4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Vườn Hoa Văn Nghệ
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức


Bình Luận

Việt Nam giáo dục và phát triển
Phạm Bá Hoa

Thưa quí vị, bài này do tham khảo bài Xét lại nguồn gốc và bản thể giáo dục Việt Nam của giáo sư Thạch Trung Giá, bài Ảnh hưởng giáo dục vào kinh tế quốc gia của ông Nguyễn Văn Thành, và bài Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2005 - 2007 của giáo sư Nguyễn Quốc Khải.

Giáo sư Thạch Trung Giá, là một trong những nhà giáo lão thành của Việt Nam Cộng Hòa cũ, ông dạy học gần như suốt cuộc đời tại Nha Trang, và đã góp phần đáng kể trong mục tiêu đào tạo khối trí thức trước năm 1975.

Bài viết mở đầu với đoạn văn như sau:

"Văn hóa là phần hồn của một nước. Chính văn hóa đã tạo ra mọi hoạt động của đời sống dân tộc. Do đó, những sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt chính trị, sinh hoạt trí thức, là những hình thái văn hóa. Văn hóa là văn minh, văn hóa cũng là giáo dục. Giáo dục là xây dựng cơ sở cho ngày mai thừa hưởng và vun bồi cho truyền thống hôm nay".

Thời cổ xưa, nhiệm vụ giáo dục không đè nặng lên học đường, vì vậy mà học đường cũng không đè nặng lên chánh quyền, cho nên chánh quyền cũng không có những kế hoạch qui mô với những chương trình sâu rộng và tinh vi như ngày nay. Thời xưa ấy được hiểu là thời nước ta bị Trung Hoa phong kiến cai trị, cơ sở giáo dục không nhiều bằng cơ sở tôn giáo. Từ đó nối dài đến thời độc lập nhà Ðinh, nhà Lê, nhà Lý, những vị cố vấn chính trị cũng là những vị thiền sư như Thiền sư Khuông Việt, Thiền sư Vạn Hạnh, ..v..v.. Khuynh hướng của chánh quyền thời ấy, thường kết tinh ý thức của dân tộc vào những môn thi, đề thi, để định chương trình làm kim chỉ nam trong học và thi. Nghĩa là, giáo dục thời xưa ấy rất đơn giản. Nhưng ngày nay, giáo dục là một guồng máy khổng lồ với những bộ phận phức tạp, từ tiểu học, hai bậc trung học, đến đại học, mà trong guồng máy này cần có sự phối hợp toàn diện, kể cả chánh quyền phải tạo môi trường cho hệ thống giáo dục tư nhân tham gia.

Giáo sư Giá nhấn mạnh:

"Nếu guồng máy giáo dục đã khó, nhiệm vụ của nhà giáo càng khó hơn khi mà đất nước thay đổi, và não trạng của dân tộc cũng không còn như xưa, vì tự nó đã không còn giống nó thì làm sao giống những người khác trong xã hội, mà sự mất còn của một nước là do giáo dục. Vì giáo dục đào tạo linh hồn, từ người lãnh đạo cao nhất đến những chuyên viên các ngành các cấp, đến toàn thể dân tộc, tất cả phải được trang bị một ý thức lành mạnh về cộng đồng. Nếu một nền giáo dục mô phỏng thiếu linh động, sẽ đào tạo một xã hội lệch lạc bệnh hoạn, và dân tộc đó chuẩn bị đưa nhau xuống vực thẳm".

Rồi ông tự hỏi:

"Giáo dục Việt Nam từ đâu đến, và sẽ dẫn dắt về đâu?" Ông cho rằng: "Hãy xét lại nền giáo dục hiện nay trước khi quá muộn! Chúng ta không thể nào làm công tác giáo dục như con trâu kéo cái cày theo đường hướng của người nào đó đã vạch sẵn. Từ mùa hè 1945, chánh phủ Trần Trọng Kim đã đưa ra một chương trình giáo dục, theo đó có sửa đổi nhưng chưa đi sâu vào nền tảng của giáo dục".

Tương tự như vậy, theo giáo sư Giá, chánh phủ lúc ấy có kế hoạch cử các phái đoàn du hành quan sát những cơ sở giáo dục ngoại quốc, và phương pháp giảng dạy của họ là điều cần thiết. Nhưng đó mới chỉ là cái ngọn của vấn đề.

Thưa quí vị, nền giáo dục Việt Nam, tôi quan niệm, phải là sự kết hợp hài hòa giữa những tinh hoa trong văn hóa dân tộc với những tiến bộ của thế giới về khoa học kỹ thuật, thích hợp với khả năng, tiềm năng, và hoàn cảnh xã hội Việt Nam. Quan niệm này thể hiện sự chọn lọc trong văn hóa dân tộc và chọn lọc trong khoa học kỹ thuật, bởi trong cả hai lãnh vực này có những điều thích hợp lẫn những điều không thích hợp cho hoàn cảnh đất nước.

