4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Vườn Hoa Văn Nghệ
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết

Quan Điểm

Trao đổi quan điểm với ông Nguyễn H.
Phạm Bá Hoa

Thưa quí vị, cuộc đấu tranh không súng đạn mà chúng ta đã và đang tiến hành, hoàn toàn tự phát từ tinh thần trách nhiệm công dân Việt Nam nói chung, và tinh thần trách nhiệm chưa tròn của tập thể Cựu Quân Nhân, Viên Chức, Cán Bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ, nói riêng. Chúng ta chưa có một tổ chức lãnh đạo, cho nên chúng ta chưa có một đường lối chỉ đạo chung, một hệ thống tổ chức chung, một phương thức hoạt động chung, nhưng chắc chắn là chúng ta có chung một mục tiêu; cùng nhau góp phần vào công cuộc dân chủ hóa Việt Nam, để huy động toàn bộ nhân lực, vật lực, tài lực của quốc gia của đồng bào vào công cuộc khôi phục nếp sống văn hóa dân tộc, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam thật sự tự do dân chủ và phát triển đồng bộ các lãnh vực sinh hoạt quốc gia, trên nền tảng thực hiện nguyện vọng toàn dân.

Cho đến nay, chúng ta chưa có một quan điểm chung, nhưng nhìn một cách khái quát thì cuộc đấu tranh này bao hàm một bản chất tổng thể, nghĩa là bao gồm mọi phương thức đấu tranh trong mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội, ở mọi nơi thích hợp, trong khuôn khổ luật pháp xã hội cũng như trong đạo nghĩa dân tộc. Tùy theo hoàn cảnh, không gian, thời gian, luật pháp, tùy theo từng tổ chức, thậm chí từng cá nhân, góp ý nghiên cứu những phương thức thích hợp, và thực hiện trong đấu tranh. Vậy, sự đóng góp quan điểm đấu tranh từ những cá nhân hay những tổ chức, tất cả cần được phổ biến rộng rãi, cần được trao đổi, tranh luận trong mục đích tìm ra một đường lối thích hợp chung, hoặc thích hợp riêng cho tổ chức hay cho từng địa phương nào đó nghiên cứu ứng dụng. Những quan điểm trình bày của tổ chức hay của cá nhân, đúng hay sai là do cách nhìn từ góc độ nào đó của người đọc, người nghe, hay người nghiên cứu. Một quan điểm, một nét nhìn, một nhận thức, có thể đúng với người này nhưng lại không đúng với người khác. Vì vậy sự trao đổi hay tranh luận quan điểm, tôi nghĩ, cần gìn giữ tính ôn hòa cho nhau.

Với quan niệm như vậy, tôi xin tóm lược những điểm chính trong bài viết nhận được từ trên hệ thống internet, với tựa là "Nếu lịch sử không thể thay đổi, thì hãy thay đổi hiện tại và tương lai", của tác giả Nguyễn H. H là một mẫu tự viết hoa, điều này được hiểu là do nguyên nhân nào đó mà tác giả không muốn nói rõ tên đầy đủ.

Thưa quí vị, tôi xin góp phần quan điểm trong từng đoạn từ bài viết của ông Nguyễn. Tôi biết sự trao đổi một cách thẳng thắn dễ làm mất lòng nhau, nhưng dù sao thì nói thẳng vào vấn đề vẫn hơn là quanh co đôi khi gây hiểu lầm. Ðể tiện trình bày, tôi đã e-mail xin ông Nguyễn H. cho phép tôi gọi tên ông là Nguyễn, và cũng qua e-mail, ông Nguyễn H. đã đồng ý.

Xin bắt đầu.

Bài viết, ông Nguyễn đề gởi "Người Việt Nam yêu Nước". Và ông tự giới thiệu về ông như sau: Tôi tên Nguyễn H. Sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Gia đình tôi dính dáng nhiều đến chế độ cộng sản, có hi sinh, có mất mát, có hưởng ân huệ của chế độ hiện nay trên quê hương Việt Nam. Về bản thân tôi, khi chưa ra nước ngoài, tôi cũng như bao bạn bè cùng trang lứa, đều tự hào là Việt Nam có một chánh phủ tiên tiến, đã đánh thắng quân Mỹ, và đang trên đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian ngắn ở nước ngoài, những hình tượng tốt đẹp của chủ nghĩa cộng sản đã tan biến trong tôi, và những hình tượng đó được thay thế bằng những hiợnh ảnh của sự kém hiểu biết, không thức thời, sự tham lam của các cấp lãnh đạo và đảng viên cộng sản Việt Nam.

Trong thời gian dài sau đó, sự thực này là một "cú sốc" đối với tôi. Tôi lớn tiếng trách móc cộng sản ở bất cứ nơi nào mà tôi có thể trách móc. Tôi luôn tìm thấy những điều xấu xa của chế độ này để chê trách. Những ai không cùng quan điểm với tôi, tôi cho là những người hèn nhát, những người bị bùa mê của cộng sản. Tôi nhận ra rằng, dù chính kiến của mình là đúng, nhưng cần phải có chiến thuật đúng, mới có thể đạt được hiệu quả. Nếu không có chiến thuật đúng, chẳng những không đạt hiệu quả mà còn bị thất bại là khác. Tuy nhiên, tôi không thể chia xẻ những gì mà tôi đang làm, có lẽ vì lý do an ninh của cá nhân tôi. Ðấy là bản thân tôi, bây giờ xin sang phần khác.

Tôi đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu, từ những học thuyết kinh tế đến ý thức hệ. Cùng với những hiểu biết về Việt Nam mà tôi có, tôi rút ra một vài kinh nghiệm, và xin chia xẻ với quí vị, những người Việt Nam yêu nước.

Thứ nhất. Trong lịch sử Việt Nam, chưa có lúc nào chúng ta có dân chủ thật sự. Do vậy mà từ người lãnh đạo cho đến đồng bào, đều không hiểu một cách cụ thể về dân chủ. Cũng chính vì vậy mà ít người coi trọng dân chủ, chứ đừng nói gì đến đấu tranh cho dân chủ. Từ ngàn xưa, dưới chế độ phong kiến, vua là Trời. Vua coi thường đồng bào, bất cứ ai tỏ ra khinh vua, hay chỉ một lời nói sai là 3 đời bị tiêu diệt. Thử hỏi, qua mấy ngàn năm phong kiến, điều đó có thấm sâu vào máu của người Việt Nam không? Chính vì thế mà đến bây giờ cộng sản Việt Nam cũng như đồng bào vẫn còn tư tưởng như vậy. Cộng sản lên nắm chánh quyền, cũng coi thường đồng bào, bưng bít mọi sự thật xấu xa đê hèn, cùng lúc thổi phồng thành tích, bắt bớ đe dọa những người bất đồng chính kiến cũng bắt nguồn từ quan điểm vua là Trời, mặc dù về mặt hình thức có khác so với thời phong kiến.

Về phía đồng bào cũng vậy, đồng bào không đủ kiến thức hay thời gian học hỏi để hiểu thế nào là dân chủ, thế nào là quyền con người, nên dễ dàng chấp nhận sự cai trị của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ chế độ phong kiến nhảy thẳng lên chế độ cộng sản, chẳng có gì là lạ, vì phong kiến với cộng sản chỉ khác nhau về hình thức trong khi bản chất vẫn thế. Có lẽ đồng bào miền Nam trước năm 1975, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa có thể có dân chủ hơn. Thế nhưng, đang lúc có chiến tranh thì nền dân chủ đó chắc cũng bị coi thường. Nếu một người dân thử lên tiếng đòi ngưng chiến tranh và tiến hành bầu cử tự do thống nhất đất nước, có thể người đó cũng bị bắt vào tù với tội danh phản quốc, mà cũng có thể bị án tử hình nữa.

