| Thưa quí vị, cuộc
đấu tranh không súng đạn mà chúng ta đã và đang tiến hành,
hoàn toàn tự phát từ tinh thần trách nhiệm công dân Việt
Nam nói chung, và tinh thần trách nhiệm chưa tròn của tập
thể Cựu Quân Nhân, Viên Chức, Cán Bộ Việt Nam Cộng Hòa
cũ, nói riêng. Chúng ta chưa có một tổ chức lãnh đạo, cho
nên chúng ta chưa có một đường lối chỉ đạo chung, một
hệ thống tổ chức chung, một phương thức hoạt động chung,
nhưng chắc chắn là chúng ta có chung một mục tiêu; cùng nhau
góp phần vào công cuộc dân chủ hóa Việt Nam, để huy động
toàn bộ nhân lực, vật lực, tài lực của quốc gia của
đồng bào vào công cuộc khôi phục nếp sống văn hóa dân
tộc, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam thật sự tự
do dân chủ và phát triển đồng bộ các lãnh vực sinh hoạt
quốc gia, trên nền tảng thực hiện nguyện vọng toàn dân.
Cho đến nay, chúng ta
chưa có một quan điểm chung, nhưng nhìn một cách khái quát
thì cuộc đấu tranh này bao hàm một bản chất tổng thể,
nghĩa là bao gồm mọi phương thức đấu tranh trong mọi lãnh
vực sinh hoạt xã hội, ở mọi nơi thích hợp, trong khuôn
khổ luật pháp xã hội cũng như trong đạo nghĩa dân tộc.
Tùy theo hoàn cảnh, không gian, thời gian, luật pháp, tùy theo
từng tổ chức, thậm chí từng cá nhân, góp ý nghiên cứu
những phương thức thích hợp, và thực hiện trong đấu tranh.
Vậy, sự đóng góp quan điểm đấu tranh từ những cá nhân
hay những tổ chức, tất cả cần được phổ biến rộng
rãi, cần được trao đổi, tranh luận trong mục đích tìm
ra một đường lối thích hợp chung, hoặc thích hợp riêng
cho tổ chức hay cho từng địa phương nào đó nghiên cứu
ứng dụng. Những quan điểm trình bày của tổ chức hay của
cá nhân, đúng hay sai là do cách nhìn từ góc độ nào đó
của người đọc, người nghe, hay người nghiên cứu. Một
quan điểm, một nét nhìn, một nhận thức, có thể đúng với
người này nhưng lại không đúng với người khác. Vì vậy
sự trao đổi hay tranh luận quan điểm, tôi nghĩ, cần gìn
giữ tính ôn hòa cho nhau.
Với quan niệm như vậy,
tôi xin tóm lược những điểm chính trong bài viết nhận được
từ trên hệ thống internet, với tựa là "Nếu lịch sử không
thể thay đổi, thì hãy thay đổi hiện tại và tương lai",
của tác giả Nguyễn H. H là một mẫu tự viết hoa, điều
này được hiểu là do nguyên nhân nào đó mà tác giả không
muốn nói rõ tên đầy đủ.
Thưa quí vị, tôi xin
góp phần quan điểm trong từng đoạn từ bài viết của ông
Nguyễn. Tôi biết sự trao đổi một cách thẳng thắn dễ
làm mất lòng nhau, nhưng dù sao thì nói thẳng vào vấn đề
vẫn hơn là quanh co đôi khi gây hiểu lầm. Ðể tiện trình
bày, tôi đã e-mail xin ông Nguyễn H. cho phép tôi gọi tên ông
là Nguyễn, và cũng qua e-mail, ông Nguyễn H. đã đồng ý.
Xin bắt đầu.
Bài viết, ông Nguyễn đề gởi
"Người Việt Nam yêu Nước". Và ông tự giới thiệu
về ông như sau: Tôi tên Nguyễn H. Sinh ra và lớn lên tại
Việt Nam. Gia đình tôi dính dáng nhiều đến chế độ cộng
sản, có hi sinh, có mất mát, có hưởng ân huệ của chế
độ hiện nay trên quê hương Việt Nam. Về bản thân tôi,
khi chưa ra nước ngoài, tôi cũng như bao bạn bè cùng trang
lứa, đều tự hào là Việt Nam có một chánh phủ tiên tiến,
đã đánh thắng quân Mỹ, và đang trên đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian ngắn ở
nước ngoài, những hình tượng tốt đẹp của chủ nghĩa
cộng sản đã tan biến trong tôi, và những hình tượng đó
được thay thế bằng những hiợnh ảnh của sự kém hiểu
biết, không thức thời, sự tham lam của các cấp lãnh đạo
và đảng viên cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian dài sau
đó, sự thực này là một "cú sốc" đối với tôi. Tôi lớn
tiếng trách móc cộng sản ở bất cứ nơi nào mà tôi có
thể trách móc. Tôi luôn tìm thấy những điều xấu xa của
chế độ này để chê trách. Những ai không cùng quan điểm
với tôi, tôi cho là những người hèn nhát, những người
bị bùa mê của cộng sản. Tôi nhận ra rằng, dù chính kiến
của mình là đúng, nhưng cần phải có chiến thuật đúng,
mới có thể đạt được hiệu quả. Nếu không có chiến
thuật đúng, chẳng những không đạt hiệu quả mà còn bị
thất bại là khác. Tuy nhiên, tôi không thể chia xẻ những
gì mà tôi đang làm, có lẽ vì lý do an ninh của cá nhân tôi.
Ðấy là bản thân tôi, bây giờ xin sang phần khác.
Tôi đã nghiên cứu rất nhiều tài
liệu, từ những học thuyết kinh tế đến ý thức hệ. Cùng
với những hiểu biết về Việt Nam mà tôi có, tôi rút ra
một vài kinh nghiệm, và xin chia xẻ với quí vị, những người
Việt Nam yêu nước.
Thứ nhất. Trong lịch sử
Việt Nam, chưa có lúc nào chúng ta có dân chủ thật sự. Do
vậy mà từ người lãnh đạo cho đến đồng bào, đều không
hiểu một cách cụ thể về dân chủ. Cũng chính vì vậy mà
ít người coi trọng dân chủ, chứ đừng nói gì đến đấu
tranh cho dân chủ. Từ ngàn xưa, dưới chế độ phong kiến,
vua là Trời. Vua coi thường đồng bào, bất cứ ai tỏ ra khinh
vua, hay chỉ một lời nói sai là 3 đời bị tiêu diệt. Thử
hỏi, qua mấy ngàn năm phong kiến, điều đó có thấm sâu
vào máu của người Việt Nam không? Chính vì thế mà đến
bây giờ cộng sản Việt Nam cũng như đồng bào vẫn còn tư
tưởng như vậy. Cộng sản lên nắm chánh quyền, cũng coi
thường đồng bào, bưng bít mọi sự thật xấu xa đê hèn,
cùng lúc thổi phồng thành tích, bắt bớ đe dọa những người
bất đồng chính kiến cũng bắt nguồn từ quan điểm vua là
Trời, mặc dù về mặt hình thức có khác so với thời phong
kiến.
Về phía đồng bào cũng
vậy, đồng bào không đủ kiến thức hay thời gian học hỏi
để hiểu thế nào là dân chủ, thế nào là quyền con người,
nên dễ dàng chấp nhận sự cai trị của lãnh đạo cộng
sản Việt Nam. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ chế
độ phong kiến nhảy thẳng lên chế độ cộng sản, chẳng
có gì là lạ, vì phong kiến với cộng sản chỉ khác nhau
về hình thức trong khi bản chất vẫn thế. Có lẽ đồng
bào miền Nam trước năm 1975, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa
có thể có dân chủ hơn. Thế nhưng, đang lúc có chiến tranh
thì nền dân chủ đó chắc cũng bị coi thường. Nếu một
người dân thử lên tiếng đòi ngưng chiến tranh và tiến
hành bầu cử tự do thống nhất đất nước, có thể người
đó cũng bị bắt vào tù với tội danh phản quốc, mà cũng
có thể bị án tử hình nữa.
Quan điểm của tôi.
Xin đồng ý với ông Nguyễn về nhận thức vào thời phong
kiến, và một phần nhận thức thời cộng sản. Nhưng từ
nửa cuối thế kỷ 20 dưới chế độ cộng sản độc tài,
dân tộc Việt Nam bị đàn áp tàn bạo nhưng tinh vi hơn thời
phong kiến nhiều, cái thời mà vua tự xem mình là Trời. Còn
dưới chế độ cộng sản độc tài, nhóm lãnh đạo trong
Bộ Chính Trị là những ông vua, những ông Trời, nhưng độc
ác hơn và tàn bạo hơn ông vua ông Trời thời phong kiến nữa.
Chỉ một quan điểm hay một hành động không đúng theo đảng
dạy, nhà nước dạy thì ba đời cũng bị trù dập trong mọi
sinh hoạt xã hội, mà điển hình là sau ngày 30 tháng 4 năm
1975 khi đối xử với những người Việt Nam Cộng Hòa cũ
cùng với gia đình, chẳng khác chính sách "tru di tam tộc" thời
vua quan phong kiến.
