| Thưa quí vị, bài này
do tham khảo bài Xét lại nguồn gốc và bản thể giáo dục
Việt Nam của giáo sư Thạch Trung Giá, bài Ảnh hưởng giáo
dục vào kinh tế quốc gia của ông Nguyễn Văn Thành, và bài
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2005 - 2007 của giáo sư Nguyễn
Quốc Khải.
Giáo sư Thạch Trung Giá,
là một trong những nhà giáo lão thành của Việt Nam Cộng
Hòa cũ, ông dạy học gần như suốt cuộc đời tại Nha Trang,
và đã góp phần đáng kể trong mục tiêu đào tạo khối trí
thức trước năm 1975.
Bài viết mở đầu với
đoạn văn như sau:
"Văn hóa là phần hồn
của một nước. Chính văn hóa đã tạo ra mọi hoạt động
của đời sống dân tộc. Do đó, những sinh hoạt kinh tế,
sinh hoạt chính trị, sinh hoạt trí thức, là những hình thái
văn hóa. Văn hóa là văn minh, văn hóa cũng là giáo dục. Giáo
dục là xây dựng cơ sở cho ngày mai thừa hưởng và vun bồi
cho truyền thống hôm nay".
Thời cổ xưa, nhiệm
vụ giáo dục không đè nặng lên học đường, vì vậy mà
học đường cũng không đè nặng lên chánh quyền, cho nên
chánh quyền cũng không có những kế hoạch qui mô với những
chương trình sâu rộng và tinh vi như ngày nay. Thời xưa ấy
được hiểu là thời nước ta bị Trung Hoa phong kiến cai trị,
cơ sở giáo dục không nhiều bằng cơ sở tôn giáo. Từ đó
nối dài đến thời độc lập nhà Ðinh, nhà Lê, nhà Lý, những
vị cố vấn chính trị cũng là những vị thiền sư như Thiền
sư Khuông Việt, Thiền sư Vạn Hạnh, ..v..v.. Khuynh hướng
của chánh quyền thời ấy, thường kết tinh ý thức của
dân tộc vào những môn thi, đề thi, để định chương trình
làm kim chỉ nam trong học và thi. Nghĩa là, giáo dục thời
xưa ấy rất đơn giản. Nhưng ngày nay, giáo dục là một guồng
máy khổng lồ với những bộ phận phức tạp, từ tiểu học,
hai bậc trung học, đến đại học, mà trong guồng máy này
cần có sự phối hợp toàn diện, kể cả chánh quyền phải
tạo môi trường cho hệ thống giáo dục tư nhân tham gia.
Giáo sư Giá nhấn mạnh:
"Nếu guồng máy giáo
dục đã khó, nhiệm vụ của nhà giáo càng khó hơn khi mà
đất nước thay đổi, và não trạng của dân tộc cũng không
còn như xưa, vì tự nó đã không còn giống nó thì làm sao
giống những người khác trong xã hội, mà sự mất còn của
một nước là do giáo dục. Vì giáo dục đào tạo linh hồn,
từ người lãnh đạo cao nhất đến những chuyên viên các
ngành các cấp, đến toàn thể dân tộc, tất cả phải được
trang bị một ý thức lành mạnh về cộng đồng. Nếu một
nền giáo dục mô phỏng thiếu linh động, sẽ đào tạo một
xã hội lệch lạc bệnh hoạn, và dân tộc đó chuẩn bị
đưa nhau xuống vực thẳm".
Rồi ông tự hỏi:
"Giáo dục Việt Nam từ
đâu đến, và sẽ dẫn dắt về đâu?" Ông cho rằng: "Hãy
xét lại nền giáo dục hiện nay trước khi quá muộn! Chúng
ta không thể nào làm công tác giáo dục như con trâu kéo cái
cày theo đường hướng của người nào đó đã vạch sẵn.
Từ mùa hè 1945, chánh phủ Trần Trọng Kim đã đưa ra một
chương trình giáo dục, theo đó có sửa đổi nhưng chưa đi
sâu vào nền tảng của giáo dục".
Tương tự như vậy,
theo giáo sư Giá, chánh phủ lúc ấy có kế hoạch cử các
phái đoàn du hành quan sát những cơ sở giáo dục ngoại quốc,
và phương pháp giảng dạy của họ là điều cần thiết.
Nhưng đó mới chỉ là cái ngọn của vấn đề.
Thưa quí vị, nền
giáo dục Việt Nam, tôi quan niệm, phải là sự kết hợp hài
hòa giữa những tinh hoa trong văn hóa dân tộc với những tiến
bộ của thế giới về khoa học kỹ thuật, thích hợp với
khả năng, tiềm năng, và hoàn cảnh xã hội Việt Nam. Quan
niệm này thể hiện sự chọn lọc trong văn hóa dân tộc và
chọn lọc trong khoa học kỹ thuật, bởi trong cả hai lãnh
vực này có những điều thích hợp lẫn những điều không
thích hợp cho hoàn cảnh đất nước.
Giáo sư Thạch Trung Giá
nhận định:
"Ta đã mô phỏng giáo
dục Pháp cho dẫu có sửa đổi nhưng là sửa đổi lặt vặt
thôi. Vậy là phải xem nền giáo dục Pháp từ đâu đến?
