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân người Việt Nam
ở trong nước có thành tích trong công tác vận động người
Việt Nam ở nước ngoài.
Có
thiệt không đây? Vì có ai trong Cộng Đồng tị nạn dám công
khai tự nhận là có thành tích phá hoại Cộng Đồng mà họ
gọi là vận động xây dựng Cộng Đồng không? Rồi liệu
lãnh đạo cộng sản Việt Nam có dám công khai tổ chức khen
thưởng tại các cơ quan ngoại giao ở hải ngoại không, hay
len lén gọi về Việt Nam khen thưởng như đã làm hồi tháng
4 năm 2003? Lúc đó, trên giấy tờ nói là khen thưởng đến
60 người Việt Nam ở nước ngoài, nhưng chỉ có 6 người
tham dự. Cũng không biết con số 60 là có thật hay không nữa,
vì cái bản chất dối trá lừa gạt, cho nên làm dối báo
cáo dối là ngón nghề của họ mà. Họ cần phô trương để
người ham thứ 'danh hư danh ảo' nhận làm tay sai cho họ, và
đó chính là mục đích của họ đấy quí vị à!
Còn
những người ở trong nước có được khen thưởng về thành
tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài,
cầm chắc là thân nhân bằng hữu của bà con trong Cộng Đồng
tị nạn cộng sản tại hải ngoại trong những cái Hội có
tên là Hội Liên Lạc Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài,
tức là họ dùng thân nhân chúng ta như một loại phương tiện
để họ buộc thân nhân chúng ta yêu sách chúng ta điều này
điều khác. Tại thành phố Houston đã xảy ra trường hợp
này rồi nghe quí vị. Họ nhân danh cái Hội đó tại Cần
Thơ, gởi thư đến những người có thân nhân hay bạn bè
cũ còn ở Cần Thơ, vận động góp tiền gởi về để họ
xây dựng trường trung học Phan Thanh Giản thay cho trường
cũ mà họ gọi là tàn tích thực dân, nhưng không một ai hưởng
ứng cả. Theo mánh khóe của họ trong cai trị xã hội từ
trước đến nay, những cái thư vận động kiểu đó cũng
không chắc là do cái Hội đó viết đâu, mà rất có thể
là do lãnh đạo địa phương viết sẳn chỉ đưa là ký thôi,
không ký thì Công An gọi làm việc là cái chắc.
Đến
trường hợp họ dự trù những biện pháp phù hợp đấu
tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích
dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người
Việt Nam sinh sống với Việt Nam, hoặc gây chia rẽ trong cộng
đồng người Việt ở nước sở tại.
Thưa
quí vị, theo nhóm chữ 'lợi ích dân tộc' trong nghị quyết
36 của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, thì quí vị định nghĩa
thế nào đây? Căn cứ vào chữ và nghĩa của họ, tôi tin
là quí vị sẽ định nghĩa như thế này: Lợi ích dân tộc,
tức là lợi ích của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, vì họ
là lãnh đạo đảng lãnh đạo nhà nước cai trị dân tộc
mà. Như vậy, những ai hay những tổ chức trong Cộng Đồng
Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, mà hành động
ngược lại lợi ích của họ thì họ xếp vào thành phần
mà họ chỉ dám nói đến biện pháp đấu tranh chống lại
những thành phần đó. Họ mà nêu ra biện pháp lạng quạng
là họ nhiều cơ hội ra hầu tòa lắm đó.
Thế
nào là phá hoại quan hệ giữa các nước với nước cộng
sản của họ? Thôi, chẳng cần tìm định nghĩa làm chi,
chỉ biết là Cộng Động tị nạn chúng ta nhất là những
viên chức trong dòng sinh hoạt chính tại các quê hương thứ
hai, trong mọi trường hợp đều phối hợp những cuộc vận
động chính trị ảnh hưởng vào cơ quan lập pháp, hành pháp,
về những quyết định liên quan đến lãnh đạo cộng sản
Việt Nam. Dĩ nhiên tốt về phía chúng ta, và không tốt về
phía họ.