Ðúng là công dân Việt
Nam Cộng Hòa chúng tôi chưa được hưởng dân chủ hoàn toàn,
nhưng chắc chắn là có đời sống hạnh phúc so với công
dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tôi không nói là công
dân của chế độ tự do miền Nam hạnh phúc hơn công
dân chế độ độc tài miền Bắc, vì ở đó có hạnh phúc
đâu mà so sánh hơn hay kém. Nhưng tôi nói hạnh phúc của công
dân Việt Nam Cộng Hòa, để đối lại đời sống không hạnh
phúc của công dân dưới chế độ mà ông Nguyễn đã từng
sống. Thêm nữa, đời sống của công dân Việt Nam Cộng Hòa
chưa hoàn toàn dân chủ, nhưng sự chưa hoàn toàn này không
xuất phát từ chế độ mà là từ cuộc chiến tranh xâm lăng
do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thực hiện,
cái quốc gia mà ông Nguyễn nói là ông có mất mát có thụ
hưởng. Xin ông Nguyễn nhìn cái cốt lõi của vấn đề mà
trình bày, vì tôi thấy ông hay nói đến khía cạnh khách quan,
nhưng ông không khách quan với chính ông đấy nhé!
Thứ nhì. Chính những thối
nát quan liêu phong kiến thời Việt Nam bị ngoại quốc cai
trị, đẩy đưa cộng sản Việt Nam trở thành cứu cánh cho
dân nghèo. Ngay cả người dân cũng như đảng viên cộng sản
thời ấy cũng nhận ra rằng, lý tưởng cộng sản là tốt
đẹp, nên họ sẵn sàng chết để ủng hộ cái lý tưởng
đó.
Nhìn lại thời phong kiến, quan lại
Việt Nam có ai thương người nghèo, có ai giúp đỡ người
nghèo bao giờ đâu. Quan lại thì hà hiếp, địa chủ thì bóc
lột. Ðến thời thực dân Pháp cai trị, chỉ một nhóm nhỏ
người Việt Nam được hưởng rất nhiều ân huệ của Pháp,
còn thì đồng bào sống trong khốn khổ với quá nhiều đau
thương. Tôi nghĩ, trong chúng ta, chắc không ai phủ nhận điều
này.
Rồi cộng sản lên nắm
chánh quyền, cộng sản hứa hẹn sẽ thực hiện mọi điều
tốt đẹp cho đời sống người dân, trong khi người dân lẫn
đảng viên không ai thấu hiểu được chủ nghĩa cộng sản
là quá lý tưởng nên không bao giờ thực hiện được. Vì
không thấu hiểu điều đó, nên người đảng viên cũng như
người dân sẵn sàng liều chết mà theo họ, để đánh Pháp
đánh Mỹ, để rồi hằng mấy triệu con người đã chết
mà không bao giờ đạt đến cái lý tưởng tuyệt hảo đó
cả!
Khi Hoa Kỳ can thiệp
vào Việt Nam, lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại gắn cho Hoa
Kỳ cái nhãn hiệu thực dân mới với mục đích xâm lăng
Việt Nam như thực dân Pháp trong cuộc chiến 1945-1954. Rồi
toàn bộ bộ máy tuyên truyền hoạt động liên tục, tạo
cho mọi người Việt Nam, miền Bắc lẫn miền Nam, là Hoa Kỳ
xâm lăng Việt Nam như thực dân Pháp đã xâm lăng Việt Nam.
Thế rồi người đảng viên cũng như người dân sợ mất
độc lập lần nữa, nên lại theo đảng mà đánh Mỹ. Ðược
sự hỗ trợ của cộng sản Liên Xô, cộng sản Trung Hoa, nói
chung là sự hậu thuẫn của cả khối cộng sản quốc tế,
cộng sản Việt Nam vững tin, và tiến hành chiến tranh. Thời
bấy giờ, thế giới không cộng sản e ngại sự bùng nổ
của cộng sản, nên nước nào củng cố gắng ngăn chận sự
phát triển chế độ cộng sản tại nước họ. Các nước
như Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines, đều đánh cộng
sản ngay tại quốc gia họ. Hoa Kỳ, chẳng qua là nước lớn,
nước mạnh, nên tự nhận trách nhiệm can thiệp trực tiếp
vào Việt Nam mà thôi.
Nhìn lại cộng sản
Việt Nam. Trong giai đoạn đầu còn liêm chính, vì những người
sáng lập đảng và đảng viên, cũng là những người đồng
cảnh ngộ với đồng bào, thử hỏi người dân nào không
nghe theo họ. Ðây là một nguyên nhân khách quan, khó mà phủ
nhận nó.
Quan điểm của tôi. Xin đồng
ý với ông Nguyễn, vì chủ nghĩa cộng sản quá lý tưởng
nên không thể thực hiện được. Nhưng thật ra có một điều
căn bản có thể xem là tuyệt đối trong cuộc sống, là không
có con người hoàn hảo trên cõi đời này thì làm sao xây
dựng được một xã hội mà người đẻ ra lý tưởng cộng
sản đã vẽ nó ra với tất cả sự hoàn hảo của nó. Hoặc
cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản không thừa nhận điều
căn bản đó trong cuộc sống, như vậy là mù quáng. Hoặc
cha đẻ chủ nghĩa cộng sản thừa nhận điều căn bản đó,
nhưng vẫn thuyết phục mọi người tin vào đạo cộng sản
thế giới nói chúng, và nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam
nói riêng, nếu không mù quáng cũng là nhóm người có tham
vọng ôm cả trái đất vào vòng tay cai trị của mình. Ông
Nguyễn nghĩ sao?
Giá mà ông Nguyễn dẫn chứng những
sự kiện mà ông cho là cộng sản Việt Nam trong thời kỳ
đầu có liêm chính nên người dân nghe theo, thì quan điểm
của ông rõ nghĩa hơn. Vì theo tôi, ngay từ đầu, lãnh đạo
cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là ông Hồ Chí Minh, đã
chứng tỏ sự tàn bạo của chế độ rồi. Vì khi lừa được
những nhà cách mạnh khuynh hướng quốc gia vào chánh phủ
liên hiệp để ông nắm vững quyền lực, thì ông Hồ cho
đàn em lần lượt giết hết những vị đó để ông nắm
trọn quyền. Hành động này là sự kiện khách quan khó mà
phủ nhận được nếu không nói là không thể phủ nhận nó,
ngoại trừ những người có nét nhìn như ông Nguyễn.
Còn người dân ủng
hộ ông Hồ và cộng sản của ông Hồ, là vì sau 80 năm bị
thực dân Pháp cai trị, bây giờ có người Việt Nam đứng
lên cầm quyền nên dân nghe theo. Với lại khi lên cầm quyền,
ông Hồ đã tuyên bố là lo cho dân, cái gì cũng của dân,
tất cả tài sản quốc gia đều là của dân, dân nắm quyền
dân cai trị, cán bộ chỉ là đày tớ của dân, người dân
nghe ngọt lỗ tai quá nên nghe theo ông mà ủng hộ ông. Nhưng
ông Nguyễn có thấy 1.000.000 người miền Bắc chạy trốn
cộng sản vào miền Nam hồi năm 1954-1955 không nhỉ? Họ không
phải vì tiền mà bỏ chạy đâu nhé, trái lại họ bỏ tất
cả của cải ruộng vườn mồ mả ông bà cha mẹ để thoát
khỏi cái chế độ dã man tàn bạo hơn thực dân Pháp nhiều.
Chẳng lẽ ngần ấy người mà không ai nhận ra điều mà ông
Nguyễn gọi là liêm chính của cộng sản hay sao! Ông Nguyễn
có biết là chính sách cải cách ruộng đất đã giết bao
nhiêu người không? Và giết dã man như thế nào không? Khiếp
lắm ông Nguyễn à! Chẳng lẽ gọi đó là sự kiện chứng
minh ông Hồ của ông Nguyễn thương dân lo cho dân sao?
Thứ ba. Sự toàn cầu hóa
trong thế kỷ 20 diễn ra quá nhanh, và chỉ những nước nào
kịp thời nhận thức được mới làm cho dân giàu nước mạnh.
Trong khi cộng sản Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau, đã không
có nhận thức kịp thời, và đã không làm được điều đó.
Nhiều sai lầm nghiêm trọng đã xảy ra, đã làm cho Việt Nam
mất nhiều cơ hội để phát triển đất nước. Cũng may là
cộng sản Việt Nam chưa cực đoan quá mức như cộng sản
Cam Bốt thời ông Pôn Pốt cầm quyền, hay như cộng sản Bắc
Triều Tiên.