Năm 1789, khi dân Pháp đứng lên phá ngục Bastille lật đổ
chế độ quân chủ, cũng có nghĩa là lật đổ nền giáo dục
mà nhiều thế kỷ trước đó ảnh hưởng sâu đậm đường
lối giáo dục của Giáo Hội. Ngay cả trường Ðại Học Sorbonne,
cũng do một nhà tu sáng lập để giảng dạy thần học. Thế
là giáo dục ly khai với Giáo Hội từ cuộc cách mạng ấy.
Cũng từ đó, nền giáo dục Pháp nhằm mở mang trí thức,
đào tạo chuyên viên các ngành khoa học, văn hóa, nhưng là
thuần túy chuyên viên chớ không nhắm đào tạo con người.
Bởi, nói đến con người là nói đến lý tưởng, nói đến
đường hướng. Muốn đào tạo con người có lý tưởng, có
đường hướng, phải dạy hẳn một thứ đạo đức hoặc
cũ hoặc mới, phải dạy hẳn một quan niệm vũ trụ nhân
sinh để làm kim chỉ nam giữa đường đời vạn nẻo, giữa
cái thiện với cái ác, giữa cái giả với cái thật, chằng
chịt giao nhau như một thứ mê hồn trận. Giáo dục của Pháp
là đào tạo những cá nhân chủ nghĩa đến tột độ".
Sau khi dẫn ra những
khuyết điểm của nền giáo dục từ sau cuộc cách mạng cuối
thế kỷ 18 đến nay đã hơn hai trăm năm, ông đánh giá là
giáo dục của nước Pháp không có cái gì để thay vào đó.
Rõ nét hơn hết là họ không coi trọng vấn đề đức dục.
Ông nhắc lại nhận xét của nhà văn học và sử học Gustave
Sanson, rằng:
"Thời Trung cổ, người
hiệp sĩ lập thân với Ðức Tin và Danh Dự. Ông cha chúng
ta thời nhà Lý nhà Trần, đã lập thân với Ðại Hùng Ðại
Lực Ðại Từ Bi, thời hậu bán nhà Trần về sau thì thay
vào đó là Nhân Nghĩa Lễ Trí Tin". Rồi ông tự hỏi: "Bây
giờ chúng ta được trang bị cái gì trước cơn lốc mọi
chiều ý thức hệ?" Chính nền giáo dục của Pháp đã
dẫn nước Pháp thua trận trong đệ nhị thế chiến. Dĩ nhiên
thua thắng trong chiến tranh, chưa đủ để luận anh hùng, nhưng
nước Pháp đã kém xa nước Nam Tư nhỏ bé, dân ít, vũ khí
thô sơ. Nước Pháp lọt vào tay quân Ðức trong thời gian chớp
nhoáng, trong khi Nam Tư cầm chân 20 sư đoàn thiện chiến của
Ðức trong 6 năm liền, cuối cùng đã phản công chiến thắng.
Sau chiến tranh cho đến ngày nay, Nam Tư đã ngang nhiên thách
thức Liên Xô trong nỗ lực giữ vững chủ quyền quốc gia.
Giáo sư Giá cho rằng: "Chính nền giáo dục sai lầm của Pháp
đã dẫn đến sự thảm bại của họ".
Theo trình bày của
giáo sư Thạch Trung Giá, tôi hiểu rằng: Giáo dục của
Ðức của Nga đã đào tạo con người hăng say cuồng tín trước
khi đào tạo họ trở thành chuyên viên, trong khi giáo dục
Pháp chỉ đơn thuần đào tạo chuyên viên, nghĩa là họ không
được trang bị một lý tưởng vững chắc. Vì vậy mà quân
Pháp đã thua trận trong chớp nhoáng. Từ cách hiểu này, tôi
liên tưởng đến nền giáo dục của Pháp với mục tiêu đào
tạo tinh thần cá nhân chủ nghĩa, đã ảnh hưởng sâu đậm
vào Việt Nam trong hơn 80 năm họ cai trị chúng ta. Trong thời
đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa, giáo dục Việt Nam chúng
ta có những lần thay đổi nhưng chưa thật sự thay đổi tận
nền tảng. Những biến đổi từ trong suy nghĩ của những
thế hệ trực tiếp tham gia trong chiến tranh bảo vệ dân chủ
tự do, tôi nghĩ, là do những biến đổi tự nhiên của xã
hội để thích nghi với nền văn minh Bắc Mỹ xâm nhập trong
hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng trong suốt thời gian đó, khoa
"quản trị học" chỉ mới bắt đầu xuất hiện.
Vậy, "có phải do
không được trang bị một tinh thần trách nhiệm cộng đồng,
nên những thế hệ công dân chưa có được sự phối hợp
hài hòa trong những công tác xã hội quốc gia chăng? Và liệu
có phải điều này, trong một mức độ nào đó, đã dẫn
đến tình trạng phân hóa trong Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn
cộng sản tại hải ngoại chăng?" Dù có phải hay không phải
thì sự thể cũng đang là như vậy.