Họ
cũng nói đến biện pháp với những ai gây chia rẽ trong
cộng đồng người Việt ở nước sở tại. Đoạn này
phải hiểu sao đây? Chẳng lẽ lãnh đạo cộng sản Việt
Nam lại trừng trị họ, vì họ chính là những người mánh
mung láu lỉnh, chuyên gây xáo trộn gây chia rẽ trong Cộng
Đồng tị nạn mà? Nào, hãy rút tay lại, tức khắc không
còn những xáo trộn hay chia rẽ trong Cộng Đồng tị nạn
nữa. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam đừng ra cái điều 'thương
quá là thương' những người Việt Nam ở nước ngoài, mà
cứ thập thò hai ngón tay vừa kẹp tiền và kẹp miếng giấy
ban khen từ trong bóng tối đưa ra cho những tay sai nữa, coi
chừng có ngày bị bắt quả tang là cả hai bị lôi ra tòa
đó.
Họ
cũng nói một cách tổng quát là giải quyết có tình có
lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo
do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn
kết dân tộc,
Quí
vị có thấy là lãnh đạo cộng sản Việt Nam nói như thiệt
không? Tôi có cảm tưởng như họ đang nói với ai ở bên
ngoài trái đất chúng ta thì phải, vì nhân loại trên trái
đất này ai cũng hiểu cái bản chất của cộng sản, khi họ
nói đến đạo lý là cái thứ đạo lý xã hội chủ nghĩa
mà họ gọi là đạo đức cách mạng, mà họ định nghĩa
như thế này: đạo đức cách mạng là phải theo đảng,
chấp hành lệnh đảng, và chết cho đảng. Hoàn toàn không
hề mang ý nghĩa đạo đức dân tộc trong đó. Và qua định
nghĩa của họ, chúng ta hiểu là họ giải quyết trên cơ sở
theo lệnh đảng, không hơn không kém.
Còn
các vấn đề gì đó mà họ gọi là vấn đề nhân đạo
do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn
kết dân tộc. Không biết họ muốn nói đến vấn đề
gì đây? Đại đoàn kết có nghĩa là đứng sau lưng họ phải
không? Hay đại đoàn kết theo kiểu ông Chí Minh hồi năm 1945
kêu gọi các đảng phái không cộng sản đoàn kết chống
Pháp, để rồi bị ông Hồ cho thi hành một loạt những vụ
bắt cóc thủ tiêu các nhân vật lãnh đạo đó phải không?
Có một vấn đề nhân đạo lớn nhất và duy nhất mà lịch
sử để lại là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bội
ước khi xua toàn lực đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa
hơn 29 năm trước, bây giờ muốn công dân nước Việt Nam
Cộng Hòa cũ bao gồm Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại
hải ngoại, vì nhân đạo mà tha thứ hay sao đây?
Lãnh
đạo cộng sản Việt Nam muốn thực hiện đại đoàn kết
hả? Dễ lắm. Vào một ngày mát trời nào đó, hãy sắn tay
áo lên rồi gắn nụ cười trên môi mà công bố trên các
phương tiện truyền thông rằng: Kể từ hôm đó, toàn bộ
đảng cộng sản Việt Nam và tất cả các tổ chức ngoại
vi của đảng đều tự giải thể. Chánh phủ hiện tại tạm
thời điều hành đất nước, và có trách nhiệm tổ chức
Đại Hội Diên Hồng trong vòng 60 ngày, qui tụ tất cả các
thành phần trong xã hội, kể cả những tổ chức Cộng Đồng
Việt Nam hải ngoại khắp nơi trên thế giới, và những tổ
chức trong những Cộng Đồng đó. Đại Hội sẽ quyết định
phương thức thực hiện chế độ dân chủ tự do và thời
gian thực hiện. Tên nước, quốc kỳ, quốc ca, có thể do
Đại Hội chọn và quyết định tạm, hoặc sẽ dành quyền
cho Quốc Hội lập pháp sau này. Chỉ có thế là có đại đoàn
kết ngay mà chẳng cần kêu gọi gì cả.