Quan điểm của tôi. Xin đồng ý với ông Nguyễn về nhận thức vào thời phong kiến, và một phần nhận thức thời cộng sản. Nhưng từ nửa cuối thế kỷ 20 dưới chế độ cộng sản độc tài, dân tộc Việt Nam bị đàn áp tàn bạo nhưng tinh vi hơn thời phong kiến nhiều, cái thời mà vua tự xem mình là Trời. Còn dưới chế độ cộng sản độc tài, nhóm lãnh đạo trong Bộ Chính Trị là những ông vua, những ông Trời, nhưng độc ác hơn và tàn bạo hơn ông vua ông Trời thời phong kiến nữa. Chỉ một quan điểm hay một hành động không đúng theo đảng dạy, nhà nước dạy thì ba đời cũng bị trù dập trong mọi sinh hoạt xã hội, mà điển hình là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi đối xử với những người Việt Nam Cộng Hòa cũ cùng với gia đình, chẳng khác chính sách "tru di tam tộc" thời vua quan phong kiến.

Ðúng là công dân Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi chưa được hưởng dân chủ hoàn toàn, nhưng chắc chắn là có đời sống hạnh phúc so với công dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tôi không nói là công dân của chế độ tự do miền Nam hạnh phúc hơn công dân chế độ độc tài miền Bắc, vì ở đó có hạnh phúc đâu mà so sánh hơn hay kém. Nhưng tôi nói hạnh phúc của công dân Việt Nam Cộng Hòa, để đối lại đời sống không hạnh phúc của công dân dưới chế độ mà ông Nguyễn đã từng sống. Thêm nữa, đời sống của công dân Việt Nam Cộng Hòa chưa hoàn toàn dân chủ, nhưng sự chưa hoàn toàn này không xuất phát từ chế độ mà là từ cuộc chiến tranh xâm lăng do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thực hiện, cái quốc gia mà ông Nguyễn nói là ông có mất mát có thụ hưởng. Xin ông Nguyễn nhìn cái cốt lõi của vấn đề mà trình bày, vì tôi thấy ông hay nói đến khía cạnh khách quan, nhưng ông không khách quan với chính ông đấy nhé!

Thứ nhì. Chính những thối nát quan liêu phong kiến thời Việt Nam bị ngoại quốc cai trị, đẩy đưa cộng sản Việt Nam trở thành cứu cánh cho dân nghèo. Ngay cả người dân cũng như đảng viên cộng sản thời ấy cũng nhận ra rằng, lý tưởng cộng sản là tốt đẹp, nên họ sẵn sàng chết để ủng hộ cái lý tưởng đó.

Nhìn lại thời phong kiến, quan lại Việt Nam có ai thương người nghèo, có ai giúp đỡ người nghèo bao giờ đâu. Quan lại thì hà hiếp, địa chủ thì bóc lột. Ðến thời thực dân Pháp cai trị, chỉ một nhóm nhỏ người Việt Nam được hưởng rất nhiều ân huệ của Pháp, còn thì đồng bào sống trong khốn khổ với quá nhiều đau thương. Tôi nghĩ, trong chúng ta, chắc không ai phủ nhận điều này.

Rồi cộng sản lên nắm chánh quyền, cộng sản hứa hẹn sẽ thực hiện mọi điều tốt đẹp cho đời sống người dân, trong khi người dân lẫn đảng viên không ai thấu hiểu được chủ nghĩa cộng sản là quá lý tưởng nên không bao giờ thực hiện được. Vì không thấu hiểu điều đó, nên người đảng viên cũng như người dân sẵn sàng liều chết mà theo họ, để đánh Pháp đánh Mỹ, để rồi hằng mấy triệu con người đã chết mà không bao giờ đạt đến cái lý tưởng tuyệt hảo đó cả!

Khi Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam, lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại gắn cho Hoa Kỳ cái nhãn hiệu thực dân mới với mục đích xâm lăng Việt Nam như thực dân Pháp trong cuộc chiến 1945-1954. Rồi toàn bộ bộ máy tuyên truyền hoạt động liên tục, tạo cho mọi người Việt Nam, miền Bắc lẫn miền Nam, là Hoa Kỳ xâm lăng Việt Nam như thực dân Pháp đã xâm lăng Việt Nam. Thế rồi người đảng viên cũng như người dân sợ mất độc lập lần nữa, nên lại theo đảng mà đánh Mỹ. Ðược sự hỗ trợ của cộng sản Liên Xô, cộng sản Trung Hoa, nói chung là sự hậu thuẫn của cả khối cộng sản quốc tế, cộng sản Việt Nam vững tin, và tiến hành chiến tranh. Thời bấy giờ, thế giới không cộng sản e ngại sự bùng nổ của cộng sản, nên nước nào củng cố gắng ngăn chận sự phát triển chế độ cộng sản tại nước họ. Các nước như Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines, đều đánh cộng sản ngay tại quốc gia họ. Hoa Kỳ, chẳng qua là nước lớn, nước mạnh, nên tự nhận trách nhiệm can thiệp trực tiếp vào Việt Nam mà thôi.

Nhìn lại cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn đầu còn liêm chính, vì những người sáng lập đảng và đảng viên, cũng là những người đồng cảnh ngộ với đồng bào, thử hỏi người dân nào không nghe theo họ. Ðây là một nguyên nhân khách quan, khó mà phủ nhận nó.

Quan điểm của tôi. Xin đồng ý với ông Nguyễn, vì chủ nghĩa cộng sản quá lý tưởng nên không thể thực hiện được. Nhưng thật ra có một điều căn bản có thể xem là tuyệt đối trong cuộc sống, là không có con người hoàn hảo trên cõi đời này thì làm sao xây dựng được một xã hội mà người đẻ ra lý tưởng cộng sản đã vẽ nó ra với tất cả sự hoàn hảo của nó. Hoặc cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản không thừa nhận điều căn bản đó trong cuộc sống, như vậy là mù quáng. Hoặc cha đẻ chủ nghĩa cộng sản thừa nhận điều căn bản đó, nhưng vẫn thuyết phục mọi người tin vào đạo cộng sản thế giới nói chúng, và nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam nói riêng, nếu không mù quáng cũng là nhóm người có tham vọng ôm cả trái đất vào vòng tay cai trị của mình. Ông Nguyễn nghĩ sao?

Giá mà ông Nguyễn dẫn chứng những sự kiện mà ông cho là cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đầu có liêm chính nên người dân nghe theo, thì quan điểm của ông rõ nghĩa hơn. Vì theo tôi, ngay từ đầu, lãnh đạo cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là ông Hồ Chí Minh, đã chứng tỏ sự tàn bạo của chế độ rồi. Vì khi lừa được những nhà cách mạnh khuynh hướng quốc gia vào chánh phủ liên hiệp để ông nắm vững quyền lực, thì ông Hồ cho đàn em lần lượt giết hết những vị đó để ông nắm trọn quyền. Hành động này là sự kiện khách quan khó mà phủ nhận được nếu không nói là không thể phủ nhận nó, ngoại trừ những người có nét nhìn như ông Nguyễn.

Còn người dân ủng hộ ông Hồ và cộng sản của ông Hồ, là vì sau 80 năm bị thực dân Pháp cai trị, bây giờ có người Việt Nam đứng lên cầm quyền nên dân nghe theo. Với lại khi lên cầm quyền, ông Hồ đã tuyên bố là lo cho dân, cái gì cũng của dân, tất cả tài sản quốc gia đều là của dân, dân nắm quyền dân cai trị, cán bộ chỉ là đày tớ của dân, người dân nghe ngọt lỗ tai quá nên nghe theo ông mà ủng hộ ông. Nhưng ông Nguyễn có thấy 1.000.000 người miền Bắc chạy trốn cộng sản vào miền Nam hồi năm 1954-1955 không nhỉ? Họ không phải vì tiền mà bỏ chạy đâu nhé, trái lại họ bỏ tất cả của cải ruộng vườn mồ mả ông bà cha mẹ để thoát khỏi cái chế độ dã man tàn bạo hơn thực dân Pháp nhiều. Chẳng lẽ ngần ấy người mà không ai nhận ra điều mà ông Nguyễn gọi là liêm chính của cộng sản hay sao! Ông Nguyễn có biết là chính sách cải cách ruộng đất đã giết bao nhiêu người không? Và giết dã man như thế nào không? Khiếp lắm ông Nguyễn à! Chẳng lẽ gọi đó là sự kiện chứng minh ông Hồ của ông Nguyễn thương dân lo cho dân sao?