Theo giáo sư Giá thì
vũ khí không, chưa đủ, cần phải có một tinh thần. Ðừng
quên, chúng ta thiếu thốn mọi thứ kỹ thuật, thì tinh thần
phải được đánh giá là yếu tố sinh tử dùng làm nguyên
động lực cho tất cả nền giáo dục của chúng ta. Nền giáo
dục hiện nay của Việt Nam mô phỏng một cách dại dột theo
nền giáo dục của Pháp, đã cho thấy những kết quả tai
hại, và còn hứa hẹn một tương lai đen tối mịt mù nữa.
Học lệch lạc trở thành ích kỷ và phá hoại. Thử nhìn
vào xã hội chúng ta sẽ nhận ra người học càng cao càng
ích kỷ, "tự coi xã hội phải đền bù những năm học của
họ" với những chiếc xe những cái nhà, mà lẽ ra phải tự
hỏi là với kiến thức của mình, mình phải có bao nhiêu
bổn phận với quốc gia dân tộc. Ông lặp lại lời của
một bác sĩ Tổng Trưởng Y Tế, cũng là giảng sư y khoa, ông
nói: "Trừ một số ít sinh viên đáng khen, còn thì phần lớn
học không ra gì mà muốn thi đậu để ra hốt bạc rồi lấy
vợ giàu".
Giáo sư Thạch Trung Giá
nhắc lại lời của sử gia người Pháp, ông Guizot: "Trí dục
không đi đôi với đức dục, sẽ là nguồn gốc của tính
kiêu ngạo, bất phục tùng, ích kỷ, và rất nguy hiểm cho
xã hội".
Câu nói của ông có
giá trị vượt thời gian, nhưng riêng trong xã hội Việt Nam
từ mấy chục năm trở lại đây, đã cung cấp hằng ngàn
hằng vạn trường hợp điển hình nhất, linh động nhất
về hệ quả của nền giáo dục sai lầm. Những chứng minh
đó nhiều đến nỗi chúng ta có cảm tưởng là nó kết tinh
tất cả diễn biến của tâm trạng, và hun đúc những hành
vi thành một định luật, bao hàm cả nhân lẫn quả trong cuộc
sống. Nhân quả ở đây được hiểu là "gieo nhân nào thì
gặt quả ấy", hay là nền giáo dục sai lầm dẫn đến xã
hội đổ vỡ.
Thưa quí vị, trong phần
mở đầu bài viết Hai căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt
Nam, tác giả Trần Trung Ðạo nhận định rằng: "Học sinhsinhviên
Việt Nam -người viết xin thêm chữ xã hội chủ nghĩa cho
rõ nghĩa- vẫn nghĩ khẩu hiệu: Vì lợi ích mười năm trồng
cây, vì lợi ích trăm năm trồng người, là nguyên tác của
ông Hồ. Thật ra câu nói đó lấy ý từ câu; nhất niên chi
kế mạc như thọ cốc, thập niên chi kế mạc như thọ mộc,
bách niên chi kế mạc như thọ nhân. Nghĩa là kế hoạch cho
một năm không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho mười năm
không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm không gì
bằng trồng người. Và câu này trong văn học Trung Hoa thời
phong kiến. Tác giả nhấn mạnh: Ðến nay đã hơn nửa thế
kỷ, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát sinh các
tình trạng mà giáo sư Hoàng Tụy gọi là "nguy kịch" như chạy
theo bằng cấp, dẫn đến tình trạng học giả, bằng cấp
giả, thuê viết luận án, ..v..v…
Từ nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa đó, nhà văn Dương Thu Hương, một đảng
viên cộng sản cũ, đã trở thành người đàn bà chống đối
nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam quyết liệt, bà nói: Tất
cả tuyên truyền của nhà nước chỉ nhắm tạo một huyền
thoại về chiến tranh, để tâng bốc họ, cũng là để đe
dọa dân chúng. Người dân được dạy rằng: Dân tộc ta anh
hùng, chúng ta nên kiêu hãnh về lịch sử của chúng ta. Ðó
là nhà nước lừa dối người dân bằng niềm kiêu hãnh mù
quáng của họ.
Ðến tác giả Nguyễn
Văn Thành, ông mở đầu bài viết với câu: "Nền kinh tế
của các quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào nền giáo dục
của các quốc gia đó. Ðiều này có nghĩa là quốc gia nào
có nền giáo dục tốt thì quốc gia đó sẽ có một nền kinh
tế phát triển. Ðể so sánh các nền kinh tế của các quốc
gia khác nhau, người ta dùng một danh từ chung là trị giá
tổng sản phẩm nội địa, gọi tắt bằng Anh ngữ là GDP
(Gross Domestic Product), và một loại tiền tệ chung là đồng
mỹ kim".