Lý do để cộng sản Việt Nam không
nhận thức được hiệu quả của công cuộc toàn cầu hóa
thì nhiều vô kể. Nhưng đáng kể hơn hết là người lãnh
đạo cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ được đào tạo ở
những quốc gia kỹ nghệ tiên tiến, và cũng chưa bao giờ
sống ở những quốc gia đó. Họ chỉ học chủ nghĩa Mác
Lê, rồi tự tìm tòi rồi nghĩ ra những chính sách cai trị
sai lầm mà ngày nay người dân Việt phải trả cái giá quá
đắt. Học thuyết của Karl Max và Lenine, được soạn ra từ
những người không hòa nhập được trong sự thay đổi mạnh
mẽ của cuộc cách mạng hóa nền kỹ nghệ, vì vậy mà học
thuyết này chỉ được phát triển trong thời kỳ còn sự
bóc lột nhân công thôi. Học thuyết chỉ dựa vào đó mà
vẽ nên bức tranh tuyệt vời, một lý tưởng tuyệt hảo,
và vì nó quá hoàn hảo nên không ai thực hiện được nó
trong thực tế cả. Ðiều tai hại hơn hết là cơ sở của
học thuyết này nghe quá hay, mà người đảng viên cũng như
đại đa số đồng bào chưa đủ kiến thức để nhận ra
nó trong cuộc sống của nhân loại, một học thuyết hoàn
toàn trái ngược với quy luật thiên nhiên trong vũ trụ, trái
với qui luật cạnh tranh để phát triển
Sau chiến tranh thế giới
lần 2 (1939-1945), từ chính trị đến kinh tế đều thay đổi
rất nhiều. Sự toàn cầu hóa, tính đa lực, sự cân bằng
chính trị, phát triển dân chủ, và khả năng lẫn kỹ năng
sản xuất đều phát triển vượt bậc. Thế nhưng đối với
cộng sản thế giới nói chung và cộng sản Việt Nam nói riêng,
mọi thứ thay đổi đó không quan trọng đối với họ, hay
nói đúng hơn là cộng sản không có khả năng nhận biết
những thay đổi tốt đẹp đó trong thế giới dân chủ. Nhưng
nói cho cùng, khó mà trách cộng sản Việt Nam vì họ có biết
gì về qui luật tự nhiên, về cạnh tranh phát triển đâu.
Họ cứ nghĩ đơn giản như Robin Hood, lấy của người giàu
đem chia cho người nghèo, để rồi mọi người đều bình
đẳng. Cách mạng ruộng đất, mang người giàu ra đấu tố,
chính là hậu quả của sự ngu dốt. Nói một cách rõ ràng
như vậy, vì hậu quả ra sao không người Việt Nam cũng biết.
Trong lịch sử nhân loại
đã từng cung cấp những kinh nghiệm thực tế rằng, chủ
nghĩa nào phù hợp với qui luật tự nhiên, phù hợp với qui
luật cạnh tranh phát triển, thì mới tồn tại và tồn tại
trong điều kiện tốt đẹp. Về mặt chính trị, một thể
chế đa đảng là sự vận dụng đúng đắn qui luật tự nhiên.
Ðảng nào mạnh, có nhiều người giỏi, người dân sẽ bầu
vào những chiếc ghế lãnh đạo, đảng nào yếu tự khắc
phải tìm cách vươn lên để tranh đua với các đảng mạnh
trong những kỳ bầu cử kế tiếp. Trong một nền nếp sinh
hoạt đa đảng, đảng cầm quyền phải thận trọng chứ không
thể tự tung tự tác như trong thể chế độc đảng, vì mỗi
sai phạm mỗi lỗi lầm, sẽ bị đảng đối lập theo dời
chỉ trích, gây bất lợi về sau. Nhưng cho đến nay, cộng
sản Việt Nam vẫn ôm khư khư cái chủ nghĩa Mác Lê, cái chủ
nghĩa đã tan rã ngay tại quê hương thành trì của nó, tưởng
đã quá đủ để lý giải cho thể chế độc đảng mà không
cần tìm hiểu hay bàn cãi gì nữa.
Ðiều mà lãnh đạo
cộng sản Việt Nam tự hào là thống nhất đất nước, nhưng
cái giá mà nhân dân Việt Nam đã phải trả bằng 3.000.000
con người đã chết, hằng chục triệu người thương tật,
tài nguyên quốc gia thì cạn kiệt, dân tộc mất nhiều thời
cơ để phát triển, nên không chấp nhận sai lầm của đảng
khi đánh chiếm miền Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa. Nếu bây
giờ, thực hiện dân chủ hóa Việt Nam, cầm chắc là cộng
sản Việt Nam bị vất qua bên lề xã hội. Và trong tình cảnh
như vậy, cái giá quá đắt mà nhân dân buộc phải trả đó
trở thành vô nghĩa hay sao!
Quan điểm của tôi. Tôi không
nghĩ là lãnh đạo cộng sản Việt Nam có quan tâm đến qui
luật tự nhiên, qui luật phát triển từ trong cạnh tranh, mà
tư tưởng của họ chỉ hướng vào đường lối phát triển
từ trong độc tài. Ðó cũng là qui luật của các đảng cộng
sản tại các quốc gia mà họ cầm quyền chớ không riêng
gì cộng sản Việt Nam, vì những đảng cộng sản cầm quyền
tại các quốc gia nhỏ chỉ là những cánh tay nối dài của
nước cộng sản đàn anh không hơn không kém. Vì vậy mà bất
cứ cá nhân hay tổ chức nào không phù hợp với đường lối
đó của họ thì họ tiêu diệt theo những hình thức mà họ
cho là thích hợp. Tôi vẫn cho rằng, những nhóm lãnh đạo
cộng sản Việt Nam từ trước tới nay, kể cả ông Hồ Chí
Minh, luôn luôn đặt quyền lợi quốc gia dân tộc dưới quyền
lợi của đảng cộng sản. Nói cách khác, họ đồng hóa quyền
lợi quốc gia dân tộc vào quyền lợi của đảng. Ông Nguyễn
thử nhớ lại xem, cá nhân hay tổ chức nào chống đối lãnh
đạo đảng thì họ kết tội là chống tổ quốc, chống đối
đảng thì họ kết tội là chống nhân dân.
Còn nói cái công thống nhất đất
nước, theo tôi, đó chẳng qua chỉ là cách nói theo cái bề
ngoài của vấn đề và mang tính tuyên truyền thôi. Chớ cốt
lõi của vấn đề nằm ở chỗ xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa,
để lãnh đạo cộng sản Việt Nam đạt công đầu với cộng
sản quốc tế, đồng thời họ mở rộng quyền lực để
tiến tới thành lập Liên Bang Ðông Dương, và lãnh đạo cộng
sản Việt Nam nghiễm nhiên trở thành một thứ lãnh đạo
khu vực ở Ðông Nam Á Châu. Những tháng cuối năm 1975 khi
tôi bị giam ở trại tù Long Giao (tỉnh Long Khánh), trong một
ngày gọi là "lên lớp" học tập chính trị, Thượng Tá Bình,
nghe nói là từ Bộ Công An ở Hà Nội vào với tư cách giảng
viên hôm ấy, đã nói đến Liên Bang Ðông Dương chớ không
phải tự tôi nghĩ ra đâu. Ông ta còn nói là thành phố Vinh
do Cộng Hòa Dân Chủ Ðức viện trợ xây dựng để làm thủ
đô liên bang nữa đó. Chưa hết, ông ta còn nói là cách mạng
Việt Nam -phải hiểu là lãnh đạo cộng sản Việt Nam- đã
gởi cán bộ sang giúp cách mạng Thái Lan giải phóng vương
quốc Thái Lan nữa mà.
Còn chữ "xâm lăng" mà
tôi dùng ở đây, theo cách hiểu là quân của quốc gia này
sang đánh chiếm quốc gia kia, tôi quả quyết đó là xâm lăng.
Còn nếu nói "giải phóng" thì sau khi giải phóng và ổn định
tình hình, phải chuyển giao quyền lực cho quốc gia mình giúp
giải phóng mới đúng chớ! Tôi biết cách nhìn của tôi như
thế này, có thể gây ra những tranh cãi, nhưng tôi sẽ không
bao giờ rời bỏ cách nhìn này, cách nhìn có tính cách khẳng
định một vấn đề trong một giai đoạn của lịch sử đầy
bi thương của cả dân tộc, mà không hề hàm chứa hận thù.
Xin ông Nguyễn xem giùm, khi nói đến đảng cộng sản tôi
chỉ nói đến nhóm lãnh đạo đảng thôi, vì chính nhóm người
trong Bộ Chính Trị mới thật sự là nhóm người có toàn
quyền hoạch định và điều khiển thực hiện chế độ độc
tài chớ không phải ai khác. Nếu có ai khác, chẳng qua là
thừa hành thôi.
Thứ tư. Năm 1986, cộng sản
Việt Nam chấp nhận mở cửa nền kinh tế, và từ đó, kinh
tế Việt Nam thay đổi theo chiều hướng tốt. Ðiều này làm
cho họ tin là đường lối của họ là đúng , mặc dầu cho
đến bây giờ họ vẫn chưa hiểu rờ về thuyết toàn cầu
hóa, về dân chủ hóa. Những người nắm giữ những chức
vụ quyền lực trong bộ máy nhà nước, gần như 100% là đảng
viên cộng sản. Với đồng lương nghèo mạt đã dẫn họ
đến tham nhũng, và tình trạng tham nhũng ngày nay diễn ra trên
toàn bề mặt của xã hội, đến mức nó trở thành một loại
sinh hoạt tự nhiên trong xã hội Việt Nam. Không ai là không
rõ chỉ vì tham nhũng tại Indonesia và Philipines, đã làm cho
hai nước này không phát triển nỗi. Chính cái gọi là 'bổng
lộc' này đã làm cho nhiều đảng viên trở nên giàu có, càng
giàu có họ càng bảo vệ chế độ mà thờ ơ với tất cả
những vấn đề khác trong sinh hoạt xã hội làm cho đất nước
khá hơn, tốt hơn.