Mà
bà con ơi! Cho dẫu họ có công bố như vậy đi nữa, bà con
trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại cũng
đừng tin vội nghe, mà phải chờ xem họ thực hiện cụ thể
như thế nào đã.
Đây
là mục tiêu thứ 8 mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam gọi
là nhiệm vụ chủ yếu, nguyên văn như sau: Các tổ chức
đảng, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương,
mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể
nhân dân theo chức năng nhiệm vụ của mình, tham gia tích cực
vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây
dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy Ban Về Người
Việt Nam Ở Nước Ngoài với các cơ quan hữu quan, với mặt
trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa
trong nước với ngoài nước. Củng cố và phát triển các
tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam
ở nước ngoài, như Hội Liên Lạc Với Người Việt Nam Ở
Nước Ngoài, các Hội Thân Nhân Kiều Bào, và các hình thức
tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc
điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú. Các cơ quan đại
diện ngoại giao ở nước ngoài, là một nhiệm vụ chính trị
quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ
những quyền lợi chính đáng của Người Việt Nam Ở Nước
Ngoài, tích cực chủ động tăng cường tiếp xúc vận động,
tuyên truyền và phổ biến chủ trương chính sách của đảng
với nhà nước tớì bà con.
Thưa
quí vị, vế thứ nhất trong mục tiêu này là lãnh đạo cộng
sản Việt Nam ra lệnh cho tất cả các tổ chức đảng,
các tổ chức nhà nước, và các tổ chức nhân dân, từ trung
ương đến địa phương, từ trong nước ra đến hải ngoại,
tùy theo chức năng mà tham gia tích cực vào cuộc tổng tấn
công Cộng Đồng tị nạn chúng ta, mà họ gọi là công tác
đối với người Việt nam ở nước ngoài.
Do
nội dung nghị quyết 36 đã thể hiện quyết định của lãnh
đạo cộng sản Việt Nam, vận dụng toàn lực thực hiện
cái quốc sách kiều vận, nên tôi gọi đó là cuộc tổng
tấn công Cộng Đồng tị nạn chúng ta, từ đó mà tôi trình
bày quan điểm một cuộc tổng phản công vào toàn lực của
họ, bằng phương thức xẻ các mục tiêu lớn của họ ra
từng mục tiêu nhỏ và đánh vào đó, chắc không quá đáng
hả quí vị?
Vế
thứ hai là họ ra lệnh cho toàn bộ máy cai trị của họ phải
củng
cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận
động người Việt Nam ở nước ngoài, như ội Hội Liên Lạc
Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, các Hội Thân Nhân Kiều
Bào, và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp
với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn
cư trú. Đây là nhiệm vụ của những tổ chức trong nước.
Quí
vị có thấy là họ luôn sử dụng nhóm chữ tự nguyện, chính
đáng, cũng như phù hợp với luật pháp quốc gia sở tại
không? Họ ra vẻ như mọi hoạt động của họ là chân chính
quí vị à! Nhưng quí vị, và nói chung là bà con trong Cộng
Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại, có thấm thía từ
những kinh nghiệm mồ hôi, máu, và nước mắt, khi bà con trực
tiếp hay gián tiếp dưới sự cai trị bởi chế độ độc
tài khắc nghiệt của lãnh đạo cộng sản Việt Nam không?
Tôi nghĩ là những kinh nghiệm đó luôn nhắc nhỡ bà con trong
Cộng Đồng tị nạn, lúc nào cũng thận trọng những gì cộng
sản nói nghe quí vị. Vì vậy mà khi họ nói những hình thức
tập hợp chính đáng, phải hiểu là họ hoặc tay sai của
họ sẽ dùng lời lẽ thân thương tha thiết, thậm chí nghe
rất nhân đạo, để dụ dỗ bà con tham gia tổ chức thiện
nguyện nào đó do họ lập ra, và khi hình thành rồi họ sẽ
dùng đồng mỹ kim dẫn dắt bà con trong những tổ chức đó
từng bước vào mục tiêu của họ. Khi bà con nhận ra được
những hoạt động của họ thì quá muộn nghe bà con. Lúc đó
bà con không nhúc nhích nỗi vì bà con bị xem là những người
tự nguyện mà, lúc đó bà con có muốn lôi họ ra tòa cũng
không được nữa. Chính đáng hay ý nguyện theo họ nói,
là như vậy đó bà con à!