Thứ ba. Sự toàn cầu hóa trong thế kỷ 20 diễn ra quá nhanh, và chỉ những nước nào kịp thời nhận thức được mới làm cho dân giàu nước mạnh. Trong khi cộng sản Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau, đã không có nhận thức kịp thời, và đã không làm được điều đó. Nhiều sai lầm nghiêm trọng đã xảy ra, đã làm cho Việt Nam mất nhiều cơ hội để phát triển đất nước. Cũng may là cộng sản Việt Nam chưa cực đoan quá mức như cộng sản Cam Bốt thời ông Pôn Pốt cầm quyền, hay như cộng sản Bắc Triều Tiên.

Lý do để cộng sản Việt Nam không nhận thức được hiệu quả của công cuộc toàn cầu hóa thì nhiều vô kể. Nhưng đáng kể hơn hết là người lãnh đạo cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ được đào tạo ở những quốc gia kỹ nghệ tiên tiến, và cũng chưa bao giờ sống ở những quốc gia đó. Họ chỉ học chủ nghĩa Mác Lê, rồi tự tìm tòi rồi nghĩ ra những chính sách cai trị sai lầm mà ngày nay người dân Việt phải trả cái giá quá đắt. Học thuyết của Karl Max và Lenine, được soạn ra từ những người không hòa nhập được trong sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc cách mạng hóa nền kỹ nghệ, vì vậy mà học thuyết này chỉ được phát triển trong thời kỳ còn sự bóc lột nhân công thôi. Học thuyết chỉ dựa vào đó mà vẽ nên bức tranh tuyệt vời, một lý tưởng tuyệt hảo, và vì nó quá hoàn hảo nên không ai thực hiện được nó trong thực tế cả. Ðiều tai hại hơn hết là cơ sở của học thuyết này nghe quá hay, mà người đảng viên cũng như đại đa số đồng bào chưa đủ kiến thức để nhận ra nó trong cuộc sống của nhân loại, một học thuyết hoàn toàn trái ngược với quy luật thiên nhiên trong vũ trụ, trái với qui luật cạnh tranh để phát triển

Sau chiến tranh thế giới lần 2 (1939-1945), từ chính trị đến kinh tế đều thay đổi rất nhiều. Sự toàn cầu hóa, tính đa lực, sự cân bằng chính trị, phát triển dân chủ, và khả năng lẫn kỹ năng sản xuất đều phát triển vượt bậc. Thế nhưng đối với cộng sản thế giới nói chung và cộng sản Việt Nam nói riêng, mọi thứ thay đổi đó không quan trọng đối với họ, hay nói đúng hơn là cộng sản không có khả năng nhận biết những thay đổi tốt đẹp đó trong thế giới dân chủ. Nhưng nói cho cùng, khó mà trách cộng sản Việt Nam vì họ có biết gì về qui luật tự nhiên, về cạnh tranh phát triển đâu. Họ cứ nghĩ đơn giản như Robin Hood, lấy của người giàu đem chia cho người nghèo, để rồi mọi người đều bình đẳng. Cách mạng ruộng đất, mang người giàu ra đấu tố, chính là hậu quả của sự ngu dốt. Nói một cách rõ ràng như vậy, vì hậu quả ra sao không người Việt Nam cũng biết.

Trong lịch sử nhân loại đã từng cung cấp những kinh nghiệm thực tế rằng, chủ nghĩa nào phù hợp với qui luật tự nhiên, phù hợp với qui luật cạnh tranh phát triển, thì mới tồn tại và tồn tại trong điều kiện tốt đẹp. Về mặt chính trị, một thể chế đa đảng là sự vận dụng đúng đắn qui luật tự nhiên. Ðảng nào mạnh, có nhiều người giỏi, người dân sẽ bầu vào những chiếc ghế lãnh đạo, đảng nào yếu tự khắc phải tìm cách vươn lên để tranh đua với các đảng mạnh trong những kỳ bầu cử kế tiếp. Trong một nền nếp sinh hoạt đa đảng, đảng cầm quyền phải thận trọng chứ không thể tự tung tự tác như trong thể chế độc đảng, vì mỗi sai phạm mỗi lỗi lầm, sẽ bị đảng đối lập theo dời chỉ trích, gây bất lợi về sau. Nhưng cho đến nay, cộng sản Việt Nam vẫn ôm khư khư cái chủ nghĩa Mác Lê, cái chủ nghĩa đã tan rã ngay tại quê hương thành trì của nó, tưởng đã quá đủ để lý giải cho thể chế độc đảng mà không cần tìm hiểu hay bàn cãi gì nữa.

Ðiều mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam tự hào là thống nhất đất nước, nhưng cái giá mà nhân dân Việt Nam đã phải trả bằng 3.000.000 con người đã chết, hằng chục triệu người thương tật, tài nguyên quốc gia thì cạn kiệt, dân tộc mất nhiều thời cơ để phát triển, nên không chấp nhận sai lầm của đảng khi đánh chiếm miền Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa. Nếu bây giờ, thực hiện dân chủ hóa Việt Nam, cầm chắc là cộng sản Việt Nam bị vất qua bên lề xã hội. Và trong tình cảnh như vậy, cái giá quá đắt mà nhân dân buộc phải trả đó trở thành vô nghĩa hay sao!

Quan điểm của tôi. Tôi không nghĩ là lãnh đạo cộng sản Việt Nam có quan tâm đến qui luật tự nhiên, qui luật phát triển từ trong cạnh tranh, mà tư tưởng của họ chỉ hướng vào đường lối phát triển từ trong độc tài. Ðó cũng là qui luật của các đảng cộng sản tại các quốc gia mà họ cầm quyền chớ không riêng gì cộng sản Việt Nam, vì những đảng cộng sản cầm quyền tại các quốc gia nhỏ chỉ là những cánh tay nối dài của nước cộng sản đàn anh không hơn không kém. Vì vậy mà bất cứ cá nhân hay tổ chức nào không phù hợp với đường lối đó của họ thì họ tiêu diệt theo những hình thức mà họ cho là thích hợp. Tôi vẫn cho rằng, những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước tới nay, kể cả ông Hồ Chí Minh, luôn luôn đặt quyền lợi quốc gia dân tộc dưới quyền lợi của đảng cộng sản. Nói cách khác, họ đồng hóa quyền lợi quốc gia dân tộc vào quyền lợi của đảng. Ông Nguyễn thử nhớ lại xem, cá nhân hay tổ chức nào chống đối lãnh đạo đảng thì họ kết tội là chống tổ quốc, chống đối đảng thì họ kết tội là chống nhân dân.

Còn nói cái công thống nhất đất nước, theo tôi, đó chẳng qua chỉ là cách nói theo cái bề ngoài của vấn đề và mang tính tuyên truyền thôi. Chớ cốt lõi của vấn đề nằm ở chỗ xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, để lãnh đạo cộng sản Việt Nam đạt công đầu với cộng sản quốc tế, đồng thời họ mở rộng quyền lực để tiến tới thành lập Liên Bang Ðông Dương, và lãnh đạo cộng sản Việt Nam nghiễm nhiên trở thành một thứ lãnh đạo khu vực ở Ðông Nam Á Châu. Những tháng cuối năm 1975 khi tôi bị giam ở trại tù Long Giao (tỉnh Long Khánh), trong một ngày gọi là "lên lớp" học tập chính trị, Thượng Tá Bình, nghe nói là từ Bộ Công An ở Hà Nội vào với tư cách giảng viên hôm ấy, đã nói đến Liên Bang Ðông Dương chớ không phải tự tôi nghĩ ra đâu. Ông ta còn nói là thành phố Vinh do Cộng Hòa Dân Chủ Ðức viện trợ xây dựng để làm thủ đô liên bang nữa đó. Chưa hết, ông ta còn nói là cách mạng Việt Nam -phải hiểu là lãnh đạo cộng sản Việt Nam- đã gởi cán bộ sang giúp cách mạng Thái Lan giải phóng vương quốc Thái Lan nữa mà.