Ông Nguyễn diễn giải tiếp về
nhận thức của ông:
Tôi thấy ai cũng nói người Việt
Nam mình thông minh, nhưng tôi thì khác. Tôi nghĩ rằng, người
Việt Nam mình nhiều mánh khóe chớ không nhiều sáng tạo,
nhiều láu lỉnh chớ không nhiều thông minh. Có lẽ do văn
hóa kính trên nhường dưới, quá tôn trọng người lớn tuổi
mà người Việt Nam trở thành bảo thủ, thích bám theo những
suy nghĩ cũ, những tập tục cũ, nên khó hòa nhập vào cái
mới, cái hay. Người Việt hải ngoại, cũng có thể vì vậy
mà không mấy thành công dù đang sống trong các xã hội có
môi trường tốt. Trong khi nhìn lại quê hương Việt Nam, lãnh
đạo lẫn người dân sống trong môi trường thấp kém tồi
tệ, mà nhận thức cũng kém, dẫn đến sự phát triển của
Việt Nam càng khó khăn gấp bội.
Quan điểm của tôi. Theo ông
Nguyễn thì có nhiều lý do khác nhau mà cộng sản Việt Nam
không kịp thời nhận ra mức độ hiệu quả của công cuộc
toàn cầu hóa trong thế kỷ 20, nên đã không làm cho dân giàu
nước mạnh. Phải chăng ông Nguyễn có ý tránh né cộng sản
Việt Nam là cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế? Vì
với chứng nghiệm trong suốt nửa thế kỷ cầm quyền, rõ
ràng là các nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam chỉ phục
vụ quyền lợi của khối cộng sản quốc tế, mà không hề
có bất cứ chính sách nào phục vụ quốc gia dân tộc cả.
Họ tôn vinh chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa khoa học, mà
trong thực tế họ có nét nhìn không khoa học, sự suy nghĩ
không khoa học, tất nhiên hành động cũng không khoa học.
Họ chỉ nhìn vào những xã hội khác với xã hội chủ nghĩa,
bằng con mắt với bộ óc chứa đầy lý thuyết chủ nghĩa
cộng sản mà không cần những sự kiện thực tế đã biến
đổi tốt đẹp trong những xã hội đó.
Ông Nguyễn cũng cho là cộng sản
Việt Nam không có khả năng nhận thức được những thay đổi
tốt đẹp trong thế giới dân chủ. Ðiều này có thể đúng
một nửa, nhưng một nửa này không phải là cái cốt lõi
của chủ nghĩa cộng sản cho nên họ chẳng quan tâm, hoặc
nếu có quan tâm cũng chỉ quan tâm để tìm cách chê bai thế
giới dân chủ mà cộng sản gọi là tư bản đế quốc. Một
nửa kia mới là quan trọng đối với cộng sản, nhất là
cộng sản Việt Nam. Một nửa kia là do trong tư tưởng của
họ chỉ có chủ nghĩa cộng sản là ưu việt, còn thật sự
nó có ưu việt trong thực tế hay không, lại là điều khác.
Cũng vì vậy mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thông qua hệ
thống giáo dục trong học đường, cũng như hệ thống tuyên
truyền trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quảng bá giáo dục
cái chủ nghĩa đó để ru ngủ mọi người trong cái thiên
đường cộng sản mà nhà văn Dương Thu Hương gọi là thiên
đường mù. Và vì sống trong "thiên đường mù" nên đại
đa số đồng bào không trông thấy, cũng không nghe thấy những
đổi thay tốt đẹp trong thế giới dân chủ văn minh, bởi
chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng của nhà cầm quyền.
Cũng trong một nửa này, người đảng viên lẫn người dân,
chỉ được phép nhận thức các chủ nghĩa khác với chủ
nghĩa cộng sản, đều là xấu xa chẳng khác người dân thời
phong kiến hay thời thực dân cai trị. Nhìn theo cách khác,
lãnh đạo cộng sản chỉ cho mọi người dưới quyền cai
trị của họ thấu hiểu một mặt trong cuộc sống dưới
quyền họ cai trị mà họ cho là ưu việt, còn mặt bên kia,
tức những biến đổi tốt đẹp trong thế giới tự do, hoàn
toàn bị chủ nghĩa này che lấp bằng những luận điệu tuyên
truyền như thể đó là những xã hội xấu xa trong thế giới
không cộng sản vậy.
Xin cám ơn ông Nguyễn,
khi ông nói rằng các đảng viên có chức có quyền do tham
nhũng mà trở nên giàu có, và càng giàu có thì càng phải
bảo vệ chế độ. Theo tôi, tôi cho rằng lãnh đạo cộng
sản Việt Nam xem tham nhũng là phương cách duy nhất hiện nay
để bảo vệ đảng, sau khi cái lý tưởng cộng sản siêu
việt đã sụp đổ từ đầu thập niên 90, những phiên tòa
những vụ án chống tham nhũng chẳng qua là sự hi sinh nhỏ
nhoi trong một hệ thống tham nhũng chằng chịt từ thượng
tầng xuống đến tận cùng của hạ tầng tổ chức, nó chưa
đủ để tiêu biểu mức đo giá trị của mục tiêu chống
tham nhũng đâu.
Nhưng tôi lại không
đồng ý với ông Nguyễn khi ông đánh giá "Cộng Ðồng Việt
Nam Hải Ngoại không mấy thành công, vì những suy nghĩ vẫn
đóng khung nề nếp bảo thủ trong xã hội Việt Nam. Kính trọng
người lớn tuổi là nét đẹp trong văn hóa, sao lại ông Nguyễn
cho là bảo thủ để rồi chậm tiến nhỉ? Kính trọng người
lớn tuổi là điều chẳng những nên giữ mà còn phát huy
nữa, nhưng có kính trọng cái tư cách của người lớn tuổi
đó hay không lại là điều khác. Chẳng hạn như khi tôi nói
về ông Hồ Chí Minh, tôi vẫn gọi là ông vì ông ấy lớn
tuổi hơn tôi. Ðạo nghĩa Việt Nam mình như vậy mà. Nhưng
khi tôi nói đến tư cách của ông Hồ thì tôi luôn luôn nói
rằng: "Ông Hồ Chí Minh là người lãnh đạo dã man tàn bạo
hơn bất cứ vị lãnh đạo tàn bạo nào trong lịch sử cận
đại vì chính sách của ông giết đồng bào dã man quá, ông
là người lãnh đạo vô liêm sỉ vì ông là người ăn cắp
tư tưởng của người khác, ăn cắp thơ của người khác,
lấy vợ của người khác, ..v..v.. trong khi cái bề ngoài của
ông cố làm ra vẻ đạo mạo để đàn em thần thánh hóa ông,
và rồi bắt mọi người dưới quyền cai trị tôn vinh ông
là một thứ thần thánh".
Ông Nguyễn nhận thức
rằng, người Việt hải ngoại nghèo, điều này cứ cho là
đúng một nửa. Cộng Ðồng Việt Nam hải Ngoại, vì đại
đa số là từ những bàn tay trắng khi rời khỏi Việt Nam,
mà nay gởi về giúp thân nhân trên quê hương Việt Nam hằng
4 tỷ mỹ kim mỗi năm (2005), và con số này đã gần bằng
một nửa ngân sách của nhà nước cộng sản Việt Nam rồi,
mà muốn cho 4 tỷ mỹ kim tất nhiên khối tài sản còn lại
trong Cộng Ðồng hải ngoại phải lớn hơn những lần 4 tỷ
đó chớ. Về thành phần nghèo mà bài viết này thấy cần
nói thêm cho rõ: Nghèo từ thành phần mới nhập cư với những
bàn tay trắng vì khi sống tại Việt Nam đã quá nghèo rồi,
và thành phần nghèo thứ hai là thành phần đã hòa nhập vào
xã hội bản xứ. Nhưng cái nghèo của thành phần thứ hai
này vẫn sung túc hơn thành phần trung lưu, thậm chí còn sung
túc hơn cả thành phần thượng lưu được mệnh danh là "tư
bản đỏ" trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam nữa. Xin
diễn giải: Chữ sung túc dùng ở đây, bao gồm sung túc về
tài chánh, sung túc về cơ hội trong giáo dục học đường,
về cơ hội tiến thân trong xã hội, sung túc về tiện nghi
sinh hoạt trong cuộc sống, và hơn hết là sung túc về quyền
được làm người với tất cả những gì căn bản nhất và
cao quí nhất mà thế giới văn minh tôn trọng. Có thể ông
Nguyễn cho tôi là chủ quan hay bảo thủ cũng được, nhưng
tôi vẫn bảo vệ quan điểm này.
Lại càng không đồng
ý với ông Nguyễn khi ông cho rằng, người Việt Nam không
thông minh mà chỉ là mánh khóe láu lỉnh. Chắc là ông Nguyễn
chỉ thu hẹp nét nhìn vào sinh hoạt trong xã hội xã hội chủ
nghĩa dưới quyền cai trị của lãnh đạo cộng sản Việt
Nam thì phải? Năm 1999, lúc đó Ba tôi 97 tuổi, trong một lần
về thăm thân nhân với ý định ở luôn trên quê hương, nhưng
sau 9 tháng sống nơi quê nhà Ba tôi trở sang Hoa Kỳ. Khi đến
phi trường Houston, Ba tôi nói với tôi một câu: "Xã hội Việt
Nam mình bị cộng sản nó phá tan hết rồi con, bây giờ người
ta sống với nhau bằng những lọc lừa dối trá chớ không
còn đạo nghĩa như xưa nữa đâu". Ðó là lý do mà Ba tôi
bỏ ý định an nghỉ trong khu nghĩa trang gia đình họ Phạm
chúng tôi.