Đến
vế thứ ba là họ ra lệnh cho những cơ quan của họ ở ngoài
nước rằng: các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước
ngoài, coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy
mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền
lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài, tích
cực chủ động tăng cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền
và phổ biến chủ trương chính sách của đảng với nhà nước
tớì bà con.
Quí
vị có nghe lãnh đạo cộng sản Việt Nam gọi chúng ta là
bà con không quí vị? Từ gọi chúng ta là bọn này bọn kia,
rồi xuống giọng gọi là Việt kiều yêu nước, lại xuống
giọng thêm nữa để gọi chúng ta là khúc ruột ly hương ngàn
dặm, đến gọi chúng ta là một bộ phận không thể tách
rời cộng đồng dân tộc, và trong mục tiêu thứ 8 này họ
gọi chúng ta là bà con.
Có
thiệt không quí vị? Quí vị có tin họ nỗi không? Cái bài
bản lùi một bước để tiến hai bước, cái kiểu xuống
một chân để nhảy cả hai chân, cũ lắm rồi phải không
quí vị? Nhưng xin quí vị trong Cộng Đồng tị nạn chúng
ta, cũng nên thận trọng để tránh bị họ lợi dụng nghe
quí vị. Xin được nhắc lại rằng, bất cứ hành động gì
thuộc loại mánh mung gian trá, là nghề của họ nghe quí vị!
Từ
mục tiêu 1 đến mục tiêu 7, lãnh đạo cộng sản Việt Nam
vẽ ra những mục tiêu cùng với cách tấn công chúng ta, mà
họ gọi là những nhiệm vụ chủ yếu và chi tiết hóa những
công tác phải làm. Đến mục tiêu thứ 8 này, họ ra lệnh
riêng cho những tổ chức trong nước, và cái lệnh riêng khác
cho những tổ chức ngoài nước.
Cuối
cùng là mục tiêu thứ 9. Trong mục tiêu này lãnh đạo cộng
sản Việt Nam ra chỉ thị chung như sau: Ủy Ban Về Người
Việt Nam Ở Nước Ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu
tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng
đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách
về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại
các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có
đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành, và một
số tỉnh, thành phố, có quan hệ nhiều với người Việt
Nam ở nước ngoài, cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo
trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ
sung kinh phí cho công tác này.
Trong
mục tiêu này, lãnh đạo cộng sản Việt Nam ra lệnh cho Ủy
Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, lo kiện toàn tổ chức
cùng phối trí nhân sự thích hợp cho nhiệm vụ mới. Đồng
thời, đặt bộ phận nhân viên cạnh các cơ quan ngoại giao
để điều hợp cuộc tổng tấn công Cộng Đồng Việt Nam
tị nạn cộng sản.
Cùng
lúc, họ cũng ra lệnh cho tất cả những tổ chức nào ở
trong nước có liên hệ nhiều với người Việt Nam ở nước
ngoài như những Hội gồm những người có thân nhân ở hải
ngoại, hỗ trợ các cơ quan lãnh đạo cuộc tổng tấn công
này.
Họ
cũng nói đến nhu cầu bổ sung kinh phí cho cuộc tổng tấn
công vào Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
nhưng không thấy họ chỉ định cơ quan nào cung cấp kinh phí,
và cung cấp bao nhiêu cho những cơ quan nào, hay nói tưởng
như chung chung nhưng chính trung ương cấp nguồn kinh phí bổ
sung cho kinh phí đầu tiên hồi tháng 4 năm 2003 chăng?