Còn chữ "xâm lăng" mà tôi dùng ở đây, theo cách hiểu là quân của quốc gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, tôi quả quyết đó là xâm lăng. Còn nếu nói "giải phóng" thì sau khi giải phóng và ổn định tình hình, phải chuyển giao quyền lực cho quốc gia mình giúp giải phóng mới đúng chớ! Tôi biết cách nhìn của tôi như thế này, có thể gây ra những tranh cãi, nhưng tôi sẽ không bao giờ rời bỏ cách nhìn này, cách nhìn có tính cách khẳng định một vấn đề trong một giai đoạn của lịch sử đầy bi thương của cả dân tộc, mà không hề hàm chứa hận thù. Xin ông Nguyễn xem giùm, khi nói đến đảng cộng sản tôi chỉ nói đến nhóm lãnh đạo đảng thôi, vì chính nhóm người trong Bộ Chính Trị mới thật sự là nhóm người có toàn quyền hoạch định và điều khiển thực hiện chế độ độc tài chớ không phải ai khác. Nếu có ai khác, chẳng qua là thừa hành thôi.

Thứ tư. Năm 1986, cộng sản Việt Nam chấp nhận mở cửa nền kinh tế, và từ đó, kinh tế Việt Nam thay đổi theo chiều hướng tốt. Ðiều này làm cho họ tin là đường lối của họ là đúng , mặc dầu cho đến bây giờ họ vẫn chưa hiểu rờ về thuyết toàn cầu hóa, về dân chủ hóa. Những người nắm giữ những chức vụ quyền lực trong bộ máy nhà nước, gần như 100% là đảng viên cộng sản. Với đồng lương nghèo mạt đã dẫn họ đến tham nhũng, và tình trạng tham nhũng ngày nay diễn ra trên toàn bề mặt của xã hội, đến mức nó trở thành một loại sinh hoạt tự nhiên trong xã hội Việt Nam. Không ai là không rõ chỉ vì tham nhũng tại Indonesia và Philipines, đã làm cho hai nước này không phát triển nỗi. Chính cái gọi là 'bổng lộc' này đã làm cho nhiều đảng viên trở nên giàu có, càng giàu có họ càng bảo vệ chế độ mà thờ ơ với tất cả những vấn đề khác trong sinh hoạt xã hội làm cho đất nước khá hơn, tốt hơn.

Ông Nguyễn diễn giải tiếp về nhận thức của ông:

Tôi thấy ai cũng nói người Việt Nam mình thông minh, nhưng tôi thì khác. Tôi nghĩ rằng, người Việt Nam mình nhiều mánh khóe chớ không nhiều sáng tạo, nhiều láu lỉnh chớ không nhiều thông minh. Có lẽ do văn hóa kính trên nhường dưới, quá tôn trọng người lớn tuổi mà người Việt Nam trở thành bảo thủ, thích bám theo những suy nghĩ cũ, những tập tục cũ, nên khó hòa nhập vào cái mới, cái hay. Người Việt hải ngoại, cũng có thể vì vậy mà không mấy thành công dù đang sống trong các xã hội có môi trường tốt. Trong khi nhìn lại quê hương Việt Nam, lãnh đạo lẫn người dân sống trong môi trường thấp kém tồi tệ, mà nhận thức cũng kém, dẫn đến sự phát triển của Việt Nam càng khó khăn gấp bội.

Quan điểm của tôi. Theo ông Nguyễn thì có nhiều lý do khác nhau mà cộng sản Việt Nam không kịp thời nhận ra mức độ hiệu quả của công cuộc toàn cầu hóa trong thế kỷ 20, nên đã không làm cho dân giàu nước mạnh. Phải chăng ông Nguyễn có ý tránh né cộng sản Việt Nam là cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế? Vì với chứng nghiệm trong suốt nửa thế kỷ cầm quyền, rõ ràng là các nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam chỉ phục vụ quyền lợi của khối cộng sản quốc tế, mà không hề có bất cứ chính sách nào phục vụ quốc gia dân tộc cả. Họ tôn vinh chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa khoa học, mà trong thực tế họ có nét nhìn không khoa học, sự suy nghĩ không khoa học, tất nhiên hành động cũng không khoa học. Họ chỉ nhìn vào những xã hội khác với xã hội chủ nghĩa, bằng con mắt với bộ óc chứa đầy lý thuyết chủ nghĩa cộng sản mà không cần những sự kiện thực tế đã biến đổi tốt đẹp trong những xã hội đó.

Ông Nguyễn cũng cho là cộng sản Việt Nam không có khả năng nhận thức được những thay đổi tốt đẹp trong thế giới dân chủ. Ðiều này có thể đúng một nửa, nhưng một nửa này không phải là cái cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản cho nên họ chẳng quan tâm, hoặc nếu có quan tâm cũng chỉ quan tâm để tìm cách chê bai thế giới dân chủ mà cộng sản gọi là tư bản đế quốc. Một nửa kia mới là quan trọng đối với cộng sản, nhất là cộng sản Việt Nam. Một nửa kia là do trong tư tưởng của họ chỉ có chủ nghĩa cộng sản là ưu việt, còn thật sự nó có ưu việt trong thực tế hay không, lại là điều khác. Cũng vì vậy mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thông qua hệ thống giáo dục trong học đường, cũng như hệ thống tuyên truyền trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quảng bá giáo dục cái chủ nghĩa đó để ru ngủ mọi người trong cái thiên đường cộng sản mà nhà văn Dương Thu Hương gọi là thiên đường mù. Và vì sống trong "thiên đường mù" nên đại đa số đồng bào không trông thấy, cũng không nghe thấy những đổi thay tốt đẹp trong thế giới dân chủ văn minh, bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng của nhà cầm quyền. Cũng trong một nửa này, người đảng viên lẫn người dân, chỉ được phép nhận thức các chủ nghĩa khác với chủ nghĩa cộng sản, đều là xấu xa chẳng khác người dân thời phong kiến hay thời thực dân cai trị. Nhìn theo cách khác, lãnh đạo cộng sản chỉ cho mọi người dưới quyền cai trị của họ thấu hiểu một mặt trong cuộc sống dưới quyền họ cai trị mà họ cho là ưu việt, còn mặt bên kia, tức những biến đổi tốt đẹp trong thế giới tự do, hoàn toàn bị chủ nghĩa này che lấp bằng những luận điệu tuyên truyền như thể đó là những xã hội xấu xa trong thế giới không cộng sản vậy.

Xin cám ơn ông Nguyễn, khi ông nói rằng các đảng viên có chức có quyền do tham nhũng mà trở nên giàu có, và càng giàu có thì càng phải bảo vệ chế độ. Theo tôi, tôi cho rằng lãnh đạo cộng sản Việt Nam xem tham nhũng là phương cách duy nhất hiện nay để bảo vệ đảng, sau khi cái lý tưởng cộng sản siêu việt đã sụp đổ từ đầu thập niên 90, những phiên tòa những vụ án chống tham nhũng chẳng qua là sự hi sinh nhỏ nhoi trong một hệ thống tham nhũng chằng chịt từ thượng tầng xuống đến tận cùng của hạ tầng tổ chức, nó chưa đủ để tiêu biểu mức đo giá trị của mục tiêu chống tham nhũng đâu.

Nhưng tôi lại không đồng ý với ông Nguyễn khi ông đánh giá "Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại không mấy thành công, vì những suy nghĩ vẫn đóng khung nề nếp bảo thủ trong xã hội Việt Nam. Kính trọng người lớn tuổi là nét đẹp trong văn hóa, sao lại ông Nguyễn cho là bảo thủ để rồi chậm tiến nhỉ? Kính trọng người lớn tuổi là điều chẳng những nên giữ mà còn phát huy nữa, nhưng có kính trọng cái tư cách của người lớn tuổi đó hay không lại là điều khác. Chẳng hạn như khi tôi nói về ông Hồ Chí Minh, tôi vẫn gọi là ông vì ông ấy lớn tuổi hơn tôi. Ðạo nghĩa Việt Nam mình như vậy mà. Nhưng khi tôi nói đến tư cách của ông Hồ thì tôi luôn luôn nói rằng: "Ông Hồ Chí Minh là người lãnh đạo dã man tàn bạo hơn bất cứ vị lãnh đạo tàn bạo nào trong lịch sử cận đại vì chính sách của ông giết đồng bào dã man quá, ông là người lãnh đạo vô liêm sỉ vì ông là người ăn cắp tư tưởng của người khác, ăn cắp thơ của người khác, lấy vợ của người khác, ..v..v.. trong khi cái bề ngoài của ông cố làm ra vẻ đạo mạo để đàn em thần thánh hóa ông, và rồi bắt mọi người dưới quyền cai trị tôn vinh ông là một thứ thần thánh".