Ðịnh nghĩa GDP của
ông Thành cũng là định nghĩa của hai tác giả Phạm Ðỗ
Chí và Phạm Quang Diệu, nhưng định nghĩa của ông Thành có
thêm một chi tiết, như sau: "Tổng sản lượng nội địa =
Chi tiêu của tư nhân + Chi tiêu của chánh phủ + Chi phí đầu
tư + Trị giá xuất cảng - Trị giá nhập cảng = GDP. Theo tài
liệu của Viện Tiền Tệ Quốc Tế phát hành tháng 4 năm 2005,
tổng sản lượng nội địa của một số quốc gia trên thế
giới trong năm 2004 tính bằng mỹ kim, như sau:
Hoa Kỳ dẫn đầu
với 12.438 tỷ. Thứ hai là Nhật bản với 4.799 tỷ. Quí vị
thấy quốc gia có trị giá tổng sản lượng nội địa cao
thứ nhì trên thế giới là Nhật Bản, nhưng chỉ bằng 38%
của Hoa Kỳ. Thứ ba là Cộng Hòa Liên Bang Ðức với 2.906
tỷ. Thứ tư là Anh quốc với 2.295 tỷ. Thứ hạng lần lượt
là Pháp quốc, Trung Hoa cộng sản, Ý Ðại Lợi, Tây Ban Nha,
Canada, thứ 10 là Nga, tiếp theo là Ấn Ðộ, Brazil, Ðại Hàn,
Mexico, và Australia thứ hạng 15. Tổng sản lượng nội địa
của Thái Lan là 174 tỷ đứng thứ hạng 35. Hong Kong 36. Singapore
thứ 42. Việt Nam với 47 tỷ thứ hạng 61. Xin mở ngoặc, theo
tài liệu của Tiến sĩ Lê Ðăng Doanh trình bày tại hội nghị
mật Bộ Chính Trị ngày 2 tháng 11 năm 2004, thì dự phóng GDP
năm 2004 khoảng 42 tỷ mỹ kim, nhưng theo tài liệu của Viện
Tiền Tệ Quốc Tế thì GDP của Việt Nam là 47 tỷ. Vậy xin
sử dụng con số 47 tỷ trong bài viết này.
Xin đóng ngoặc.
Nếu đem GDP của Việt Nam so với GDP của Ðại Hàn 720 tỷ,
Việt Nam chỉ bằng 6.5% của Ðại Hàn. Nếu so với Thái Lan
thì GDP Việt Nam chỉ bằng 27% GDP Thái Lan.
Tác giả Nguyễn Văn
Thành cho rằng, giả thuyết mức phát triển của Việt Nam
trong những năm qua đáng được khích lệ, vẫn tiếp tục
phát triển như vậy trong bốn chục năm tới, thi dự phóng
43 năm sau -tức năm 2048- Việt Nam mới theo kịp Ðại Hàn năm
2005 này.
Nhìn vào nội bộ Việt
Nam. GDP/đầu người năm 2004 là 566 mỹ kim, chia ( : ) cho 12
tháng, mỗi tháng được 47 mỹ kim, nhân (x) cho hối suất 15.800
đồng Việt Nam, bằng (=) 745.233 đồng Việt Nam. Trong khi lương
tối thiểu của viên chức do nhà cầm quyền Việt Nam ấn
định là 290.000 đồng/1 tháng, tương đương 19 mỹ kim/người/tháng.
Hiện nay lương tháng cao nhất của Tổng Bí Thư hay Chủ Tịch
Nước là 3.400.000 đồng Việt Nam, tương đương 220 mỹ kim.
Một vài con số khác cũng về tiền lương. Kỹ sư mới tốt
nghiệp lãnh lương khoảng 500.000 đồng/tháng, một bác sĩ
mới ra trường khoảng 1.000.000 đồng/tháng, sĩ quan cấp Ðại
Tá với lương tháng khoảng 1.800.000 đồng. Với đồng lương
như vậy, thử hỏi do đâu mà các đảng viên cộng sản nắm
quyền lãnh đạo các cấp các ngành lại có tài sản đến
hằng triệu, hằng chục hằng trăm triệu mỹ kim? Chỉ có
câu trả lời duy nhất là hối lộ, là tham nhũng, là ăn cắp
ăn cướp ăn chận, ..v..v..
Tác giả Nguyễn Văn
Thành nhấn mạnh: "Ngày nay, ai cũng biết là nền kinh tế
quốc gia phụ thuộc vào trí óc con người, và nền kinh tế
này gọi là nền kinh tế Tri Thức, mà lãnh đạo cộng sản
Việt Nam thường nói đến. Nước nào có nhiều chất xám,
tức trí thức hay khối óc, nghĩa là có nhiều chuyên viên
cao cấp tài giỏi thì nền kinh tế sẽ phát triển".
Theo ông Thành, không
cần suy nghĩ nhiều cũng có thể nhận ra quốc gia nào có nhiều
nhân tài đoạt giải Nobel về y khoa, về khoa học, ..v.. v..,
quốc gia đó sẽ là quốc gia phát triển. Và đây là vài con
số trí thức của vài quốc gia đã đoạt giải Nobel: "Hoa
Kỳ dẫn đầu với 270 nhà trí thức đoạt giải. Thứ nhì
là Anh quốc với 101 vị.Thứ ba là Ðức quốc với 76 vị.
..v..v.."