Giáo sư Thạch Trung Giá nhận định:

"Ta đã mô phỏng giáo dục Pháp cho dẫu có sửa đổi nhưng là sửa đổi lặt vặt thôi. Vậy là phải xem nền giáo dục Pháp từ đâu đến? Năm 1789, khi dân Pháp đứng lên phá ngục Bastille lật đổ chế độ quân chủ, cũng có nghĩa là lật đổ nền giáo dục mà nhiều thế kỷ trước đó ảnh hưởng sâu đậm đường lối giáo dục của Giáo Hội. Ngay cả trường Ðại Học Sorbonne, cũng do một nhà tu sáng lập để giảng dạy thần học. Thế là giáo dục ly khai với Giáo Hội từ cuộc cách mạng ấy. Cũng từ đó, nền giáo dục Pháp nhằm mở mang trí thức, đào tạo chuyên viên các ngành khoa học, văn hóa, nhưng là thuần túy chuyên viên chớ không nhắm đào tạo con người. Bởi, nói đến con người là nói đến lý tưởng, nói đến đường hướng. Muốn đào tạo con người có lý tưởng, có đường hướng, phải dạy hẳn một thứ đạo đức hoặc cũ hoặc mới, phải dạy hẳn một quan niệm vũ trụ nhân sinh để làm kim chỉ nam giữa đường đời vạn nẻo, giữa cái thiện với cái ác, giữa cái giả với cái thật, chằng chịt giao nhau như một thứ mê hồn trận. Giáo dục của Pháp là đào tạo những cá nhân chủ nghĩa đến tột độ".

Sau khi dẫn ra những khuyết điểm của nền giáo dục từ sau cuộc cách mạng cuối thế kỷ 18 đến nay đã hơn hai trăm năm, ông đánh giá là giáo dục của nước Pháp không có cái gì để thay vào đó. Rõ nét hơn hết là họ không coi trọng vấn đề đức dục. Ông nhắc lại nhận xét của nhà văn học và sử học Gustave Sanson, rằng:

"Thời Trung cổ, người hiệp sĩ lập thân với Ðức Tin và Danh Dự. Ông cha chúng ta thời nhà Lý nhà Trần, đã lập thân với Ðại Hùng Ðại Lực Ðại Từ Bi, thời hậu bán nhà Trần về sau thì thay vào đó là Nhân Nghĩa Lễ Trí Tin". Rồi ông tự hỏi: "Bây giờ chúng ta được trang bị cái gì trước cơn lốc mọi chiều ý thức hệ?" Chính nền giáo dục của Pháp đã dẫn nước Pháp thua trận trong đệ nhị thế chiến. Dĩ nhiên thua thắng trong chiến tranh, chưa đủ để luận anh hùng, nhưng nước Pháp đã kém xa nước Nam Tư nhỏ bé, dân ít, vũ khí thô sơ. Nước Pháp lọt vào tay quân Ðức trong thời gian chớp nhoáng, trong khi Nam Tư cầm chân 20 sư đoàn thiện chiến của Ðức trong 6 năm liền, cuối cùng đã phản công chiến thắng. Sau chiến tranh cho đến ngày nay, Nam Tư đã ngang nhiên thách thức Liên Xô trong nỗ lực giữ vững chủ quyền quốc gia. Giáo sư Giá cho rằng: "Chính nền giáo dục sai lầm của Pháp đã dẫn đến sự thảm bại của họ".

Theo trình bày của giáo sư Thạch Trung Giá, tôi hiểu rằng: Giáo dục của Ðức của Nga đã đào tạo con người hăng say cuồng tín trước khi đào tạo họ trở thành chuyên viên, trong khi giáo dục Pháp chỉ đơn thuần đào tạo chuyên viên, nghĩa là họ không được trang bị một lý tưởng vững chắc. Vì vậy mà quân Pháp đã thua trận trong chớp nhoáng. Từ cách hiểu này, tôi liên tưởng đến nền giáo dục của Pháp với mục tiêu đào tạo tinh thần cá nhân chủ nghĩa, đã ảnh hưởng sâu đậm vào Việt Nam trong hơn 80 năm họ cai trị chúng ta. Trong thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa, giáo dục Việt Nam chúng ta có những lần thay đổi nhưng chưa thật sự thay đổi tận nền tảng. Những biến đổi từ trong suy nghĩ của những thế hệ trực tiếp tham gia trong chiến tranh bảo vệ dân chủ tự do, tôi nghĩ, là do những biến đổi tự nhiên của xã hội để thích nghi với nền văn minh Bắc Mỹ xâm nhập trong hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng trong suốt thời gian đó, khoa "quản trị học" chỉ mới bắt đầu xuất hiện.

Vậy, "có phải do không được trang bị một tinh thần trách nhiệm cộng đồng, nên những thế hệ công dân chưa có được sự phối hợp hài hòa trong những công tác xã hội quốc gia chăng? Và liệu có phải điều này, trong một mức độ nào đó, đã dẫn đến tình trạng phân hóa trong Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại chăng?" Dù có phải hay không phải thì sự thể cũng đang là như vậy.