Ông Nguyễn nhận thức rằng, người Việt hải ngoại nghèo, điều này cứ cho là đúng một nửa. Cộng Ðồng Việt Nam hải Ngoại, vì đại đa số là từ những bàn tay trắng khi rời khỏi Việt Nam, mà nay gởi về giúp thân nhân trên quê hương Việt Nam hằng 4 tỷ mỹ kim mỗi năm (2005), và con số này đã gần bằng một nửa ngân sách của nhà nước cộng sản Việt Nam rồi, mà muốn cho 4 tỷ mỹ kim tất nhiên khối tài sản còn lại trong Cộng Ðồng hải ngoại phải lớn hơn những lần 4 tỷ đó chớ. Về thành phần nghèo mà bài viết này thấy cần nói thêm cho rõ: Nghèo từ thành phần mới nhập cư với những bàn tay trắng vì khi sống tại Việt Nam đã quá nghèo rồi, và thành phần nghèo thứ hai là thành phần đã hòa nhập vào xã hội bản xứ. Nhưng cái nghèo của thành phần thứ hai này vẫn sung túc hơn thành phần trung lưu, thậm chí còn sung túc hơn cả thành phần thượng lưu được mệnh danh là "tư bản đỏ" trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam nữa. Xin diễn giải: Chữ sung túc dùng ở đây, bao gồm sung túc về tài chánh, sung túc về cơ hội trong giáo dục học đường, về cơ hội tiến thân trong xã hội, sung túc về tiện nghi sinh hoạt trong cuộc sống, và hơn hết là sung túc về quyền được làm người với tất cả những gì căn bản nhất và cao quí nhất mà thế giới văn minh tôn trọng. Có thể ông Nguyễn cho tôi là chủ quan hay bảo thủ cũng được, nhưng tôi vẫn bảo vệ quan điểm này.

Lại càng không đồng ý với ông Nguyễn khi ông cho rằng, người Việt Nam không thông minh mà chỉ là mánh khóe láu lỉnh. Chắc là ông Nguyễn chỉ thu hẹp nét nhìn vào sinh hoạt trong xã hội xã hội chủ nghĩa dưới quyền cai trị của lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì phải? Năm 1999, lúc đó Ba tôi 97 tuổi, trong một lần về thăm thân nhân với ý định ở luôn trên quê hương, nhưng sau 9 tháng sống nơi quê nhà Ba tôi trở sang Hoa Kỳ. Khi đến phi trường Houston, Ba tôi nói với tôi một câu: "Xã hội Việt Nam mình bị cộng sản nó phá tan hết rồi con, bây giờ người ta sống với nhau bằng những lọc lừa dối trá chớ không còn đạo nghĩa như xưa nữa đâu". Ðó là lý do mà Ba tôi bỏ ý định an nghỉ trong khu nghĩa trang gia đình họ Phạm chúng tôi.

Láu lỉnh hay thông minh? Phải chi ông Nguyễn đọc được một thống kê ngắn của Bộ Giáo Dục và Ðào tạo Việt Nam trên hệ thống internet, chỉ vài con số trong đó cho thấy rằng, cả nước Việt Nam có khoảng 14.000 tiến sĩ trong tổng số hơn 82 triệu dân tính đến tháng 7 năm 2005, trong khi người Việt ở nước ngoài chỉ gần 3.000.000 người mà có đến 300.000 người có trình độ đại học trở lên. Ðây là con số thống kê của Bộ Giáo Dục Việt Nam đấy nhé! Ðiều hiển nhiên là con số 300.000 trí thức trong Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại, đã và đang đóng góp quan trọng vào các ngành sinh hoạt tại các xã hội định cư, nhưng những đóng góp này hoàn toàn không do cái mánh khóe láu lỉnh như trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà ông Nguyễn từng sống, mà là do thông minh và óc sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đấy nhé! Ðó là chưa phân tách đến trình độ giáo dục đại học, không thể nào sánh ngang bằng giữa trí thức tốt nghiệp trong nước với trí thức tốt nghiệp hải ngoại được. Ðây là sự thật, hoàn toàn thật, xin đừng xuyên tạc nhận thức này như một ý nghĩa hạ thấp giá trị trí thức trong nước nhé!

Tôi xin chứng minh thêm về con số 300.000 trí thức hải ngoại. Theo cơ quan thống kê của Hoa Kỳ năm 2000, thì toàn nước Mỹ là 281 triệu người. Trong số đó, cộng đồng Việt Nam là 1.122.528 người, chiếm 0.4%. Nếu tính bình quân một gia đình Việt Nam chúng ta là 5 người thì ta có 224.000 gia đình, và cứ cho là mỗi gia đình chỉ có một người tốt nghiệp đại học thì ta có ngay con số 224.000 trí thức, cộng với các cộng đồng ở Châu Âu, Canada, và Châu Úc, chúng ta dễ dàng có 300.000 trí thức tốt nghiệp tại các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến. Nếu mỗi gia đình có 1.5 người tốt nghiệp đại học thì riêng tại Hoa Kỳ con số trí thức sẽ là 336.000 người, và trên toàn thế giới chúng ta dễ dàng có con số 500.000 trí thức. Ðây chính là khối tài nguyên quí giá hôm nay, sẽ là nỗ lực chính thực hiện mục tiêu nâng và đẩy nước Việt Nam dân chủ tự do cất cánh vào ngày mai.

Không thông minh thì làm sao sinh viên Việt Nam hải ngoại tranh đua nỗi với sinh viên bản xứ hấp thụ nền giáo dục tiên tiến của thế giới, chẳng những tranh đua nỗi mà còn vượt lên trên họ nữa. Bằng chứng là mỗi cuối năm học ở bậc trung học cũng như bậc đại học, số học sinhsinh viên Việt Nam hải ngoại tốt nghiệp, tỷ lệ chiếm hạng ưu hơn hẳn trong tổng số học sinhsinh viên bản xứ và du sinh nữa. Cũng chắc chắn là số lượng học sinh sinh viên tốt nghiệp ưu hạng này hoàn toàn không do mánh khóe láu lỉnh, mà là do thông minh và chăm chỉ của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đấy nhé!

Thứ năm. Việt Nam được Hoa Kỳ bỏ cấm vận là bước ngoặt lớn cho nền kinh tế Việt Nam, vì nhờ đó mà kinh tế phát triển, người dân đỡ khổ. Ông Nguyễn quả quyết là Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại chẳng muốn đánh giá cao về sự phát triển này, mà chỉ thấy cái xấu xa -nhất là về nhân quyền- và muốn thế giới trừng phạt Việt Nam. Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại không để ý đến điều quan trọng là khi Việt Nam khổ thì người dân khổ trước, và nếu bị ép quá cộng sản Việt Nam có thể biến Việt Nam như một nước Bắc Triều Tiên, thì người dân sẽ còn cơ cực đến chừng nào!

Ông Nguyễn diễn giải: Theo ông thì Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại hãy đóng góp giúp cho dân giàu nước mạnh rồi tìm cách giáo dục cho cộng sản Việt Nam hiểu rằng, một chế độ đa nguyên đa đảng là tốt nhất để phát triển đất nước. Cho họ thấy chế độ cộng sản ngày nay không còn phù hợp nữa, vì nó kềm hãm bước phát triển của đất nước. Việt Nam vẫn là Việt Nam, và Việt Nam sẽ mạnh hơn, giàu hơn, chớ không phải không còn cộng sản mà đất nước bị ngoại bang cai trị như nhiều người trong nước hiện nay vẫn nghĩ như vậy.

Quan điểm của tôi. Tôi không đồng ý với ông Nguyễn khi ông nói rằng: Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại cần đóng góp cho dân giàu nước mạnh, rồi giáo dục cho cộng sản Việt Nam thấy rằng đa nguyên đa đảng là có lợi cho đất nước.

Ơ hay! Tại sao Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại lại đóng góp cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam tiếp tục thống trị nhân dân Việt Nam?