Láu lỉnh hay thông minh?
Phải chi ông Nguyễn đọc được một thống kê ngắn của
Bộ Giáo Dục và Ðào tạo Việt Nam trên hệ thống internet,
chỉ vài con số trong đó cho thấy rằng, cả nước Việt Nam
có khoảng 14.000 tiến sĩ trong tổng số hơn 82 triệu dân tính
đến tháng 7 năm 2005, trong khi người Việt ở nước ngoài
chỉ gần 3.000.000 người mà có đến 300.000 người có trình
độ đại học trở lên. Ðây là con số thống kê của Bộ
Giáo Dục Việt Nam đấy nhé! Ðiều hiển nhiên là con số
300.000 trí thức trong Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại, đã
và đang đóng góp quan trọng vào các ngành sinh hoạt tại các
xã hội định cư, nhưng những đóng góp này hoàn toàn không
do cái mánh khóe láu lỉnh như trong xã hội xã hội chủ nghĩa
mà ông Nguyễn từng sống, mà là do thông minh và óc sáng tạo
của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đấy nhé! Ðó là chưa
phân tách đến trình độ giáo dục đại học, không thể
nào sánh ngang bằng giữa trí thức tốt nghiệp trong nước
với trí thức tốt nghiệp hải ngoại được. Ðây là sự
thật, hoàn toàn thật, xin đừng xuyên tạc nhận thức này
như một ý nghĩa hạ thấp giá trị trí thức trong nước nhé!
Tôi xin chứng minh thêm
về con số 300.000 trí thức hải ngoại. Theo cơ quan thống
kê của Hoa Kỳ năm 2000, thì toàn nước Mỹ là 281 triệu người.
Trong số đó, cộng đồng Việt Nam là 1.122.528 người, chiếm
0.4%. Nếu tính bình quân một gia đình Việt Nam chúng ta là
5 người thì ta có 224.000 gia đình, và cứ cho là mỗi gia đình
chỉ có một người tốt nghiệp đại học thì ta có ngay con
số 224.000 trí thức, cộng với các cộng đồng ở Châu Âu,
Canada, và Châu Úc, chúng ta dễ dàng có 300.000 trí thức tốt
nghiệp tại các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến.
Nếu mỗi gia đình có 1.5 người tốt nghiệp đại học thì
riêng tại Hoa Kỳ con số trí thức sẽ là 336.000 người, và
trên toàn thế giới chúng ta dễ dàng có con số 500.000 trí
thức. Ðây chính là khối tài nguyên quí giá hôm nay, sẽ là
nỗ lực chính thực hiện mục tiêu nâng và đẩy nước Việt
Nam dân chủ tự do cất cánh vào ngày mai.
Không thông minh thì làm
sao sinh viên Việt Nam hải ngoại tranh đua nỗi với sinh viên
bản xứ hấp thụ nền giáo dục tiên tiến của thế giới,
chẳng những tranh đua nỗi mà còn vượt lên trên họ nữa.
Bằng chứng là mỗi cuối năm học ở bậc trung học cũng
như bậc đại học, số học sinhsinh viên Việt Nam hải ngoại
tốt nghiệp, tỷ lệ chiếm hạng ưu hơn hẳn trong tổng số
học sinhsinh viên bản xứ và du sinh nữa. Cũng chắc chắn
là số lượng học sinh sinh viên tốt nghiệp ưu hạng này
hoàn toàn không do mánh khóe láu lỉnh, mà là do thông minh và
chăm chỉ của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đấy nhé!
Thứ năm. Việt Nam được
Hoa Kỳ bỏ cấm vận là bước ngoặt lớn cho nền kinh tế
Việt Nam, vì nhờ đó mà kinh tế phát triển, người dân đỡ
khổ. Ông Nguyễn quả quyết là Cộng Ðồng Việt Nam hải
ngoại chẳng muốn đánh giá cao về sự phát triển này, mà
chỉ thấy cái xấu xa -nhất là về nhân quyền- và muốn thế
giới trừng phạt Việt Nam. Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại
không để ý đến điều quan trọng là khi Việt Nam khổ thì
người dân khổ trước, và nếu bị ép quá cộng sản Việt
Nam có thể biến Việt Nam như một nước Bắc Triều Tiên,
thì người dân sẽ còn cơ cực đến chừng nào!
Ông Nguyễn diễn giải: Theo ông
thì Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại hãy đóng góp giúp cho
dân giàu nước mạnh rồi tìm cách giáo dục cho cộng sản
Việt Nam hiểu rằng, một chế độ đa nguyên đa đảng là
tốt nhất để phát triển đất nước. Cho họ thấy chế
độ cộng sản ngày nay không còn phù hợp nữa, vì nó kềm
hãm bước phát triển của đất nước. Việt Nam vẫn là Việt
Nam, và Việt Nam sẽ mạnh hơn, giàu hơn, chớ không phải không
còn cộng sản mà đất nước bị ngoại bang cai trị như nhiều
người trong nước hiện nay vẫn nghĩ như vậy.
Quan điểm của tôi. Tôi không
đồng ý với ông Nguyễn khi ông nói rằng: Cộng Ðồng Việt
Nam hải ngoại cần đóng góp cho dân giàu nước mạnh, rồi
giáo dục cho cộng sản Việt Nam thấy rằng đa nguyên đa đảng
là có lợi cho đất nước.
Ơ hay! Tại sao Cộng Ðồng tị nạn
cộng sản tại hải ngoại lại đóng góp cho lãnh đạo cộng
sản Việt Nam tiếp tục thống trị nhân dân Việt Nam?
Ông Nguyễn hãy đặt
lại vấn đề cho đúng: Lãnh đạo phục vụ người dân theo
nguyện vọng của dân, hay tự người dân phục vụ cho nhau
trong khi lãnh đạo thụ hưởng từ những phục vụ đó? Tại
sao lãnh đạo tham nhũng làm cho dân nghèo, mà ông Nguyễn lại
muốn Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại nhận trách nhiệm làm
cho dân giàu nước mạnh? Tại sao Cộng Ðồng hải ngoại phải
sợ người dân khổ khi gây áp lực buộc lãnh đạo cộng
sản phải thực hiện dân chủ tự do và nhân quyền để đất
nước được phát triển toàn diện? Người dân nghèo, không
phải chỉ Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại nhận thấy điều
đó, mà bất cứ ai quan tâm đến chính trị Việt Nam trong
nước hay ngoại quốc cũng nhận thấy điều đó, hoặc hơn
thế nữa. Ðiều khẳng định là ngày nào lãnh đạo cộng
sản Việt Nam còn đó, thì không bao giờ dân giàu nước mạnh
được, mà chỉ có lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước
các cấp từ trên xuống dưới giàu thôi. Chắc rằng, không
ai phủ nhận điều khẳng định này cả.
Tại sao ông Nguyễn mong
Cộng Ðồng tị nạn hải ngoại chỉ nhìn vào vấn đề kinh
tế mà không một chút bận tâm đến chính trị, hay nói cho
đúng là vấn đề nhân quyền. Tôi nghĩ là ông Nguyễn chịu
ảnh hưởng quá sâu vào đường lối của lãnh đạo cộng
sản Việt Nam rồi. Ông Nguyễn có thấy rằng, chính sách mở
cửa của lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ cuối năm 1986
đến nay, là chính sách hai mặt: Một mặt mở toang cánh cửa
kinh tế vui chơi giải trí, và mặt khác thì hoàn toàn đóng
chặt cánh cửa chính trị.
Giáo dục cho lãnh đạo
cộng sản Việt Nam ư? Căn cứ bản chất những nhóm lãnh
đạo cộng sản từ trước tới nay, thiết tưởng đã quá
đủ để khẳng định rằng, họ không bao giờ tự lột xác
độc đảng độc quyền và độc tài để hòa nhập vào cộng
đồng dân tộc, để đưa đất nước vào hành trình phát
triển xứng hợp với khả năng và tiềm năng của quốc gia
đâu, vì họ sợ mất quyền lực cũng như quyền lợi phe nhóm
của họ. Căn bản trong lãnh đạo của họ đâu phải phục
vụ nguyện vọng người dân, mà chỉ phục vụ cho chính họ
thôi. Nếu họ phục vụ nguyện vọng người dân thì họ đã
lột xác sau khi "cái nôi của chủ nghĩa cộng sản" sụp đổ,
chớ cần gì đến bây giờ mới giáo dục họ. Quan điểm
của tôi khẳng định là lãnh đạo cộng sản Việt Nam không
bao giờ lột xác đâu, cách duy nhất đến với họ là họ
sụp đổ thôi. Cũng xin nói thêm để tránh hiểu lầm, theo
tôi, lãnh đạo cộng sản Việt Nam sụp đổ là do những thành
phần trong nước, trong khi Cộng Ðồng tị nạn tại hải ngoại
hỗ trợ mạnh mẽ.