Một câu hỏi nêu lên
là "tại sao Hoa Kỳ có nhiều nhà bác học, nhiều kỹ sư danh
tiếng như vậy? Câu giải đáp có ngay, đó là nền giáo dục
Hoa Kỳ có một hệ thống giáo dục vừa qui mô, vừa thích
hợp với hoàn cảnh từng vùng lãnh thổ, từ cơ sở, chương
trình giáo dục, đội ngũ sư phạm, đến phương thức giảng
dạy, dụng cụ hỗ trợ cho giảng dạy, ..v..v.. Trong hệ thống
đó có những trường đặc biệt tạo môi trường phát triển
nhanh cho những học sinh giỏi so với trình độ mà họ đang
theo học chương trình bình thường. Ông Thành trưng dẫn tài
liệu của Academic Ranking of World Universities, về những trường
đại học danh tiếng trên thế giới trong năm 2004, như sau:
"Trong số 500 trường
đại học danh tiếng nhất của thế giới, thì Hoa Kỳ dẫn
đầu với 161 trường, thứ nhì là Anh quốc với 41 trường.
Thứ ba là Ðức Quốc với 38 trường. Thứ tư là Nhật Bản
với 33 trường. Thứ hạng lần lượt là Pháp với 20 trường,
Canada với 12 trường, Ðại Hàn với 7 trường, Hong Kong với
5 trường, Trung Hoa cộng sản 4 trường, Ðài Loan với 3 trường,
Singapore với 2 trường, và Nga với 2 trường đại học danh
tiếng. Về phần Việt Nam, không có trường nào nằm trong
số 500 trường đại học danh tiếng trên thế giới".
Tác giả Nguyễn Văn
Thành, dẫn ra một danh sách 12 trường đại học được đánh
giá là danh tiếng nhất, và một vài trường đại học khác,
như sau:
Hạng 1: Ðại học Harvard,
Hoa Kỳ.
Hạng 2: Ðại học Stanford,
Hoa Kỳ.
Hạng 3: Ðại học Cambridge,
Anh quốc.
Hạng 4: Ðại học Berkely,
Hoa Kỳ.
Hạng 5: Ðại học MIT,
hay là Học Viện Kỹ Thuật Massachussetts, Hoa Kỳ.
Hạng 6: Ðại học CIT,
hay là Học Viện Kỹ Thuật California, Hoa Kỳ.
Hạng 7: Ðại học Princeton,
Hoa Kỳ.
Hạng 8: Ðại học Oxford,
Anh quốc.
Hạng 9: Ðại học Columbia,
Hoa Kỳ.
Hạng 10: Ðại học
Chicago, Hoa Kỳ.
Hạng 11: Ðại học
Yale, Hoa Kỳ.
Hạng 12: Ðại học
Cornell, Hoa Kỳ.
Hạng 14 là đại học
Tokyo, Nhật Bản. Hạng 29 là đại học Texas/Austin, Hoa Kỳ.
Hạng 33 là đại học Minnesota, Hoa Kỳ. Ðại học Paris quận
6, Pháp, hạng 44. Ðại học kỹ thuật Munich, Germany, hạng
45. Ðại học Paris quận 11 hạng 48. Hạng 49 là đại học
Moscow của Nga. Ðại học Houston, Texas, Hoa Kỳ, hạng 103.
Với bảng xếp hạng
của 12 trường đại học danh tiếng nhất thế giới, thì
Hoa Kỳ có đến 10 trường, và 2 trường còn lại là của
Anh quốc.
Thưa quí vị, với
bảng ghi số lượng trường đại học, bảng xếp hạng về
những trường đại học danh tiếng, bảng ghi số lượng những
nhà trí thức đã đoạt giải Nobel, và bảng xếp hạng về
tổng sản lượng nội địa trên thế giới trong năm 2004,
không phải là riêng lẻ, mà là mối liên hệ hỗ tương nhau
có khả năng tiêu biểu rõ nét về mức độ quan trọng của
giáo dục gắn liền với mức độ phát triển kinh tế. Nói
cách khác, giáo dục là nền tảng của phát triển con người,
phát triển xã hội, phát triển quốc gia. Nói cách khác nữa,
những quốc gia phát triển, là một chứng minh hùng hồn về
nền kinh tế tri thức. Tri thức, là quốc gia có đường lối
giáo dục đúng hướng, đào tạo những thế hệ công dân
tốt, những chuyên viên chuyên gia thích ứng với nhu cầu phát
triển và hoàn cảnh của đất nước, trong một thế giới
hợp tác phát triển.
Như giáo sư Thạch
Trung Giá phát biểu: "… Giáo dục nhắm đào tạo cái hồn,
từ người lãnh đạo cao nhất đến những chuyên viên các
ngành các cấp, đến toàn thể dân tộc, tất cả phải được
trang bị một ý thức lành mạnh về cộng đồng. Nếu một
nền giáo dục mô phỏng thiếu linh động, sẽ đào tạo một
xã hội lệch lạc bệnh hoạn, và dân tộc đó chuẩn bị
đưa nhau xuống vực thẳm".