Tóm
lại. Nghị quyết 36 của lãnh đạo cộng sản Việt Nam,
là một thứ lệnh hành quân trong cuộc tổng tấn công vào
Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
với tất cả lực lượng từ đảng đến nhà nước, từ
nhân dân đến các phương tiện truyền thông, từ trong nước
ra đến hải ngoại.
Hẳn
quí vị cũng nhận thấy qua chứng nghiệm trong hơn 50 năm cai
trị, lãnh đạo cộng sản Việt Nam nói chân lý mà làm không
chân lý, nói cách mạng mà hành động phản cách mạng, nói
độc lập mà hành động chư hầu, nói dân chủ tự do mà
độc tài tàn bạo, nói quí trọng con người nhưng sử dụng
con người như một thứ phương tiện đa dụng. Cái gì nói
của dân đều là của đảng. Nói cách mạng là đầy tớ
của dân mà đè đầu cỡi cổ cướp đoạt của dân. Mỗi
khi nhắc đến tổ tiên là lúc lợi dụng tổ tiên cho mục
tiêu chính trị, nhưng khi nói đến đảng cộng sản là triệt
để phục vụ đảng. Cho nên nhóm lãnh đạo cộng sản Việt
Nam bị chống đối dữ dội theo qui luật mà họ thường áp
dụng: "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh". Đấu tranh
từ trong đảng ra đến dân, từ trong nước ra đến hải ngoại!
Rất
có thể quí vị cũng đồng ý với tôi rằng: Cách mạng, với
ý nghĩa chính trị cao đẹp của nó là xây dựng một xã hội
tốt hơn, mọi người sống trong đó, có tự do, có dân chủ,
có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Nhưng ông Hồ và nhóm lãnh
đạo cộng sản Việt Nam, hơn 50 năm gọi là làm cách mạng,
đã thay những điều tốt lẫn điều xấu bằng những điều
xấu hơn, thay những việc làm hay lẫn những việc làm dở
bằng những việc làm dở hơn, thay những cái mới lẫn cái
cũ bằng cái cũ hơn. Bởi vì, lãnh đạo cộng sản Việt
Nam, làm những điều hay rất dở, nhưng làm những điều dở
rất hay. Những điều hay là thuyết phục được mọi thành
phần dân tộc cùng quyết tâm xây dựng một xã hội dân chủ
công bằng, một xã hội luôn tạo cơ hội tiến thân cho mọi
người, một đất nước phát triển xứng hợp với khả năng
và tiềm năng quốc gia, xứng hợp từ tài nguyên nhân lực,
vật lực, đến tài lực. Những điều dở là những tiểu
xảo thấp hèn như ngăn chận những tràng hoa phúng điếu ông
Trần Độ, làm như thi hài ông Trần Độ sẽ ngồi dậy từ
trong quan tài nếu như ông thấy những tràng hoa đó vậy, những
tiểu xảo như khi đánh lừa hơn 200.000 quân nhân viên chức
cán bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ đi học tập 30 ngày nhưng nhốt
tù 17 năm, những hành động với muôn vàn hình thức kiểu
cách khác nhau trong một hệ thống tham ô nhũng lạm chằng
chịt bộ máy đảng bộ máy nhà nước, để bảo vệ sự
tồn tại của đảng, ..v..v.. .
Nhìn
lại lịch sử Việt Nam cận đại và đương đại, chưa thấy
nhóm lãnh đạo nào khắc nghiệt và tàn bạo như nhóm lãnh
đạo cộng sản Việt Nam. Chưa thấy nhóm lãnh đạo nào giết
người hằng loạt và giết một cách dã man như nhóm lãnh
đạo cộng sản Việt Nam. Cũng chưa thấy nhóm lãnh đạo nào
dối trá với đồng bào như nhóm lãnh đạo cộng sản Việt
Nam. Và lãnh đạo cộng sản Việt Nam, nếu không thể tự
lột xác để hòa nhập vào cộng đồng dân tộc, chỉ có
cách duy nhất là tất cả trong ngoài vùng lên lật đổ họ,
để xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do, và phát
triển xứng hợp với khả năng cùng tiềm năng quốc gia một
cách hài hòa giữa khoa học kỹ thuật với văn hoá dân tộc.