Theo giáo sư Giá thì vũ khí không, chưa đủ, cần phải có một tinh thần. Ðừng quên, chúng ta thiếu thốn mọi thứ kỹ thuật, thì tinh thần phải được đánh giá là yếu tố sinh tử dùng làm nguyên động lực cho tất cả nền giáo dục của chúng ta. Nền giáo dục hiện nay của Việt Nam mô phỏng một cách dại dột theo nền giáo dục của Pháp, đã cho thấy những kết quả tai hại, và còn hứa hẹn một tương lai đen tối mịt mù nữa. Học lệch lạc trở thành ích kỷ và phá hoại. Thử nhìn vào xã hội chúng ta sẽ nhận ra người học càng cao càng ích kỷ, "tự coi xã hội phải đền bù những năm học của họ" với những chiếc xe những cái nhà, mà lẽ ra phải tự hỏi là với kiến thức của mình, mình phải có bao nhiêu bổn phận với quốc gia dân tộc. Ông lặp lại lời của một bác sĩ Tổng Trưởng Y Tế, cũng là giảng sư y khoa, ông nói: "Trừ một số ít sinh viên đáng khen, còn thì phần lớn học không ra gì mà muốn thi đậu để ra hốt bạc rồi lấy vợ giàu".

Giáo sư Thạch Trung Giá nhắc lại lời của sử gia người Pháp, ông Guizot: "Trí dục không đi đôi với đức dục, sẽ là nguồn gốc của tính kiêu ngạo, bất phục tùng, ích kỷ, và rất nguy hiểm cho xã hội".

Câu nói của ông có giá trị vượt thời gian, nhưng riêng trong xã hội Việt Nam từ mấy chục năm trở lại đây, đã cung cấp hằng ngàn hằng vạn trường hợp điển hình nhất, linh động nhất về hệ quả của nền giáo dục sai lầm. Những chứng minh đó nhiều đến nỗi chúng ta có cảm tưởng là nó kết tinh tất cả diễn biến của tâm trạng, và hun đúc những hành vi thành một định luật, bao hàm cả nhân lẫn quả trong cuộc sống. Nhân quả ở đây được hiểu là "gieo nhân nào thì gặt quả ấy", hay là nền giáo dục sai lầm dẫn đến xã hội đổ vỡ.

Thưa quí vị, trong phần mở đầu bài viết Hai căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam, tác giả Trần Trung Ðạo nhận định rằng: "Học sinhsinhviên Việt Nam -người viết xin thêm chữ xã hội chủ nghĩa cho rõ nghĩa- vẫn nghĩ khẩu hiệu: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người, là nguyên tác của ông Hồ. Thật ra câu nói đó lấy ý từ câu; nhất niên chi kế mạc như thọ cốc, thập niên chi kế mạc như thọ mộc, bách niên chi kế mạc như thọ nhân. Nghĩa là kế hoạch cho một năm không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho mười năm không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm không gì bằng trồng người. Và câu này trong văn học Trung Hoa thời phong kiến. Tác giả nhấn mạnh: Ðến nay đã hơn nửa thế kỷ, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát sinh các tình trạng mà giáo sư Hoàng Tụy gọi là "nguy kịch" như chạy theo bằng cấp, dẫn đến tình trạng học giả, bằng cấp giả, thuê viết luận án, ..v..v…

Từ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đó, nhà văn Dương Thu Hương, một đảng viên cộng sản cũ, đã trở thành người đàn bà chống đối nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam quyết liệt, bà nói: Tất cả tuyên truyền của nhà nước chỉ nhắm tạo một huyền thoại về chiến tranh, để tâng bốc họ, cũng là để đe dọa dân chúng. Người dân được dạy rằng: Dân tộc ta anh hùng, chúng ta nên kiêu hãnh về lịch sử của chúng ta. Ðó là nhà nước lừa dối người dân bằng niềm kiêu hãnh mù quáng của họ.

Ðến tác giả Nguyễn Văn Thành, ông mở đầu bài viết với câu: "Nền kinh tế của các quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào nền giáo dục của các quốc gia đó. Ðiều này có nghĩa là quốc gia nào có nền giáo dục tốt thì quốc gia đó sẽ có một nền kinh tế phát triển. Ðể so sánh các nền kinh tế của các quốc gia khác nhau, người ta dùng một danh từ chung là trị giá tổng sản phẩm nội địa, gọi tắt bằng Anh ngữ là GDP (Gross Domestic Product), và một loại tiền tệ chung là đồng mỹ kim".