Ông Nguyễn hãy đặt lại vấn đề cho đúng: Lãnh đạo phục vụ người dân theo nguyện vọng của dân, hay tự người dân phục vụ cho nhau trong khi lãnh đạo thụ hưởng từ những phục vụ đó? Tại sao lãnh đạo tham nhũng làm cho dân nghèo, mà ông Nguyễn lại muốn Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại nhận trách nhiệm làm cho dân giàu nước mạnh? Tại sao Cộng Ðồng hải ngoại phải sợ người dân khổ khi gây áp lực buộc lãnh đạo cộng sản phải thực hiện dân chủ tự do và nhân quyền để đất nước được phát triển toàn diện? Người dân nghèo, không phải chỉ Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại nhận thấy điều đó, mà bất cứ ai quan tâm đến chính trị Việt Nam trong nước hay ngoại quốc cũng nhận thấy điều đó, hoặc hơn thế nữa. Ðiều khẳng định là ngày nào lãnh đạo cộng sản Việt Nam còn đó, thì không bao giờ dân giàu nước mạnh được, mà chỉ có lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước các cấp từ trên xuống dưới giàu thôi. Chắc rằng, không ai phủ nhận điều khẳng định này cả.

Tại sao ông Nguyễn mong Cộng Ðồng tị nạn hải ngoại chỉ nhìn vào vấn đề kinh tế mà không một chút bận tâm đến chính trị, hay nói cho đúng là vấn đề nhân quyền. Tôi nghĩ là ông Nguyễn chịu ảnh hưởng quá sâu vào đường lối của lãnh đạo cộng sản Việt Nam rồi. Ông Nguyễn có thấy rằng, chính sách mở cửa của lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ cuối năm 1986 đến nay, là chính sách hai mặt: Một mặt mở toang cánh cửa kinh tế vui chơi giải trí, và mặt khác thì hoàn toàn đóng chặt cánh cửa chính trị.

Giáo dục cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam ư? Căn cứ bản chất những nhóm lãnh đạo cộng sản từ trước tới nay, thiết tưởng đã quá đủ để khẳng định rằng, họ không bao giờ tự lột xác độc đảng độc quyền và độc tài để hòa nhập vào cộng đồng dân tộc, để đưa đất nước vào hành trình phát triển xứng hợp với khả năng và tiềm năng của quốc gia đâu, vì họ sợ mất quyền lực cũng như quyền lợi phe nhóm của họ. Căn bản trong lãnh đạo của họ đâu phải phục vụ nguyện vọng người dân, mà chỉ phục vụ cho chính họ thôi. Nếu họ phục vụ nguyện vọng người dân thì họ đã lột xác sau khi "cái nôi của chủ nghĩa cộng sản" sụp đổ, chớ cần gì đến bây giờ mới giáo dục họ. Quan điểm của tôi khẳng định là lãnh đạo cộng sản Việt Nam không bao giờ lột xác đâu, cách duy nhất đến với họ là họ sụp đổ thôi. Cũng xin nói thêm để tránh hiểu lầm, theo tôi, lãnh đạo cộng sản Việt Nam sụp đổ là do những thành phần trong nước, trong khi Cộng Ðồng tị nạn tại hải ngoại hỗ trợ mạnh mẽ.

Thứ sáu. Ông Nguyễn cho rằng, hình tượng Hồ Chí Minh vẫn còn "thiêng liêng" ở nhiều người Việt Nam, kể cả ông Nguyễn vẫn phục ông Hồ mặc dù ông nói là ông không thích ông Hồ bao nhiêu. Ông Nguyễn phục ông Hồ, vì ông Hồ là một người tin vào điều mình làm là đúng, nên đã tranh đấu đến cùng cho lý tưởng đó, và ông Hồ đã làm được những điều lớn. Cuối cùng của đoạn này, ông Nguyễn cho rằng ông Hồ Chí Minh đã phạm sai lầm khi quyết định đi theo con đường chủ nghĩa cộng sản từ năm 1954.

Ông trình bày tiếp: Có thể vì nhiều người trong nước chưa thấu hiểu 100% sự thật khi những nhóm lãnh đạo cộng sản đã đi không đúng với mong muốn của ông Hồ. Nếu hình tượng Hồ Chí Minh như vậy thì rất khó thay đổi, cho nên cần phải có phương cách khác để giáo dục dân chúng. Thay vì chỉ trích Hồ Chí Minh đủ thứ xấu xa, Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại cần tận dụng điều mà ông Hồ tin tưởng ông ta làm những điều tốt cho dân tộc, để nói lên sự thay đổi cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Ông Nguyễn cho rằng, ông Hồ là không đáng trách, chẳng qua là quyết định của ông ta trong bối cảnh 60 năm về trước không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Nếu Cộng Ðồng hải ngoại chỉ ngồi chửi rủa, chỉ làm cho Cộng Ðồng xa cách với người dân trong nước thôi.

Quan điểm của tôi. Ông Nguyễn phục ông Hồ là quyền của ông. Có điều là ông không nên gieo rắc cái quan điểm riêng tư của ông ở hải ngoại này. Không biết ông Nguyễn đang trình bày quan điểm của ông trong mục đích góp phần vào công cuộc dân chủ hóa Việt Nam, hay ông Nguyễn đang vận dụng mục đích đó để đưa hình tượng Hồ Chí Minh vào Cộng Ðồng hải ngoại đây? Giá mà ông Nguyễn chứng minh được tư cách đứng đắn của ông Hồ là không lăng nhăng tình tự, không vợ không con, không ngủ lang chạ với vợ của đồng chí, không con rơi con rớt, sống cuộc đời đạo nghĩa thật sự như bất cứ người dân bình thường đạo nghĩa nào khác, cũng như chứng minh được điều mà ông Hồ nói yêu nước thương dân, trong khi với những hành động mà chẳng riêng Cộng Ðồng hải ngoại mô tả ông Hồ là một người tàn bạo độc ác, đã ra lệnh giết đồng bào ruột thịt và giết một cách dã man rùng rợn trong vụ án cải cách ruộng đất 1953-1954, trong vụ án Nhân Văn và Giai Phẩm 1957, trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968, ..v.. v.. mà chính những người cộng sản từng theo ông Hồ từ thời kỳ đầu đến nay, chẳng những mô tả như vậy mà còn mô tả nhiều hơn nữa, với những chi tiết tàn bạo hơn nữa.

Lúc đó, ông Nguyễn mới có thể mạnh dạn khuyên Cộng Ðồng hải ngoại vận dụng cái điều mà ông nói là ông phục ông Hồ. Cho đến khi nào ông Nguyễn chưa chứng minh được những điều đó, ông không nên ca tụng ông Hồ Chí Minh nếu ông muốn đứng chung trong Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại. Xin ông Nguyễn nhớ cho rằng, vì bản chất độc tài của cộng sản Việt Nam, mà hằng mấy triệu người vượt lên cái chết, tôi nói vượt lên cái chết, đi tìm tự do để hình thành Cộng Ðồng này, mà từ lâu nay lãnh đạo cộng sản rất thèm nắm quyền khống chế cai trị. Xin ông Nguyễn đừng chạm đến nỗi đau của Cộng Ðồng hải ngoại khi phải rời khỏi quê hương, vì không chịu nổi cái chủ nghĩa đầy máu và nước mắt của người mà ông Nguyễn vẫn còn phục, và những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam có toàn quyền hoạch định và điều khiển thực hiện chế độ độc tài tàn bạo đó! Ở đoạn này, tôi có chút ngờ vực ông Nguyễn dù ông có ý nói lên cái chân thành của ông, nhưng tôi e đằng sau cái chân thành của ông là một loại tuyên truyền xám mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam từng sử dụng. Nét nhìn của tôi như vậy, nếu muốn phản đối xin ông Nguyễn cứ phản đối, nhưng tôi không bao giờ rút lại quan điểm của tôi cho đến khi nào ông Nguyễn chứng minh được đường lối và hành động của ông Hồ Chí Minh là trong sáng thật sự.