Thứ sáu. Ông Nguyễn
cho rằng, hình tượng Hồ Chí Minh vẫn còn "thiêng liêng" ở
nhiều người Việt Nam, kể cả ông Nguyễn vẫn phục ông
Hồ mặc dù ông nói là ông không thích ông Hồ bao nhiêu. Ông
Nguyễn phục ông Hồ, vì ông Hồ là một người tin vào điều
mình làm là đúng, nên đã tranh đấu đến cùng cho lý tưởng
đó, và ông Hồ đã làm được những điều lớn. Cuối cùng
của đoạn này, ông Nguyễn cho rằng ông Hồ Chí Minh đã phạm
sai lầm khi quyết định đi theo con đường chủ nghĩa cộng
sản từ năm 1954.
Ông trình bày tiếp:
Có thể vì nhiều người trong nước chưa thấu hiểu 100% sự
thật khi những nhóm lãnh đạo cộng sản đã đi không đúng
với mong muốn của ông Hồ. Nếu hình tượng Hồ Chí Minh
như vậy thì rất khó thay đổi, cho nên cần phải có phương
cách khác để giáo dục dân chúng. Thay vì chỉ trích Hồ Chí
Minh đủ thứ xấu xa, Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại cần
tận dụng điều mà ông Hồ tin tưởng ông ta làm những điều
tốt cho dân tộc, để nói lên sự thay đổi cần thiết trong
bối cảnh hiện nay. Ông Nguyễn cho rằng, ông Hồ là không
đáng trách, chẳng qua là quyết định của ông ta trong bối
cảnh 60 năm về trước không còn phù hợp trong bối cảnh
hiện nay. Nếu Cộng Ðồng hải ngoại chỉ ngồi chửi rủa,
chỉ làm cho Cộng Ðồng xa cách với người dân trong nước
thôi.
Quan điểm của tôi.
Ông Nguyễn phục ông Hồ là quyền của ông. Có điều là
ông không nên gieo rắc cái quan điểm riêng tư của ông ở
hải ngoại này. Không biết ông Nguyễn đang trình bày quan
điểm của ông trong mục đích góp phần vào công cuộc dân
chủ hóa Việt Nam, hay ông Nguyễn đang vận dụng mục đích
đó để đưa hình tượng Hồ Chí Minh vào Cộng Ðồng hải
ngoại đây? Giá mà ông Nguyễn chứng minh được tư cách đứng
đắn của ông Hồ là không lăng nhăng tình tự, không vợ
không con, không ngủ lang chạ với vợ của đồng chí, không
con rơi con rớt, sống cuộc đời đạo nghĩa thật sự như
bất cứ người dân bình thường đạo nghĩa nào khác, cũng
như chứng minh được điều mà ông Hồ nói yêu nước thương
dân, trong khi với những hành động mà chẳng riêng Cộng Ðồng
hải ngoại mô tả ông Hồ là một người tàn bạo độc ác,
đã ra lệnh giết đồng bào ruột thịt và giết một cách
dã man rùng rợn trong vụ án cải cách ruộng đất 1953-1954,
trong vụ án Nhân Văn và Giai Phẩm 1957, trong vụ thảm sát
Tết Mậu Thân 1968, ..v.. v.. mà chính những người cộng sản
từng theo ông Hồ từ thời kỳ đầu đến nay, chẳng những
mô tả như vậy mà còn mô tả nhiều hơn nữa, với những
chi tiết tàn bạo hơn nữa.
Lúc đó, ông Nguyễn
mới có thể mạnh dạn khuyên Cộng Ðồng hải ngoại vận
dụng cái điều mà ông nói là ông phục ông Hồ. Cho đến
khi nào ông Nguyễn chưa chứng minh được những điều đó,
ông không nên ca tụng ông Hồ Chí Minh nếu ông muốn đứng
chung trong Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại. Xin ông Nguyễn
nhớ cho rằng, vì bản chất độc tài của cộng sản Việt
Nam, mà hằng mấy triệu người vượt lên cái chết, tôi nói
vượt lên cái chết, đi tìm tự do để hình thành Cộng Ðồng
này, mà từ lâu nay lãnh đạo cộng sản rất thèm nắm quyền
khống chế cai trị. Xin ông Nguyễn đừng chạm đến nỗi
đau của Cộng Ðồng hải ngoại khi phải rời khỏi quê hương,
vì không chịu nổi cái chủ nghĩa đầy máu và nước mắt
của người mà ông Nguyễn vẫn còn phục, và những nhóm lãnh
đạo cộng sản Việt Nam có toàn quyền hoạch định và điều
khiển thực hiện chế độ độc tài tàn bạo đó! Ở đoạn
này, tôi có chút ngờ vực ông Nguyễn dù ông có ý nói lên
cái chân thành của ông, nhưng tôi e đằng sau cái chân thành
của ông là một loại tuyên truyền xám mà lãnh đạo cộng
sản Việt Nam từng sử dụng. Nét nhìn của tôi như vậy,
nếu muốn phản đối xin ông Nguyễn cứ phản đối, nhưng
tôi không bao giờ rút lại quan điểm của tôi cho đến khi
nào ông Nguyễn chứng minh được đường lối và hành động
của ông Hồ Chí Minh là trong sáng thật sự.
Thứ bảy. Vẫn
theo ông Nguyễn thì trong cuộc đấu tranh hiện nay, Cộng Ðồng
hải ngoại tránh dùng hình tượng Việt Nam Cộng Hòa vì sẽ
làm cho nhiều người dị ứng. Bởi những chánh phủ thời
Việt Nam Cộng Hòa không phải là các chánh phủ thật tốt,
cũng buôn lậu, cũng tham nhũng, nhưng trong thời gian đó hầu
như những việc như vậy không xảy ra trên đất Bắc. Thêm
nữa, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa không làm cho người dân
hiểu được thật sự về ý nghĩa cuộc chiến tranh, làm cho
người dân không tha thiết với việc bảo vệ đất nước.
Và sai lầm khi tuyên truyền về ý thức hệ. Ðiều này cũng
không xảy ra trên đất Bắc.
Quan điểm của tôi.
Nếu có những người mà ông Nguyễn nói là dị ứng với
hình tượng Việt Nam Cộng Hòa, chắc hẳn ông Nguyễn là một
trong số đó. Cũng dễ hiểu thôi, vì ông Nguyễn đã mấy
chục năm sống, chiến đấu, mất mát, và hưởng ân huệ
của cộng sản độc tài gần như ngắm vào da thịt rồi,
giờ đây khi đứng nhìn sinh hoạt dân chủ trong Cộng Ðồng
với quốc kỳ nền vàng biểu tượng cho màu da, với ba sọc
đỏ biểu tượng cho ba miền Nam Trung Bắc thống nhất, dị
ứng là phải thôi.
Ðúng. Thời chiến tranh
bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa trước cuộc xâm lăng của nước
Dân Chủ Việt Nam Cộng Hòa, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa
chưa phải là thật tốt, nhưng chắc chắn là tốt gấp chục
gấp trăm lần so với chánh phủ cộng sản của ông Nguyễn,
dù là cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước
năm 1975, hay nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ
năm 1975 đến nay. Trong hơn 20 năm kể từ tháng 7 năm 1954,
ai gây ra chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa? Nếu
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không gây chiến tranh trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa thì quân đội Hoa Kỳ không có
lý do để có mặt tại Việt Nam Cộng Hòa. Nếu nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa không xua quân vào đánh Việt Nam Cộng
Hòa thì làm gì Hoa Kỳ thả bom trên lãnh thổ nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Dù là trong thời gian chiến tranh chống
lại cuộc xâm lăng từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,
chúng tôi vừa chiến đấu vừa xây dựng bước đầu của
nền kinh tế non trẻ. Ai phá tan nền kinh tế Việt Nam Cộng
Hòa sau ngày 30/4/1975? Ai phá tan nền nếp đạo nghĩa trong xã
hội Việt Nam từ sau ngày 30/4/1975?
Còn những sự kiện
ở miền Nam thì không xảy ra ở miền Bắc, vì người dân
trong xã hội xã hội chủ nghĩa miền Bắc bị kềm kẹp đến
mức không nhúc nhích được thì làm sao có chuyện gì xảy
ra. Ngay cả người lính cao xạ bị cột chân vào súng mà vẫn
vui vẻ, nhưng cái vui vẻ đó không phải là tự nguyện, mà
là họ không hiểu thật sự 100% bản chất cuộc chiến tranh,
trong khi họ bị tuyên truyền nhồi sọ đến mức cứ tưởng
là họ đang hi sinh cho dân cho nước. Nếu họ đừng bị bịt
mắt bịt miệng bịt tai, chắc rằng họ không bao giờ tự
mình cột chân vào pháo tháp, để nghẻo đầu mà chết tại
chỗ như đã từng chết như vậy đâu ông Nguyễn à!
Trong xã hội tự do dù
rằng có giới hạn do bị quân cộng sản xâm lăng, người
dân Việt Nam Cộng Hòa được giáo dục để hiểu về sinh
hoạt chính trị, chớ chánh quyền không cưỡng bách người
dân phải hiểu chính trị như chánh quyền cộng sản độc
tài miền Bắc của ông Nguyễn.