Ðịnh nghĩa GDP của ông Thành cũng là định nghĩa của hai tác giả Phạm Ðỗ Chí và Phạm Quang Diệu, nhưng định nghĩa của ông Thành có thêm một chi tiết, như sau: "Tổng sản lượng nội địa = Chi tiêu của tư nhân + Chi tiêu của chánh phủ + Chi phí đầu tư + Trị giá xuất cảng - Trị giá nhập cảng = GDP. Theo tài liệu của Viện Tiền Tệ Quốc Tế phát hành tháng 4 năm 2005, tổng sản lượng nội địa của một số quốc gia trên thế giới trong năm 2004 tính bằng mỹ kim, như sau:

Hoa Kỳ dẫn đầu với 12.438 tỷ. Thứ hai là Nhật bản với 4.799 tỷ. Quí vị thấy quốc gia có trị giá tổng sản lượng nội địa cao thứ nhì trên thế giới là Nhật Bản, nhưng chỉ bằng 38% của Hoa Kỳ. Thứ ba là Cộng Hòa Liên Bang Ðức với 2.906 tỷ. Thứ tư là Anh quốc với 2.295 tỷ. Thứ hạng lần lượt là Pháp quốc, Trung Hoa cộng sản, Ý Ðại Lợi, Tây Ban Nha, Canada, thứ 10 là Nga, tiếp theo là Ấn Ðộ, Brazil, Ðại Hàn, Mexico, và Australia thứ hạng 15. Tổng sản lượng nội địa của Thái Lan là 174 tỷ đứng thứ hạng 35. Hong Kong 36. Singapore thứ 42. Việt Nam với 47 tỷ thứ hạng 61. Xin mở ngoặc, theo tài liệu của Tiến sĩ Lê Ðăng Doanh trình bày tại hội nghị mật Bộ Chính Trị ngày 2 tháng 11 năm 2004, thì dự phóng GDP năm 2004 khoảng 42 tỷ mỹ kim, nhưng theo tài liệu của Viện Tiền Tệ Quốc Tế thì GDP của Việt Nam là 47 tỷ. Vậy xin sử dụng con số 47 tỷ trong bài viết này. Xin đóng ngoặc. Nếu đem GDP của Việt Nam so với GDP của Ðại Hàn 720 tỷ, Việt Nam chỉ bằng 6.5% của Ðại Hàn. Nếu so với Thái Lan thì GDP Việt Nam chỉ bằng 27% GDP Thái Lan.

Tác giả Nguyễn Văn Thành cho rằng, giả thuyết mức phát triển của Việt Nam trong những năm qua đáng được khích lệ, vẫn tiếp tục phát triển như vậy trong bốn chục năm tới, thi dự phóng 43 năm sau -tức năm 2048- Việt Nam mới theo kịp Ðại Hàn năm 2005 này.

Nhìn vào nội bộ Việt Nam. GDP/đầu người năm 2004 là 566 mỹ kim, chia ( : ) cho 12 tháng, mỗi tháng được 47 mỹ kim, nhân (x) cho hối suất 15.800 đồng Việt Nam, bằng (=) 745.233 đồng Việt Nam. Trong khi lương tối thiểu của viên chức do nhà cầm quyền Việt Nam ấn định là 290.000 đồng/1 tháng, tương đương 19 mỹ kim/người/tháng. Hiện nay lương tháng cao nhất của Tổng Bí Thư hay Chủ Tịch Nước là 3.400.000 đồng Việt Nam, tương đương 220 mỹ kim. Một vài con số khác cũng về tiền lương. Kỹ sư mới tốt nghiệp lãnh lương khoảng 500.000 đồng/tháng, một bác sĩ mới ra trường khoảng 1.000.000 đồng/tháng, sĩ quan cấp Ðại Tá với lương tháng khoảng 1.800.000 đồng. Với đồng lương như vậy, thử hỏi do đâu mà các đảng viên cộng sản nắm quyền lãnh đạo các cấp các ngành lại có tài sản đến hằng triệu, hằng chục hằng trăm triệu mỹ kim? Chỉ có câu trả lời duy nhất là hối lộ, là tham nhũng, là ăn cắp ăn cướp ăn chận, ..v..v..

Tác giả Nguyễn Văn Thành nhấn mạnh: "Ngày nay, ai cũng biết là nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào trí óc con người, và nền kinh tế này gọi là nền kinh tế Tri Thức, mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thường nói đến. Nước nào có nhiều chất xám, tức trí thức hay khối óc, nghĩa là có nhiều chuyên viên cao cấp tài giỏi thì nền kinh tế sẽ phát triển".

Theo ông Thành, không cần suy nghĩ nhiều cũng có thể nhận ra quốc gia nào có nhiều nhân tài đoạt giải Nobel về y khoa, về khoa học, ..v.. v.., quốc gia đó sẽ là quốc gia phát triển. Và đây là vài con số trí thức của vài quốc gia đã đoạt giải Nobel: "Hoa Kỳ dẫn đầu với 270 nhà trí thức đoạt giải. Thứ nhì là Anh quốc với 101 vị.Thứ ba là Ðức quốc với 76 vị. ..v..v.."