Thứ bảy. Vẫn theo ông Nguyễn thì trong cuộc đấu tranh hiện nay, Cộng Ðồng hải ngoại tránh dùng hình tượng Việt Nam Cộng Hòa vì sẽ làm cho nhiều người dị ứng. Bởi những chánh phủ thời Việt Nam Cộng Hòa không phải là các chánh phủ thật tốt, cũng buôn lậu, cũng tham nhũng, nhưng trong thời gian đó hầu như những việc như vậy không xảy ra trên đất Bắc. Thêm nữa, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa không làm cho người dân hiểu được thật sự về ý nghĩa cuộc chiến tranh, làm cho người dân không tha thiết với việc bảo vệ đất nước. Và sai lầm khi tuyên truyền về ý thức hệ. Ðiều này cũng không xảy ra trên đất Bắc.

Quan điểm của tôi. Nếu có những người mà ông Nguyễn nói là dị ứng với hình tượng Việt Nam Cộng Hòa, chắc hẳn ông Nguyễn là một trong số đó. Cũng dễ hiểu thôi, vì ông Nguyễn đã mấy chục năm sống, chiến đấu, mất mát, và hưởng ân huệ của cộng sản độc tài gần như ngắm vào da thịt rồi, giờ đây khi đứng nhìn sinh hoạt dân chủ trong Cộng Ðồng với quốc kỳ nền vàng biểu tượng cho màu da, với ba sọc đỏ biểu tượng cho ba miền Nam Trung Bắc thống nhất, dị ứng là phải thôi.

Ðúng. Thời chiến tranh bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa trước cuộc xâm lăng của nước Dân Chủ Việt Nam Cộng Hòa, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa chưa phải là thật tốt, nhưng chắc chắn là tốt gấp chục gấp trăm lần so với chánh phủ cộng sản của ông Nguyễn, dù là cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước năm 1975, hay nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ năm 1975 đến nay. Trong hơn 20 năm kể từ tháng 7 năm 1954, ai gây ra chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa? Nếu nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không gây chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa thì quân đội Hoa Kỳ không có lý do để có mặt tại Việt Nam Cộng Hòa. Nếu nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không xua quân vào đánh Việt Nam Cộng Hòa thì làm gì Hoa Kỳ thả bom trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Dù là trong thời gian chiến tranh chống lại cuộc xâm lăng từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chúng tôi vừa chiến đấu vừa xây dựng bước đầu của nền kinh tế non trẻ. Ai phá tan nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa sau ngày 30/4/1975? Ai phá tan nền nếp đạo nghĩa trong xã hội Việt Nam từ sau ngày 30/4/1975?

Còn những sự kiện ở miền Nam thì không xảy ra ở miền Bắc, vì người dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa miền Bắc bị kềm kẹp đến mức không nhúc nhích được thì làm sao có chuyện gì xảy ra. Ngay cả người lính cao xạ bị cột chân vào súng mà vẫn vui vẻ, nhưng cái vui vẻ đó không phải là tự nguyện, mà là họ không hiểu thật sự 100% bản chất cuộc chiến tranh, trong khi họ bị tuyên truyền nhồi sọ đến mức cứ tưởng là họ đang hi sinh cho dân cho nước. Nếu họ đừng bị bịt mắt bịt miệng bịt tai, chắc rằng họ không bao giờ tự mình cột chân vào pháo tháp, để nghẻo đầu mà chết tại chỗ như đã từng chết như vậy đâu ông Nguyễn à!

Trong xã hội tự do dù rằng có giới hạn do bị quân cộng sản xâm lăng, người dân Việt Nam Cộng Hòa được giáo dục để hiểu về sinh hoạt chính trị, chớ chánh quyền không cưỡng bách người dân phải hiểu chính trị như chánh quyền cộng sản độc tài miền Bắc của ông Nguyễn.

Với lại đảng và nhà nước cộng sản hiện nay điều hành cả một hệ thống tham nhũng chằng chịt từ trên thượng tầng xuống đến hạ tầng cơ sở để bảo vệ đảng. Ðã tặng đất tặng biển cho Trung Hoa cộng sản. Ðã rao bán phụ nữ trên mạng lưới thông tin toàn cầu. Ðã đẩy hằng trăm ngàn thiếu nữ ra ngoại quốc làm vợ hờ, làm gái điếm, làm nhân công, trước nhất là những dịch vụ của nhà nước thu lợi, sau đó là lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước thu lợi trên sự đau khổ của đồng bào, rồi dùng ngoại tệ do những thành phần đó gởi về để họ rửa hằng chục hằng trăm triệu tiền tham nhũng trước khi đổ vào các ngân hàng ngoại quốc phòng thân. Ðã đàn áp chính trị, đàn áp tôn giáo, nói chung là đàn áp nhân quyền. Ðã phá tan nếp sống đạo nghĩa của dân tộc, đã tạo nên một xã hội toàn lọc lừa dối trá, ..v..v.. sao ông Nguyễn không nói tới mà lại nói đến những chuyện năm xưa như nói đến cái hào quang theo nét nhìn của ông Nguyễn với mục đích gì?

Thứ tám. Nhiều người dân, nhất là người miền Bắc, không muốn chế độ Việt Nam Cộng Hòa cùng với lá cờ vàng ba sọc đỏ quay lại nắm chánh quyền, cho dù chế độ cộng sản Việt Nam có bị loại bỏ cũng vậy. Những người chống đối chế độ cộng sản hiện nay bị cầm tù là những kẻ sĩ của Bắc Hà, chớ không có ai dính dáng đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa cả.

Quan điểm của tôi. Trong những người mà ông Nguyễn nói là không muốn chế độ Việt Nam Cộng Hòa với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ trở lại nắm chánh quyền, khi cộng sản Việt Nam bị loại bỏ, ông Nguyễn cũng trong số đó chớ?. Xin ông Nguyễn an tâm, vì trong thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, và tôi tin chắc là thời kỳ này nhất thiết phải xảy ra trên quê hương Việt Nam, không có vấn đề người này muốn hay người kia muốn là được, mà người dân toàn quyền và trực tiếp chọn bầu người lãnh đạo theo ý nguyện của họ, chớ không phải như dân chủ kiểu cộng sản mà đảng với nhà nước chọn giùm người dân đâu mà ông Nguyễn sợ. Nói cách khác, lúc đó người dân toàn quyền chọn lựa chế độ, chọn lựa quốc kỳ, chọn lựa người lãnh đạo, không ai có quyền áp đặt như cộng sản đã áp đặt đâu mà ông Nguyễn sợ. An tâm nhé!

Cũng xin ông Nguyễn đừng sợ, vì Cộng Ðồng hải ngoại không hận thù cộng sản đâu dù trải qua biết bao cay đắng bởi chế độ cộng sản, mục tiêu của Cộng Ðồng hải ngoại là góp phần giải thể chế độ độc tài chớ không có tư tưởng trả thù như lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã trả thù một cách hèn hạ đâu. Tôi nói giải thể chế độ độc tài chớ không nói chỉ giải thể riêng cộng sản, vì tôi có chút kinh nghiệm nên ước tính đến giai đoạn nào đó, đảng cộng sản mà ông Nguyễn đang hưởng ân huệ sẽ đổi tên để tiếp tục cầm quyền nhưng bản chất độc tài trong cai trị vẫn nguyên vẹn, hay có quá lắm cũng thay đổi cái bên ngoài thôi. Trường hợp này thì ngôn ngữ dân gian gọi là thay đổi theo cái kiểu "bình mới nhưng rượu cũ" đấy.

Thêm nữa, khi nói đến cộng sản, Cộng Ðồng hải ngoại chỉ nói đến nhóm lãnh đạo đảng chỉ hơn chục người thôi, chớ không nói đến toàn bộ đảng viên cộng sản đâu nhé.