Tại hà Nội, trong buổi
họp mật của Bộ Chính Trị CSVN, tiến sĩ Lê Ðăng Doanh,
một kính tế gia của CSVN, đã nói:
"Bây giờ quí vị thử
nhìn vào xã hội Việt Nam một cách tổng quát để xem đảng
với nhà nước có tạo được công bằng xã hội không? Chắc
chắn là không. Cho nên hiện nay đảng với nhà nước Việt
Nam đứng trước một thử thách rất lớn. Và nếu vẫn tiếp
tục đi trên con đường này thì những mâu thuẫn những thách
thức nội bộ ngày càng lớn hơn. Chính hệ thống chính trị
Việt Nam ngày càng bộc lộ những bất cập, nó không còn
phù hợp với những biến chuyển hiện nay, cho nên không đủ
khả năng giải quyết những vấn đề căn bản và dài lâu
của dân tộc. Thể chế chính trị của Việt Nam ta là chế
độ độc đảng, chuyên chế, và không có dân chủ. Ngay trong
đảng cũng không có dân chủ nữa. Thử hỏi, đã thảo luận
về dân chủ trong mấy đại hội rồi nhưng thật sự đã
đóng góp được bao nhiêu, hay đại hội chỉ là nơi để
chạy những cái chức vụ? Hệ thống chính trị hiện nay là
dày đặc tổ chức đảng. Chánh phủ có bộ nào Cục nào
hay cơ quan nào, thì bên đảng cũng có đủ ngần ấy tổ chức.
Lại thêm những tổ chức chính trị xã hội, tổ chức quần
chúng, rồi tự xưng là đại diện cho quần chúng nhân dân.
Một nhà nghiên cứu của ngoại quốc nói "đó là những người
mạo danh quần chúng, và họ chính là những cánh tay nối dài
và là những cái loa của đảng cộng sản, chớ không đại
diện cho ai cả".
Thưa quí vị, tiếp
đây là quan điểm của ông Ngô Văn Tuấn: Làm sao tạo
nên phát triển toàn bộ? Tác giả mở đầu bài viết với
câu: "Muốn thoát được thế chậm tiến và cục bộ, muốn
thoát được những cặp mắt quốc tế nhìn vào bằng sự
thương hại, Việt Nam phải thực sự phát triển mạnh mẽ.
Người Việt Nam nên có suy nghĩ và nhận thức đúng đắn
về cuộc diện mới trong đầu thế kỷ 21. Không ai thương
chúng ta bằng chính chúng ta, cũng không ai thù ghét chúng ta
bằng chính chúng ta".
Ông Tuấn ca ngợi
ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, trong
bài viết của ông Kiệt có đoạn như sau: "Chúng ta -tức
lãnh đạo cộng sản Việt Nam- phải nghiêm khắc nhận trách
nhiệm về mình, để nghiêm túc nhìn nhận những sai lầm chủ
quan là nguyên nhân tất yếu. Có vậy mới đủ quyết tâm
đi tới. Do chậm đổi mới tư duy, chúng ta tự trói mình trong
những công thức đã bị cuộc sống vượt qua, đất nước
lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng và kéo dài, gây nhiều
khó khăn thiếu thốn cho nhân dân vốn đã từng chịu đựng
bao gian khó trong ngót nửa thế kỷ qua."
Ông Tuấn nhận định
rằng: "Có những vấn đề sâu thẳm trong cuộc chiến mà 30
năm sau mới nhận ra được: "Tất cả là người Việt Nam".
Tôi nghĩ, dường như
ông Tuấn chỉ mới nhận ra tất cả đều là Việt Nam, "nhưng
chưa nhận ra người Việt Nam như thế nào?" Theo tôi, có hai
mẫu người Việt Nam: "Một theo cộng sản độc tài, chủ
nghĩa cộng sản, và một kia theo dân chủ tự do". Ðây là
sự thật rõ ràng, không ai phủ nhận được nó.
Nguyên văn đoạn dưới
đây cho thấy ông Tuấn đồng quan điểm với ông Kiệt, ông
Tuấn viết: "Công việc quan trọng trong hiện tại là nhà
nước Việt Nam đang vận động cổ vũ cho những người Việt
hải ngoại trở về đóng góp và xây dựng cho sự phát triển
đất nước. Ðóng góp cho sự phát triển và phú cường của
dân tộc và tổ quốc Việt Nam là bổn phận và trách nhiệm
của mọi người Việt Nam trong và ngoài nước, cộng sản
và không cộng sản …"
Thưa quí vị, với
tập quán sinh hoạt dân chủ, mỗi người đều có quyền bày
tỏ quan điểm chính trị của mình. Trong ý nghĩa đó, tôi
xin góp một quan điểm. Trước hết, tôi chỉ đồng ý với
ông Tuấn rằng: Trách nhiệm xây dựng đất nước là bổn
phận và trách nhiệm của mọi người Việt Nam, nhưng tôi
xin phép không đồng ý với ông Tuấn cái đoạn mà ông Tuấn
nói đó là trách nhiệm của người cộng sản lẫn người
không cộng sản. Tôi không nói tất cả người cộng sản,
mà tôi chỉ nói nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, vì họ
là những người nắm quyền lực tuyệt đối, đã bắn giết
tù đày nhục mạ rồi tịch thu chiếm đoạt tất cả tài
sản, thôi thì biết bao thống khổ vừa trút vừa dập lên
đầu những người không chấp nhận cộng sản. Bây giờ ông
Tuấn gắn cho những người không cộng sản cái trách nhiệm
đó như người cộng sản là nghĩa làm sao?