Một câu hỏi nêu lên là "tại sao Hoa Kỳ có nhiều nhà bác học, nhiều kỹ sư danh tiếng như vậy? Câu giải đáp có ngay, đó là nền giáo dục Hoa Kỳ có một hệ thống giáo dục vừa qui mô, vừa thích hợp với hoàn cảnh từng vùng lãnh thổ, từ cơ sở, chương trình giáo dục, đội ngũ sư phạm, đến phương thức giảng dạy, dụng cụ hỗ trợ cho giảng dạy, ..v..v.. Trong hệ thống đó có những trường đặc biệt tạo môi trường phát triển nhanh cho những học sinh giỏi so với trình độ mà họ đang theo học chương trình bình thường. Ông Thành trưng dẫn tài liệu của Academic Ranking of World Universities, về những trường đại học danh tiếng trên thế giới trong năm 2004, như sau:

"Trong số 500 trường đại học danh tiếng nhất của thế giới, thì Hoa Kỳ dẫn đầu với 161 trường, thứ nhì là Anh quốc với 41 trường. Thứ ba là Ðức Quốc với 38 trường. Thứ tư là Nhật Bản với 33 trường. Thứ hạng lần lượt là Pháp với 20 trường, Canada với 12 trường, Ðại Hàn với 7 trường, Hong Kong với 5 trường, Trung Hoa cộng sản 4 trường, Ðài Loan với 3 trường, Singapore với 2 trường, và Nga với 2 trường đại học danh tiếng. Về phần Việt Nam, không có trường nào nằm trong số 500 trường đại học danh tiếng trên thế giới".

Tác giả Nguyễn Văn Thành, dẫn ra một danh sách 12 trường đại học được đánh giá là danh tiếng nhất, và một vài trường đại học khác, như sau:

Hạng 1: Ðại học Harvard, Hoa Kỳ.
Hạng 2: Ðại học Stanford, Hoa Kỳ.
Hạng 3: Ðại học Cambridge, Anh quốc.
Hạng 4: Ðại học Berkely, Hoa Kỳ.
Hạng 5: Ðại học MIT, hay là Học Viện Kỹ Thuật Massachussetts, Hoa Kỳ.
Hạng 6: Ðại học CIT, hay là Học Viện Kỹ Thuật California, Hoa Kỳ.
Hạng 7: Ðại học Princeton, Hoa Kỳ.
Hạng 8: Ðại học Oxford, Anh quốc.
Hạng 9: Ðại học Columbia, Hoa Kỳ.
Hạng 10: Ðại học Chicago, Hoa Kỳ.
Hạng 11: Ðại học Yale, Hoa Kỳ.
Hạng 12: Ðại học Cornell, Hoa Kỳ.
Hạng 14 là đại học Tokyo, Nhật Bản. Hạng 29 là đại học Texas/Austin, Hoa Kỳ. Hạng 33 là đại học Minnesota, Hoa Kỳ. Ðại học Paris quận 6, Pháp, hạng 44. Ðại học kỹ thuật Munich, Germany, hạng 45. Ðại học Paris quận 11 hạng 48. Hạng 49 là đại học Moscow của Nga. Ðại học Houston, Texas, Hoa Kỳ, hạng 103.

Với bảng xếp hạng của 12 trường đại học danh tiếng nhất thế giới, thì Hoa Kỳ có đến 10 trường, và 2 trường còn lại là của Anh quốc.

Thưa quí vị, với bảng ghi số lượng trường đại học, bảng xếp hạng về những trường đại học danh tiếng, bảng ghi số lượng những nhà trí thức đã đoạt giải Nobel, và bảng xếp hạng về tổng sản lượng nội địa trên thế giới trong năm 2004, không phải là riêng lẻ, mà là mối liên hệ hỗ tương nhau có khả năng tiêu biểu rõ nét về mức độ quan trọng của giáo dục gắn liền với mức độ phát triển kinh tế. Nói cách khác, giáo dục là nền tảng của phát triển con người, phát triển xã hội, phát triển quốc gia. Nói cách khác nữa, những quốc gia phát triển, là một chứng minh hùng hồn về nền kinh tế tri thức. Tri thức, là quốc gia có đường lối giáo dục đúng hướng, đào tạo những thế hệ công dân tốt, những chuyên viên chuyên gia thích ứng với nhu cầu phát triển và hoàn cảnh của đất nước, trong một thế giới hợp tác phát triển.

Như giáo sư Thạch Trung Giá phát biểu: "… Giáo dục nhắm đào tạo cái hồn, từ người lãnh đạo cao nhất đến những chuyên viên các ngành các cấp, đến toàn thể dân tộc, tất cả phải được trang bị một ý thức lành mạnh về cộng đồng. Nếu một nền giáo dục mô phỏng thiếu linh động, sẽ đào tạo một xã hội lệch lạc bệnh hoạn, và dân tộc đó chuẩn bị đưa nhau xuống vực thẳm".