Với lại đảng và nhà
nước cộng sản hiện nay điều hành cả một hệ thống tham
nhũng chằng chịt từ trên thượng tầng xuống đến hạ tầng
cơ sở để bảo vệ đảng. Ðã tặng đất tặng biển cho
Trung Hoa cộng sản. Ðã rao bán phụ nữ trên mạng lưới thông
tin toàn cầu. Ðã đẩy hằng trăm ngàn thiếu nữ ra ngoại
quốc làm vợ hờ, làm gái điếm, làm nhân công, trước nhất
là những dịch vụ của nhà nước thu lợi, sau đó là lãnh
đạo đảng với lãnh đạo nhà nước thu lợi trên sự đau
khổ của đồng bào, rồi dùng ngoại tệ do những thành phần
đó gởi về để họ rửa hằng chục hằng trăm triệu tiền
tham nhũng trước khi đổ vào các ngân hàng ngoại quốc phòng
thân. Ðã đàn áp chính trị, đàn áp tôn giáo, nói chung là
đàn áp nhân quyền. Ðã phá tan nếp sống đạo nghĩa của
dân tộc, đã tạo nên một xã hội toàn lọc lừa dối trá,
..v..v.. sao ông Nguyễn không nói tới mà lại nói đến những
chuyện năm xưa như nói đến cái hào quang theo nét nhìn của
ông Nguyễn với mục đích gì?
Thứ tám. Nhiều
người dân, nhất là người miền Bắc, không muốn chế độ
Việt Nam Cộng Hòa cùng với lá cờ vàng ba sọc đỏ quay lại
nắm chánh quyền, cho dù chế độ cộng sản Việt Nam có bị
loại bỏ cũng vậy. Những người chống đối chế độ cộng
sản hiện nay bị cầm tù là những kẻ sĩ của Bắc Hà, chớ
không có ai dính dáng đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa cả.
Quan điểm của tôi.
Trong những người mà ông Nguyễn nói là không muốn chế độ
Việt Nam Cộng Hòa với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ trở
lại nắm chánh quyền, khi cộng sản Việt Nam bị loại bỏ,
ông Nguyễn cũng trong số đó chớ?. Xin ông Nguyễn an tâm,
vì trong thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ cộng sản độc
tài sang chế độ dân chủ tự do, và tôi tin chắc là thời
kỳ này nhất thiết phải xảy ra trên quê hương Việt Nam,
không có vấn đề người này muốn hay người kia muốn là
được, mà người dân toàn quyền và trực tiếp chọn bầu
người lãnh đạo theo ý nguyện của họ, chớ không phải
như dân chủ kiểu cộng sản mà đảng với nhà nước chọn
giùm người dân đâu mà ông Nguyễn sợ. Nói cách khác, lúc
đó người dân toàn quyền chọn lựa chế độ, chọn lựa
quốc kỳ, chọn lựa người lãnh đạo, không ai có quyền
áp đặt như cộng sản đã áp đặt đâu mà ông Nguyễn sợ.
An tâm nhé!
Cũng xin ông Nguyễn đừng
sợ, vì Cộng Ðồng hải ngoại không hận thù cộng sản đâu
dù trải qua biết bao cay đắng bởi chế độ cộng sản, mục
tiêu của Cộng Ðồng hải ngoại là góp phần giải thể chế
độ độc tài chớ không có tư tưởng trả thù như lãnh đạo
cộng sản Việt Nam đã trả thù một cách hèn hạ đâu. Tôi
nói giải thể chế độ độc tài chớ không nói chỉ giải
thể riêng cộng sản, vì tôi có chút kinh nghiệm nên ước
tính đến giai đoạn nào đó, đảng cộng sản mà ông Nguyễn
đang hưởng ân huệ sẽ đổi tên để tiếp tục cầm quyền
nhưng bản chất độc tài trong cai trị vẫn nguyên vẹn, hay
có quá lắm cũng thay đổi cái bên ngoài thôi. Trường hợp
này thì ngôn ngữ dân gian gọi là thay đổi theo cái kiểu
"bình mới nhưng rượu cũ" đấy.
Thêm nữa, khi nói đến
cộng sản, Cộng Ðồng hải ngoại chỉ nói đến nhóm lãnh
đạo đảng chỉ hơn chục người thôi, chớ không nói đến
toàn bộ đảng viên cộng sản đâu nhé.
Về quốc kỳ nền vàng
ba sọc đỏ, chắc là ông Nguyễn không thấu hiểu nguồn gốc
lá cờ này từ trong lịch sử. Chế độ Cộng Hòa, hoặc cách
thường dùng là Việt Nam Cộng Hòa mới xuất hiện trên công
văn giấy tờ từ năm 1955, trong khi quốc kỳ nền vàng ba sọc
đỏ đã xuất hiện trên bàn cờ chính trị thế giới từ
năm 1948. Và vào thời điểm ấy, lá cờ cộng sản nhuộm
máu người dân Việt còn giấu kín trong "hang Bác Pó" và trong
những khu rừng già Việt Bắc kia mà. Vậy, ông Nguyễn cần
nhận thức cho rõ, quốc gia là quốc gia Việt Nam, quốc kỳ
Việt Nam là quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, tượng trưng
người dân Việt da vàng với ba Miền Nam Trung Bắc thống nhất.
Ðiều này thật rõ nghĩa. Từ lâu nay, Cộng Ðồng hải ngoại
khi nói đến quốc kỳ, phải nói rõ là quốc kỳ Việt Nam
Cộng Hòa để phân biệt giữa Việt Nam tự do với Việt Nam
cộng sản, chớ không có nghĩa là quốc kỳ này chỉ riêng
của thời Việt Nam Cộng Hòa.
Ðến những vị đấu
tranh đòi dân chủ bị cầm tù, ông Nguyễn có vẻ tự hào
khi nói những vị ấy là những kẻ sĩ Bắc Hà, không có ai
dính dáng đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Không biết ông
Nguyễn có nghe nói đến người tù nhân lương tâm bác sĩ
Nguyễn Ðan Quế, người đã được các nhà lập pháp Hoa Kỳ
đề nghị ứng viên giải Nobel hòa bình 2004 chớ? Rồi Nguyễn
Ðình Huy, hết tù cải tạo tới tù có án. Nhìn qua tôn giáo,
những vị đấu tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho nhân
quyền, đã và đang bị tù, đã và đang bị quản chế, cũng
là kẻ sĩ Bắc Hà nữa sao? Có vẻ như ông Nguyễn vẫn còn
đầu óc kỳ thị người miền Nam với người miền Bắc thì
phải? Ðầu óc này đã bị loại trừ từ những năm 40 rồi
nghe ông Nguyễn, sao nó vẫn còn trong đầu của ông Nguyễn
vậy? Và phải chăng ông Nguyễn cho rằng chỉ có những người
đó mới là đấu tranh? Ông Nguyễn chỉ mới thấy bề mặt
thôi, chớ làm gì ông Nguyễn thấy được những hoạt động
đằng sau cái bề mặt đó ngay trên quê hương Việt Nam. Nếu
có tự hào thì ông Nguyễn cứ tự hào vì ông đang sống trên
đất tự do mà, dù ông đang hưởng ân huệ của cộng sản,
nhưng đừng khinh thường những công dân Việt Nam Cộng Hòa
cũ nhé! Tôi nói "Những Công Dân Việt Nam Cộng Hòa cũ" vì
chúng tôi không chấp nhận -và không bao giờ chấp nhận-
làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam đâu nhé! Nghe cái tên của chế độ là muốn . . . rồi.
Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại chúng tôi
cũng có dị ứng như ông Nguyễn vậy, không chừng dị ứng
mạnh hơn ông Nguyễn nữa là khác.
Xin đặt nét nhìn vào
căn bản của vấn đề ông Nguyễn à! Chắc rằng, nếu không
có sự hỗ trợ mạnh mẽ của Cộng Ðồng hải ngoại, liệu
những vị đó có đủ can đảm đứng lên đấu tranh không
nhỉ? Xin nói thêm là sự hỗ trợ đó trong tính cách cộng
tác cho một mục tiêu chung của dân tộc là dân chủ hóa Việt
Nam, xin đừng hiểu lầm hay quảng diễn theo nghĩa khác nghe
ông Nguyễn! Chúng tôi rất ngưỡng mộ những đảng viên cộng
sản lão thành lẫn những đảng viên trẻ, có quan điểm xây
dựng và phát triển quốc gia trên nền tảng dân chủ pháp
trị theo nguyện vọng người dân, vì đó chính là quan điểm
của chúng tôi.
Thứ chín. Thưa
quí vị, đến đây thì ông Nguyễn dành một đoạn nói với
cộng sản Việt Nam, và ông tự cho ông là người yêu nước.
Ông nói: Nhìn lại chặng
đường 74 năm qua, cộng sản Việt Nam đã đóng góp quan trọng
cho đất nước, nhưng những đóng góp này chỉ mới làm cho
Việt Nam khá hơn so với 74 năm trước, chớ so với các quốc
gia láng giềng thì quá thua kém. Hãy nhìn lại hằng chục ngàn
cô gái Việt bị mua đi làm vợ cho Ðài Loan, hằng ngàn cô
khác phải đi làm điếm ở những nước láng giềng giàu có,
hằng ngàn trẻ em Việt Nam bị bắt làm gái mãi dâm ở Cam
Bốt. Hãy nhìn lại một nước mà một phần ba (1/3) trẻ em
suy dinh dưỡng, hơn một phần ba (1/3) dân số sống dưới
mức nghèo khổ, không đủ ăn, không học hành, không chăm
sóc y tế. Hãy nhìn lại hằng triệu người dân nông thôn
gần như không có việc làm, thu nhập cả năm chỉ vài chục
mỹ kim. Trong khi đó, thế giới trong vòng vài chục năm qua
đã thay đổi và phát triển nhảy vọt. Thử xem Hàn Quốc,
Ðài Loan, Hong Kong, Singapore, hay Thái Lan, Malaysia, vài chục
năm trước cũng như mình, mà bây giờ một trời một vực.