Quan điểm dưới đây
mà tôi đã đưa lên NET, cũng đã gởi thư về Việt Nam qua
đường bưu điện cho ông Vờ Văn Kiệt với ông Phan Văn Khải,
nhưng không rờ là có đến tay hai ông này hay không. Quan điểm
của tôi chỉ xoáy vào điều ông Kiệt cũng như ông Khải
-cựu Thủ Tướng và đương kim Thủ Tướng nước Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lúc bấy giờ- nói là mong muốn
khép lại cái quá khứ đau thương của 30 năm trước để
cùng nhau xây dựng đất nước, cùng nghĩa với ông Tuấn khi
cho rằng xây dựng đất nước là bổn phận và trách nhiệm
của người Việt Nam trong nước ngoài nước, cộng sản lẫn
không cộng sản
Và đây là quan điểm
của tôi, của một người tị nạn cộng sản: "Nay là năm
2005 -tức 30 năm sau chiến tranh- hai ông ra cái điều như là
người cộng sản tử tế là sẵn lòng khép lại cái quá khứ
đó. Về phần tôi, khép lại cái quá khứ đau thương tàn
bạo ấy là điều rất nên, để cùng nhau xây dựng đất
nước, cho dẫu là quá muộn. Thế nhưng vấn đề đặt ra
"ai có trách nhiệm khép lại? Chẳng lẽ Cộng Ðồng
tị nạn chúng tôi? Chính lãnh đạo cộng
sản Việt Nam có trách nhiệm phải khép lại cái quá khứ
độc ác tàn bạo do chính họ gây ra trên thể xác và tâm
hồn của mọi người dân Việt. Ðây là sự thật khách quan
mà họ không thể nào phủ nhận được, cũng không thể nào
ngụy biện được. Nhưng "khép lại" như thế nào đây?
Tôi vẫn hiểu rằng, lịch sử là không thể thay đổi, nhưng
có những điều sai trong lịch sử vẫn sửa được trong hiện
tại, để cùng hướng đến một tương lai tốt đẹp.
Nghĩa là, họ hãy làm ngược lại những gì mà họ đã làm
sai từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 và sau đó, mà rõ ràng nhất
là tôi tạm qui vào năm vấn đề sau đây:
- Vấn đề thứ nhất.
Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những ngày trước đó, hằng
chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang trong các
Tổng Y Viện và Quân y Viện, quân cộng sản đã vô cùng tàn
nhẫn khi quẳng những thương phế binh ra ngoài đường sau
khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, rồi họ bảo "khép lại" là
khép làm sao? Bây giờ họ có trách nhiệm bồi thường tổn
hại vật chất lẫn tinh thần cho thành phần thương phế binh
VNCH. Ðó là hành động sửa sai để khép lại.
- Vấn đề thứ hai.
Họ đã cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn cùng những tài
sản khác của chúng tôi, mà họ sử dụng nhiều nhóm chữ
khác nhau để che đậy cái gian trá lọc lừa của họ. Tài
sản của chúng tôi bị họ chiếm đoạt, rồi bảo chúng tôi
"khép lại" là khép làm sao? Bây giờ lãnh đạo CSVN phải hoàn
trả tất cả những thứ ấy lại, đồng thời bồi thường
thiệt hại trên những tài sản ấy. Ðó là hành động sửa
sai để khép lại.
- Vấn đề thứ ba.
Họ không qua một cơ quan luật pháp nào khi bắt giam 222.809
quân nhân viên chức cán bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ, đưa vào
200 trại tập trung trong mục đích tẩy não mà họ gọi là
"cải tạo", và hành hạ tinh thần lẫn thể xác cho đến 17
năm mới thả hằng trăm người cuối cùng, rồi bảo chúng
tôi "khép lại" là khép làm sao? Bây giờ họ phải bồi thường
thiệt hại vật chất lẫn tinh thần cho ngần ấy tù nhân
chính trị chúng tôi trong ngần ấy thời gian bị giam giữ.
Ðó là hành động sửa sai để khép lại.
- Vấn đề thứ tư.
Chắc ông cựu Thủ Tướng không thể nào quên trong 10 năm
đầu kể từ tháng 4 năm 1975, khi mà những công dân Việt
Nam Cộng Hòa cũ không thể sống nổi chính sách kềm kẹp
chính trị nên đành phải liều chết vượt biên vượt biển
tìm tự do với cái giá phải trả thật là khủng khiếp! Lúc
ấy, các ông gọi chúng tôi là bọn ngụy quân ngụy quyền,
bọn phản quốc, bọn đĩ điếm lưu manh, bọn rác rưởi cặn
bã của xã hội, ..v.. v... Thôi thì họ dùng tất cả những
chữ nghĩa nào mà chửi rủa được là mang ra sử dụng để
xỉ vả nhục mạ chúng tôi, rồi bảo chúng tôi 'khép lại'
là khép làm sao? Bây giờ Bộ Chính Trị họ phải chánh thức
xin lỗi Cộng Ðồng tị nạn tại hải ngoại, và tuyên bố
rút lại những lời sỉ nhục chúng tôi. Ðó là hành động
sửa sai để khép lại.