Tại hà Nội, trong buổi họp mật của Bộ Chính Trị CSVN, tiến sĩ Lê Ðăng Doanh, một kính tế gia của CSVN, đã nói:

"Bây giờ quí vị thử nhìn vào xã hội Việt Nam một cách tổng quát để xem đảng với nhà nước có tạo được công bằng xã hội không? Chắc chắn là không. Cho nên hiện nay đảng với nhà nước Việt Nam đứng trước một thử thách rất lớn. Và nếu vẫn tiếp tục đi trên con đường này thì những mâu thuẫn những thách thức nội bộ ngày càng lớn hơn. Chính hệ thống chính trị Việt Nam ngày càng bộc lộ những bất cập, nó không còn phù hợp với những biến chuyển hiện nay, cho nên không đủ khả năng giải quyết những vấn đề căn bản và dài lâu của dân tộc. Thể chế chính trị của Việt Nam ta là chế độ độc đảng, chuyên chế, và không có dân chủ. Ngay trong đảng cũng không có dân chủ nữa. Thử hỏi, đã thảo luận về dân chủ trong mấy đại hội rồi nhưng thật sự đã đóng góp được bao nhiêu, hay đại hội chỉ là nơi để chạy những cái chức vụ? Hệ thống chính trị hiện nay là dày đặc tổ chức đảng. Chánh phủ có bộ nào Cục nào hay cơ quan nào, thì bên đảng cũng có đủ ngần ấy tổ chức. Lại thêm những tổ chức chính trị xã hội, tổ chức quần chúng, rồi tự xưng là đại diện cho quần chúng nhân dân. Một nhà nghiên cứu của ngoại quốc nói "đó là những người mạo danh quần chúng, và họ chính là những cánh tay nối dài và là những cái loa của đảng cộng sản, chớ không đại diện cho ai cả".

Thưa quí vị, tiếp đây là quan điểm của ông Ngô Văn Tuấn: Làm sao tạo nên phát triển toàn bộ? Tác giả mở đầu bài viết với câu: "Muốn thoát được thế chậm tiến và cục bộ, muốn thoát được những cặp mắt quốc tế nhìn vào bằng sự thương hại, Việt Nam phải thực sự phát triển mạnh mẽ. Người Việt Nam nên có suy nghĩ và nhận thức đúng đắn về cuộc diện mới trong đầu thế kỷ 21. Không ai thương chúng ta bằng chính chúng ta, cũng không ai thù ghét chúng ta bằng chính chúng ta".

Ông Tuấn ca ngợi ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, trong bài viết của ông Kiệt có đoạn như sau: "Chúng ta -tức lãnh đạo cộng sản Việt Nam- phải nghiêm khắc nhận trách nhiệm về mình, để nghiêm túc nhìn nhận những sai lầm chủ quan là nguyên nhân tất yếu. Có vậy mới đủ quyết tâm đi tới. Do chậm đổi mới tư duy, chúng ta tự trói mình trong những công thức đã bị cuộc sống vượt qua, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng và kéo dài, gây nhiều khó khăn thiếu thốn cho nhân dân vốn đã từng chịu đựng bao gian khó trong ngót nửa thế kỷ qua."

Ông Tuấn nhận định rằng: "Có những vấn đề sâu thẳm trong cuộc chiến mà 30 năm sau mới nhận ra được: "Tất cả là người Việt Nam".

Tôi nghĩ, dường như ông Tuấn chỉ mới nhận ra tất cả đều là Việt Nam, "nhưng chưa nhận ra người Việt Nam như thế nào?" Theo tôi, có hai mẫu người Việt Nam: "Một theo cộng sản độc tài, chủ nghĩa cộng sản, và một kia theo dân chủ tự do". Ðây là sự thật rõ ràng, không ai phủ nhận được nó.

Nguyên văn đoạn dưới đây cho thấy ông Tuấn đồng quan điểm với ông Kiệt, ông Tuấn viết: "Công việc quan trọng trong hiện tại là nhà nước Việt Nam đang vận động cổ vũ cho những người Việt hải ngoại trở về đóng góp và xây dựng cho sự phát triển đất nước. Ðóng góp cho sự phát triển và phú cường của dân tộc và tổ quốc Việt Nam là bổn phận và trách nhiệm của mọi người Việt Nam trong và ngoài nước, cộng sản và không cộng sản …"

Thưa quí vị, với tập quán sinh hoạt dân chủ, mỗi người đều có quyền bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Trong ý nghĩa đó, tôi xin góp một quan điểm. Trước hết, tôi chỉ đồng ý với ông Tuấn rằng: Trách nhiệm xây dựng đất nước là bổn phận và trách nhiệm của mọi người Việt Nam, nhưng tôi xin phép không đồng ý với ông Tuấn cái đoạn mà ông Tuấn nói đó là trách nhiệm của người cộng sản lẫn người không cộng sản. Tôi không nói tất cả người cộng sản, mà tôi chỉ nói nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, vì họ là những người nắm quyền lực tuyệt đối, đã bắn giết tù đày nhục mạ rồi tịch thu chiếm đoạt tất cả tài sản, thôi thì biết bao thống khổ vừa trút vừa dập lên đầu những người không chấp nhận cộng sản. Bây giờ ông Tuấn gắn cho những người không cộng sản cái trách nhiệm đó như người cộng sản là nghĩa làm sao?