Vậy, đảng cộng sản
Việt Nam suy nghĩ xem, những nước nói trên có phải là thực
dân hay tư bản lãnh đạo không? Họ đâu có đảng cộng sản
mà vẫn là nước của họ. Có ai như đảng cộng sản Việt
Nam, mang đất bao ngàn năm của ông cha đem dâng cho Trung Quốc
để trả nợ chiến tranh đâu! Dựa trên quan điểm lịch sứ,
ông Nguyễn khẳng định rằng, thời kỳ đảng cộng sản
Việt Nam lãnh đạo là thời kỳ đen tối nhất trong lịch
sử Việt Nam.
Ông Nguyễn khuyên cộng
sản Việt Nam nên mở mắt ra để thấy để hiểu thế nào
là dân chủ, thế nào là toàn cầu hóa để mà thay đổi,
để mà đóng góp cho lịch sử Việt Nam. Vẫn chưa muộn nếu
như thay đổi ngay bây giờ, vì có nhiều người Việt Nam trong
nước lẫn hải ngoại có tâm huyết và khả năng dễ tạo
một nước Việt Nam thật sự giàu mạnh, thật sự được
thế giới kính trọng.
Rồi ông Nguyễn tưởng
tượng ra hai hình ảnh dưới đây:
Hình ảnh thứ nhất.
Những người cộng sản Việt Nam cầm quyền thấy rằng chủ
nghĩa cộng sản không còn phù hợp nên tự nguyện bỏ quyền
lợi của đảng, và chấp nhận thể chế đa đảng. Chỉ sau
thời gian ngắn, một chánh phủ do dân bầu được thế giới
hỗ trợ, nhất là Hoa Kỳ. 15 năm sau đó, với tài lãnh đạo
của chánh phủ dân bầu, Việt Nam trở thành một trong những
cường quốc kinh tế trong khu vực, và là một quốc gia tham
gia tích cực vào phong trào dân chủ và xóa đói giảm nghèo
trên thế giới.
Hình ảnh thứ hai.
Trong những năm cuối thập niên đầu của thập niên đầu
này, kinh tế Việt Nam thụt lùi, mức thất nghiệp cao, hàng
ngoại quốc chi phối thị trường quốc nội. Thiên tai hạn
hán hoặc không đúng phẩm chất khiến cho hàng nông nghiệp
không cạnh tranh được. Nhân dân ta thán bất bình về khả
năng lãnh đạo. Nhiều phong trào chống đối nổi dậy, nhà
cầm quyền dùng nắm đấm sắt đàn áp, hằng vạn người
chết nhưng phong trào vẫn tiếp tục. Và nội chiến xảy ra
với hằng triệu người chết. Chiến tranh kết thúc, Việt
Nam lại rơi vào nghèo đói và kêu gọi thế giới cứu đói.
Ông Nguyễn mong là hình
ảnh thứ hai không xảy ra. Ðiều này có nghĩa là ông Nguyễn
tin là lãnh đạo cộng sản Việt Nam tự mình lột xác để
hòa nhập vào đồng bào, vào thế giới. Câu cuối cùng của
ông Nguyễn là: Không ai thay đổi được lịch sử, mà chỉ
có thể thay đổi hiện tại và tương lai. Những người vĩ
đại phải là những người thức thời, phải biết thay đổi
để đóng góp cho tương lai.
Tóm tắt. Qua bài
viết của ông Nguyễn, tôi có nhận xét về ông Nguyễn như
sau:
Ông Nguyễn nói ông là
người yêu nước, nhưng theo cách nhìn của tôi thì tôi cảm
thấy có điều gì không ổn. Cũng có thể ông Nguyễn nói
yêu nước theo ngữ nghĩa của lãnh đạo cộng sản Việt Nam:
yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa chăng? Nửa phần đầu
bài viết có thể ông yêu nước thật, nhưng nửa phần sau
rõ ràng là ông muốn xóa đi quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba
sọc đỏ, xóa luôn những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ,
vừa đưa hình tượng ông Hồ và đảng cộng sản Việt Nam
vào Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại,
khi ông đánh giá ông Hồ và đảng cộng sản đã làm được
những điều lớn cho đất nước. Với tôi, thật sự là ông
Nguyễn vẫn lưu luyến ông Hồ và mong muốn xóa bỏ những
gì lên quan đến Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ông Nguyễn có hiểu
rằng, những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ đã đổ biết
bao xương máu bảo vệ tự do trên lãnh thổ từ vĩ tuyến
17 trở xuống Nam, đồng thời xây dựng nền móng cho một
xã hội dân chủ pháp trị không? Khi nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, lãnh đạo
cộng sản Việt Nam phải ra sức triệt tiêu nền móng đó
để họ xây dựng một xã hội mới với con người mới xã
hội chủ nghĩa từ sau tháng 4 năm 1975, một xã hội đảo
lộn luân thường đạo lý trong cội nguồn dân tộc Việt
Nam, một xã hội mà tham nhũng trở thành một nếp trong văn
hóa Việt Nam! Và đây là sự thật khách quan trong hiện tại,
ông Nguyễn có thấy không nhỉ?
Không biết là do ông
Nguyễn không biết đến những phanh phui trong những năm sau
này về tư cách tác phong đạo đức của ông Hồ từ những
người cộng sản gần gũi ông Hồ, nhất là UNESCO đã hủy
bỏ kỷ niệm ngày sinh thứ 100 của ông Hồ vì tổ chức quốc
tế này cho rằng ông Hồ không xứng đáng được tổ chức
như vậy, hay là ông Nguyễn và gia đình ông chịu ân huệ
nhiều từ ông Hồ mà chối bỏ một vấn đề khách quan đó?
Với lại dường như ông Nguyễn tránh né không nói đến lãnh
đạo đảng mà chỉ nói chung chung là cộng sản Việt Nam.
Tôi thì khác, tôi nhắm thẳng vào lãnh đạo đảng tức Bộ
Chính Trị, nơi mà những nhân vật chóp bu này tự tôn vinh
là "đỉnh cao trí tuệ" (!),vì đây là cơ quan nắm toàn quyền
hoạch định và điều khiển thực hiện chế độ độc tài
đảng trị. Và phải chăng ông Nguyễn muốn lôi cuốn Cộng
Ðồng tị nạn hải ngoại theo kiểu "vơ đũa cả nắm" để
gây chia rẽ giữa người Việt tự do với đảng viên cộng
sản có quan điểm tự do nhưng vẫn còn trong hàng ngũ đảng
cộng sản?
Ông Nguyễn có những
nét nhìn khá trung thực về phía cộng sản nhưng là cái trung
thực của bề mặt thôi, còn chiều sâu hay cốt lõi của quan
điểm thì ông Nguyễn không biết gì hết hoặc ông không dám
nhìn thẳng vào đó, nhưng lại rất nông cạn về phía Cộng
Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại. Nói chung là nét
nhìn của ông Nguyễn rất nông cạn về cả hai phía.
Một điều khó hiểu
là theo bài viết thì ông Nguyễn sống trong xã hội xã hội
chủ nghĩa lâu lắm rồi, ông cũng nói ở đầu bài là ông
nghiên cứu rất nhiều tài liệu về kinh tế và ý thức hệ
rồi, nhưng tại sao ông có ý nghĩ là nhóm lãnh đạo cộng
sản Việt Nam tự họ lột xác, cởi bỏ quyền lợi đảng
mà hòa nhập vào dân tộc? Bởi căn cứ vào chứng nghiệm
trong lịch sử nửa thế kỷ cầm quyền của cộng sản Việt
Nam, trong số những nhân vật trong trung ương đảng cộng sản
nói chung, và trong bộ chính trị hiện nay nói tiêng, không
thể nào có một Gorbachev Liên Xô tại Việt Nam đâu. Nhưng
từ suy nghĩ đó, ông Nguyễn không mong hình ảnh thứ hai xảy
ra tức hình ảnh bạo loạn lật đổ chế độ, nhưng thực
tế cho phép tôi suy đoán là hình ảnh này sẽ xảy ra, và
chắc chắn phải xảy ra. Không phải tôi mong như vậy, mà
tôi tin chắc như vậy, và chính những thành phần đấu tranh
trong nước sẽ là nòng cốt lãnh đạo trong giai đoạn chuyển
tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ tự do, ít nhất
là cho đến khi bầu cử tự do mà người dân trực tiếp có
toàn quyền chọn lựa từ quốc hiệu, quốc kỳ, đến chế
độ, và vị lãnh đạo. Chế độ dân chủ tự do, khác với
chế độ độc tài, khác hoàn toàn ông Nguyễn ạ!
Houston, Xuân 2004
Bổ túc Xuân 2006
Phạm Bá Hoa
|