- Và vấn đề thứ
năm. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000
người Việt Nam đã tròn bổn phận công dân với quốc gia
dân tộc, tưởng là yên bình vĩnh cửu trong lòng đất nơi
đây, nhưng với bản chất vô nhân của chế độ độc tài,
họ đã "thêm một lần tàn sát thi thể các tử sĩ qua hành
động đào xới mồ mả, vừa thỏa lòng thù hận của kẻ
chiến thắng do bản chất gian trá vi phạm những điều mà
họ đã ký kết, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản
riêng, rồi bảo chúng tôi "khép lại" là khép làm sao? Bây
giờ lãnh đạo CSVN phải hoàn chỉnh lại phần cấu trúc toàn
cảnh như lúc họ tàn phá, kể cả tượng Thương Tiếc. Ðó
là hành động sửa sai để khép lại.
Nếu họ hành động
được như vậy, dĩ nhiên là họ phải tốn một ngân khoản
trong ngân sách, nhưng chắc chắn là ngân sách sẽ được gia
tăng nhanh chóng khi mà Cộng Ðồng hải ngoại chấp sự sửa
sai hoàn chỉnh của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, có thể
sẽ đóng góp nhân lực, tài lực, chung sức xây dựng quê
hương Việt Nam phát triển nhanh hơn. Chớ họ nói theo cái
ngôn ngữ mà ông Hà Sĩ Phu -một đảng viên cộng sản
lão thành- gọi là thứ "ngôn ngữ lộn ngược trong xã hội
xã hội chủ nghĩa" ngày nay, thì làm sao người Việt Nam không
chấp nhận cộng sản nói chung, và người Việt Nam trong Cộng
Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói riêng, tin họ
được".
Cuối năm 2006, một văn
kiện của Thủ Tướng cộng sản Việt Nam quyết định chuyển
"nghĩa trang quân đội Biên Hòa" của Việt Nam Cộng Hòa cũ
sang hành chánh quản trị. Có người vội vàng cho rằng, đó
là hành động có vẻ như lãnh đạo cộng sản Việt Nam muốn
biểu lộ thái độ hòa giải hòa hợp! Tôi cho rằng, lãnh
đạo cộng sản Việt Nam không hề có thái độ hòa giải
hòa hợp gì cả, chẳng qua là họ thấy có thể khai thác túi
tiền của thân nhân những tử sĩ trong mồ, nhất là thân
nhân từ ngoại quốc về, sẵn lòng hào phóng trong dịch vụ
chăm sóc mồ mả người thân, khi có dịch vụ nghĩa trang tôi
tin là họ sẽ thành lập để điều hành nghĩa trang mà họ
gọi nghĩa trang dân sự. Xin quí vị đừng bao giờ tin cộng
sản, cho đến khi những quyết định hay những lời phát biểu
của họ trở thành sự thật. Dối trá là một trong bản chất
của chủ nghĩa cộng sản mà.
Tóm lại. Giáo
dục là nền tảng phát triển đất nước. Muốn đất nước
phát triển, giáo dục phải đào tạo con người trước, hoặc
cùng lúc với đào tạo chuyên viên chuyên gia theo nhu cầu các
ngành sinh hoạt quốc gia. Nhưng với chế độ chính trị độc
tài dẫn đến cấu trúc guồng máy xã hội Việt Nam hiện
nay, nền giáo dục chỉ đào tạo những thế hệ thần dân
để tuân phục chế độ, cho nên nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam không có những công dân để xây dựng
đất nước. Mặt khác, hơn mười năm qua, lãnh đạo đảng
với lãnh đạo nhà nước, không còn
chỗ dựa vào điều mà
họ gọi là lý tưởng cộng sản từ khi Liên Sô và khối
các quốc gia cộng sản Ðông Âu sụp đổ, nên họ dựa vào
hệ thống tham nhũng chằng chịt dọc ngang trên dưới phủ
trùm toàn xã hội để tồn tại, tuy họ vẫn tuyên bố là
quyết tâm diệt tham nhũng, nhưng qua hành động đã chứng
tỏ họ không thật sự quyết tâm tận diệt, bởi cấu trúc
của chế độ độc tài cho phép họ có quyền lực vô hạn
và tuyệt đối, kể cả quyền tham nhũng. Và chính họ là
thành phần tham nhũng hơn bất cứ thành phần nào khác.
Nếu lãnh đạo cộng
sản Việt Nam thật lòng muốn xây dựng một đất nước phát
triển, khả dĩ có thể so sánh với các quốc gia không bị
cộng sản cai trị, chỉ có lộ trình duy nhất để đạt đến
đó, là phải chuyển đổi chế độ cộng sản độc tài sang
chế độ dân chủ tự do, mà là chuyển đổi thật sự chớ
không như cái kiểu "gắn theo cái đuôi định hướng nào cả".
Nếu không, chỉ có cách duy nhất là sự vùng dậy của người
dân lật đổ họ mà thôi. Tôi tin chắc rằng sự sụp đổ
của lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhất thiết sẽ xảy ra,
và là sụp đổ do bạo loạn ngay trong nước./.
Houston, tháng 9 năm
2005
Bổ sung tháng 1 năm
2007.
Phạm Bá Hoa
|