Quan điểm dưới đây mà tôi đã đưa lên NET, cũng đã gởi thư về Việt Nam qua đường bưu điện cho ông Vờ Văn Kiệt với ông Phan Văn Khải, nhưng không rờ là có đến tay hai ông này hay không. Quan điểm của tôi chỉ xoáy vào điều ông Kiệt cũng như ông Khải -cựu Thủ Tướng và đương kim Thủ Tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lúc bấy giờ- nói là mong muốn khép lại cái quá khứ đau thương của 30 năm trước để cùng nhau xây dựng đất nước, cùng nghĩa với ông Tuấn khi cho rằng xây dựng đất nước là bổn phận và trách nhiệm của người Việt Nam trong nước ngoài nước, cộng sản lẫn không cộng sản

Và đây là quan điểm của tôi, của một người tị nạn cộng sản: "Nay là năm 2005 -tức 30 năm sau chiến tranh- hai ông ra cái điều như là người cộng sản tử tế là sẵn lòng khép lại cái quá khứ đó. Về phần tôi, khép lại cái quá khứ đau thương tàn bạo ấy là điều rất nên, để cùng nhau xây dựng đất nước, cho dẫu là quá muộn. Thế nhưng vấn đề đặt ra "ai có trách nhiệm khép lại? Chẳng lẽ Cộng Ðồng tị nạn chúng tôi? Chính lãnh đạo cộng sản Việt Nam có trách nhiệm phải khép lại cái quá khứ độc ác tàn bạo do chính họ gây ra trên thể xác và tâm hồn của mọi người dân Việt. Ðây là sự thật khách quan mà họ không thể nào phủ nhận được, cũng không thể nào ngụy biện được. Nhưng "khép lại" như thế nào đây? Tôi vẫn hiểu rằng, lịch sử là không thể thay đổi, nhưng có những điều sai trong lịch sử vẫn sửa được trong hiện tại, để cùng hướng đến một tương lai tốt đẹp. Nghĩa là, họ hãy làm ngược lại những gì mà họ đã làm sai từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 và sau đó, mà rõ ràng nhất là tôi tạm qui vào năm vấn đề sau đây:

- Vấn đề thứ nhất. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những ngày trước đó, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang trong các Tổng Y Viện và Quân y Viện, quân cộng sản đã vô cùng tàn nhẫn khi quẳng những thương phế binh ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, rồi họ bảo "khép lại" là khép làm sao? Bây giờ họ có trách nhiệm bồi thường tổn hại vật chất lẫn tinh thần cho thành phần thương phế binh VNCH. Ðó là hành động sửa sai để khép lại.

- Vấn đề thứ hai. Họ đã cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn cùng những tài sản khác của chúng tôi, mà họ sử dụng nhiều nhóm chữ khác nhau để che đậy cái gian trá lọc lừa của họ. Tài sản của chúng tôi bị họ chiếm đoạt, rồi bảo chúng tôi "khép lại" là khép làm sao? Bây giờ lãnh đạo CSVN phải hoàn trả tất cả những thứ ấy lại, đồng thời bồi thường thiệt hại trên những tài sản ấy. Ðó là hành động sửa sai để khép lại.

- Vấn đề thứ ba. Họ không qua một cơ quan luật pháp nào khi bắt giam 222.809 quân nhân viên chức cán bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ, đưa vào 200 trại tập trung trong mục đích tẩy não mà họ gọi là "cải tạo", và hành hạ tinh thần lẫn thể xác cho đến 17 năm mới thả hằng trăm người cuối cùng, rồi bảo chúng tôi "khép lại" là khép làm sao? Bây giờ họ phải bồi thường thiệt hại vật chất lẫn tinh thần cho ngần ấy tù nhân chính trị chúng tôi trong ngần ấy thời gian bị giam giữ. Ðó là hành động sửa sai để khép lại.

- Vấn đề thứ tư. Chắc ông cựu Thủ Tướng không thể nào quên trong 10 năm đầu kể từ tháng 4 năm 1975, khi mà những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ không thể sống nổi chính sách kềm kẹp chính trị nên đành phải liều chết vượt biên vượt biển tìm tự do với cái giá phải trả thật là khủng khiếp! Lúc ấy, các ông gọi chúng tôi là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc, bọn đĩ điếm lưu manh, bọn rác rưởi cặn bã của xã hội, ..v.. v... Thôi thì họ dùng tất cả những chữ nghĩa nào mà chửi rủa được là mang ra sử dụng để xỉ vả nhục mạ chúng tôi, rồi bảo chúng tôi 'khép lại' là khép làm sao? Bây giờ Bộ Chính Trị họ phải chánh thức xin lỗi Cộng Ðồng tị nạn tại hải ngoại, và tuyên bố rút lại những lời sỉ nhục chúng tôi. Ðó là hành động sửa sai để khép lại.