Mời quí vị nghe nhà văn cộng sản Dương Thu Hương và đảng
viên lão thành Hà Sĩ Phu, theo hai đảng viên này thì lãnh đạo
cộng sản Việt Nam đã đẩy hơn 10 triệu người miền bắc
vào cõi chết chỉ vì quyền lợi của đảng cộng sản, để
tạo nên những nấc thang cho một số đảng viên leo lên và
sử dụng quyền thế chiếm đoạt khối tài sản khổng lồ
của xã hội, và đưa quốc gia dân tộc xuống mức tệ hại
hơn bao giờ hết so với các quốc gia trong khu vực, kể từ
khi đảng cộng sản giẫm chân trên đất nước Việt Nam!
Rồi
quí vị có để ý là lãnh đạo cộng sản Việt Nam, luôn
miệng kêu gào chúng ta, kêu gào thế giới, hãy quên đi cái
quá khứ hoặc để quá khứ qua một bên, cái quá khứ mà
chính họ đã gây ra biết bao đau thương mất mát cho dân tộc,
biết bao điêu tàn cho tổ quốc, trong một giai đoạn lịch
sử đầy bi thương! Họ kêu gào hãy quên quá khứ, để quên
cái tội ác kinh hoàng của họ, để chúng ta hòa hợp với
họ mà giúp họ phát triển không? Nhưng có điều quí vị
thấy là họ kêu gào quên quá khứ, nhưng chính họ chưa bao
giờ và có thể tin chắc là họ không bao giờ chứng tỏ là
họ quên quá khứ hay để quá khứ qua một bên cả, bằng
chứng là họ vẫn độc tài, họ vẫn đàn áp bắt giữ bỏ
tù bất cứ ai ở trong nước mà dám phát biểu quan điểm
dân chủ tự do khác với quan điểm chính trị của họ. Vẫn
quan điểm như vậy xuất phát từ những cá nhân hay những
tổ chức hải ngoại, họ gắn cho cái tên là đi ngược lại
lợi ích dân tộc mà trong nghị quyết có nói đến biện pháp
xử lý thích đáng! Quí vị có thấy là họ đồng hóa họ
với dân tộc không? Nếu họ vì dân tộc thì họ hãy lột
xác bằng cách giải thể đảng cộng sản, tiến hành bầu
cử quốc hội lập hiến để soạn thảo Hiến Pháp trên căn
bản thể chế chính trị dân chủ tự do thật sự, vậy là
họ có điều kiện để hòa nhập vào cộng đồng dân tộc
rồi. Và rất có thể họ sẽ được hoan nghênh nữa, phải
không quí vị?
Vậy,
xin quí vị, nói chung là xin bà con trong Cộng Đồng tị nạn
cộng sản tại hải ngoại, cho dẫu quí vị quí bà con có
điều gì không bằng lòng cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
đi nữa, cũng xin vui lòng đừng bao giờ quên câu nói của
ông. Ông nói rằng: Đừng nghe những gì cộng sản nói,
mà hãy nhìn kỷ những gì cộng sản làm. Và bác sĩ Fred
Schwarz, người Úc Đại Lợi, đã bỏ ra gần hai chục năm
nghiên cứu về cộng sản, kết quả công trình của ông chỉ
gồm một câu ngắn gọn, là: Bạn có thể nghe cộng sản
nói, nhưng đừng bao giờ tin cộng sản. Hai câu nói trên
đây, cho đến bây giờ vẫn nguyên giá trị của nó. Và đây
là sự thật khách quan không ai phủ nhận được, ngoại trừ
nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, và những ai mắc bệnh
mất trí nhớ./.
Orlando, ngày 10 tháng
7 năm 2004.
Phạm Bá Hoa
|