- Và vấn đề thứ năm. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000 người Việt Nam đã tròn bổn phận công dân với quốc gia dân tộc, tưởng là yên bình vĩnh cửu trong lòng đất nơi đây, nhưng với bản chất vô nhân của chế độ độc tài, họ đã "thêm một lần tàn sát thi thể các tử sĩ qua hành động đào xới mồ mả, vừa thỏa lòng thù hận của kẻ chiến thắng do bản chất gian trá vi phạm những điều mà họ đã ký kết, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản riêng, rồi bảo chúng tôi "khép lại" là khép làm sao? Bây giờ lãnh đạo CSVN phải hoàn chỉnh lại phần cấu trúc toàn cảnh như lúc họ tàn phá, kể cả tượng Thương Tiếc. Ðó là hành động sửa sai để khép lại.

Nếu họ hành động được như vậy, dĩ nhiên là họ phải tốn một ngân khoản trong ngân sách, nhưng chắc chắn là ngân sách sẽ được gia tăng nhanh chóng khi mà Cộng Ðồng hải ngoại chấp sự sửa sai hoàn chỉnh của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, có thể sẽ đóng góp nhân lực, tài lực, chung sức xây dựng quê hương Việt Nam phát triển nhanh hơn. Chớ họ nói theo cái ngôn ngữ mà ông Hà Sĩ Phu -một đảng viên cộng sản lão thành- gọi là thứ "ngôn ngữ lộn ngược trong xã hội xã hội chủ nghĩa" ngày nay, thì làm sao người Việt Nam không chấp nhận cộng sản nói chung, và người Việt Nam trong Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói riêng, tin họ được".

Cuối năm 2006, một văn kiện của Thủ Tướng cộng sản Việt Nam quyết định chuyển "nghĩa trang quân đội Biên Hòa" của Việt Nam Cộng Hòa cũ sang hành chánh quản trị. Có người vội vàng cho rằng, đó là hành động có vẻ như lãnh đạo cộng sản Việt Nam muốn biểu lộ thái độ hòa giải hòa hợp! Tôi cho rằng, lãnh đạo cộng sản Việt Nam không hề có thái độ hòa giải hòa hợp gì cả, chẳng qua là họ thấy có thể khai thác túi tiền của thân nhân những tử sĩ trong mồ, nhất là thân nhân từ ngoại quốc về, sẵn lòng hào phóng trong dịch vụ chăm sóc mồ mả người thân, khi có dịch vụ nghĩa trang tôi tin là họ sẽ thành lập để điều hành nghĩa trang mà họ gọi nghĩa trang dân sự. Xin quí vị đừng bao giờ tin cộng sản, cho đến khi những quyết định hay những lời phát biểu của họ trở thành sự thật. Dối trá là một trong bản chất của chủ nghĩa cộng sản mà.

Tóm lại. Giáo dục là nền tảng phát triển đất nước. Muốn đất nước phát triển, giáo dục phải đào tạo con người trước, hoặc cùng lúc với đào tạo chuyên viên chuyên gia theo nhu cầu các ngành sinh hoạt quốc gia. Nhưng với chế độ chính trị độc tài dẫn đến cấu trúc guồng máy xã hội Việt Nam hiện nay, nền giáo dục chỉ đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục chế độ, cho nên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có những công dân để xây dựng đất nước. Mặt khác, hơn mười năm qua, lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước, không còn chỗ dựa vào điều mà họ gọi là lý tưởng cộng sản từ khi Liên Sô và khối các quốc gia cộng sản Ðông Âu sụp đổ, nên họ dựa vào hệ thống tham nhũng chằng chịt dọc ngang trên dưới phủ trùm toàn xã hội để tồn tại, tuy họ vẫn tuyên bố là quyết tâm diệt tham nhũng, nhưng qua hành động đã chứng tỏ họ không thật sự quyết tâm tận diệt, bởi cấu trúc của chế độ độc tài cho phép họ có quyền lực vô hạn và tuyệt đối, kể cả quyền tham nhũng. Và chính họ là thành phần tham nhũng hơn bất cứ thành phần nào khác.

Nếu lãnh đạo cộng sản Việt Nam thật lòng muốn xây dựng một đất nước phát triển, khả dĩ có thể so sánh với các quốc gia không bị cộng sản cai trị, chỉ có lộ trình duy nhất để đạt đến đó, là phải chuyển đổi chế độ cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, mà là chuyển đổi thật sự chớ không như cái kiểu "gắn theo cái đuôi định hướng nào cả". Nếu không, chỉ có cách duy nhất là sự vùng dậy của người dân lật đổ họ mà thôi. Tôi tin chắc rằng sự sụp đổ của lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhất thiết sẽ xảy ra, và là sụp đổ do bạo loạn ngay trong nước./.

Houston, tháng 9 năm 2005
Bổ sung tháng 1 năm 2007.
Phạm Bá Hoa
 

Đầu trang