Về quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, chắc là ông Nguyễn không thấu hiểu nguồn gốc lá cờ này từ trong lịch sử. Chế độ Cộng Hòa, hoặc cách thường dùng là Việt Nam Cộng Hòa mới xuất hiện trên công văn giấy tờ từ năm 1955, trong khi quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đã xuất hiện trên bàn cờ chính trị thế giới từ năm 1948. Và vào thời điểm ấy, lá cờ cộng sản nhuộm máu người dân Việt còn giấu kín trong "hang Bác Pó" và trong những khu rừng già Việt Bắc kia mà. Vậy, ông Nguyễn cần nhận thức cho rõ, quốc gia là quốc gia Việt Nam, quốc kỳ Việt Nam là quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, tượng trưng người dân Việt da vàng với ba Miền Nam Trung Bắc thống nhất. Ðiều này thật rõ nghĩa. Từ lâu nay, Cộng Ðồng hải ngoại khi nói đến quốc kỳ, phải nói rõ là quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa để phân biệt giữa Việt Nam tự do với Việt Nam cộng sản, chớ không có nghĩa là quốc kỳ này chỉ riêng của thời Việt Nam Cộng Hòa.

Ðến những vị đấu tranh đòi dân chủ bị cầm tù, ông Nguyễn có vẻ tự hào khi nói những vị ấy là những kẻ sĩ Bắc Hà, không có ai dính dáng đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Không biết ông Nguyễn có nghe nói đến người tù nhân lương tâm bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, người đã được các nhà lập pháp Hoa Kỳ đề nghị ứng viên giải Nobel hòa bình 2004 chớ? Rồi Nguyễn Ðình Huy, hết tù cải tạo tới tù có án. Nhìn qua tôn giáo, những vị đấu tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho nhân quyền, đã và đang bị tù, đã và đang bị quản chế, cũng là kẻ sĩ Bắc Hà nữa sao? Có vẻ như ông Nguyễn vẫn còn đầu óc kỳ thị người miền Nam với người miền Bắc thì phải? Ðầu óc này đã bị loại trừ từ những năm 40 rồi nghe ông Nguyễn, sao nó vẫn còn trong đầu của ông Nguyễn vậy? Và phải chăng ông Nguyễn cho rằng chỉ có những người đó mới là đấu tranh? Ông Nguyễn chỉ mới thấy bề mặt thôi, chớ làm gì ông Nguyễn thấy được những hoạt động đằng sau cái bề mặt đó ngay trên quê hương Việt Nam. Nếu có tự hào thì ông Nguyễn cứ tự hào vì ông đang sống trên đất tự do mà, dù ông đang hưởng ân huệ của cộng sản, nhưng đừng khinh thường những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ nhé! Tôi nói "Những Công Dân Việt Nam Cộng Hòa cũ" vì chúng tôi không chấp nhận -và không bao giờ chấp nhận- làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đâu nhé! Nghe cái tên của chế độ là muốn . . . rồi. Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại chúng tôi cũng có dị ứng như ông Nguyễn vậy, không chừng dị ứng mạnh hơn ông Nguyễn nữa là khác.

Xin đặt nét nhìn vào căn bản của vấn đề ông Nguyễn à! Chắc rằng, nếu không có sự hỗ trợ mạnh mẽ của Cộng Ðồng hải ngoại, liệu những vị đó có đủ can đảm đứng lên đấu tranh không nhỉ? Xin nói thêm là sự hỗ trợ đó trong tính cách cộng tác cho một mục tiêu chung của dân tộc là dân chủ hóa Việt Nam, xin đừng hiểu lầm hay quảng diễn theo nghĩa khác nghe ông Nguyễn! Chúng tôi rất ngưỡng mộ những đảng viên cộng sản lão thành lẫn những đảng viên trẻ, có quan điểm xây dựng và phát triển quốc gia trên nền tảng dân chủ pháp trị theo nguyện vọng người dân, vì đó chính là quan điểm của chúng tôi.

Thứ chín. Thưa quí vị, đến đây thì ông Nguyễn dành một đoạn nói với cộng sản Việt Nam, và ông tự cho ông là người yêu nước.

Ông nói: Nhìn lại chặng đường 74 năm qua, cộng sản Việt Nam đã đóng góp quan trọng cho đất nước, nhưng những đóng góp này chỉ mới làm cho Việt Nam khá hơn so với 74 năm trước, chớ so với các quốc gia láng giềng thì quá thua kém. Hãy nhìn lại hằng chục ngàn cô gái Việt bị mua đi làm vợ cho Ðài Loan, hằng ngàn cô khác phải đi làm điếm ở những nước láng giềng giàu có, hằng ngàn trẻ em Việt Nam bị bắt làm gái mãi dâm ở Cam Bốt. Hãy nhìn lại một nước mà một phần ba (1/3) trẻ em suy dinh dưỡng, hơn một phần ba (1/3) dân số sống dưới mức nghèo khổ, không đủ ăn, không học hành, không chăm sóc y tế. Hãy nhìn lại hằng triệu người dân nông thôn gần như không có việc làm, thu nhập cả năm chỉ vài chục mỹ kim. Trong khi đó, thế giới trong vòng vài chục năm qua đã thay đổi và phát triển nhảy vọt. Thử xem Hàn Quốc, Ðài Loan, Hong Kong, Singapore, hay Thái Lan, Malaysia, vài chục năm trước cũng như mình, mà bây giờ một trời một vực.

Vậy, đảng cộng sản Việt Nam suy nghĩ xem, những nước nói trên có phải là thực dân hay tư bản lãnh đạo không? Họ đâu có đảng cộng sản mà vẫn là nước của họ. Có ai như đảng cộng sản Việt Nam, mang đất bao ngàn năm của ông cha đem dâng cho Trung Quốc để trả nợ chiến tranh đâu! Dựa trên quan điểm lịch sứ, ông Nguyễn khẳng định rằng, thời kỳ đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ông Nguyễn khuyên cộng sản Việt Nam nên mở mắt ra để thấy để hiểu thế nào là dân chủ, thế nào là toàn cầu hóa để mà thay đổi, để mà đóng góp cho lịch sử Việt Nam. Vẫn chưa muộn nếu như thay đổi ngay bây giờ, vì có nhiều người Việt Nam trong nước lẫn hải ngoại có tâm huyết và khả năng dễ tạo một nước Việt Nam thật sự giàu mạnh, thật sự được thế giới kính trọng.

Rồi ông Nguyễn tưởng tượng ra hai hình ảnh dưới đây:

Hình ảnh thứ nhất. Những người cộng sản Việt Nam cầm quyền thấy rằng chủ nghĩa cộng sản không còn phù hợp nên tự nguyện bỏ quyền lợi của đảng, và chấp nhận thể chế đa đảng. Chỉ sau thời gian ngắn, một chánh phủ do dân bầu được thế giới hỗ trợ, nhất là Hoa Kỳ. 15 năm sau đó, với tài lãnh đạo của chánh phủ dân bầu, Việt Nam trở thành một trong những cường quốc kinh tế trong khu vực, và là một quốc gia tham gia tích cực vào phong trào dân chủ và xóa đói giảm nghèo trên thế giới.

Hình ảnh thứ hai. Trong những năm cuối thập niên đầu của thập niên đầu này, kinh tế Việt Nam thụt lùi, mức thất nghiệp cao, hàng ngoại quốc chi phối thị trường quốc nội. Thiên tai hạn hán hoặc không đúng phẩm chất khiến cho hàng nông nghiệp không cạnh tranh được. Nhân dân ta thán bất bình về khả năng lãnh đạo. Nhiều phong trào chống đối nổi dậy, nhà cầm quyền dùng nắm đấm sắt đàn áp, hằng vạn người chết nhưng phong trào vẫn tiếp tục. Và nội chiến xảy ra với hằng triệu người chết. Chiến tranh kết thúc, Việt Nam lại rơi vào nghèo đói và kêu gọi thế giới cứu đói.

Ông Nguyễn mong là hình ảnh thứ hai không xảy ra. Ðiều này có nghĩa là ông Nguyễn tin là lãnh đạo cộng sản Việt Nam tự mình lột xác để hòa nhập vào đồng bào, vào thế giới. Câu cuối cùng của ông Nguyễn là: Không ai thay đổi được lịch sử, mà chỉ có thể thay đổi hiện tại và tương lai. Những người vĩ đại phải là những người thức thời, phải biết thay đổi để đóng góp cho tương lai.

Tóm tắt. Qua bài viết của ông Nguyễn, tôi có nhận xét về ông Nguyễn như sau:

Ông Nguyễn nói ông là người yêu nước, nhưng theo cách nhìn của tôi thì tôi cảm thấy có điều gì không ổn. Cũng có thể ông Nguyễn nói yêu nước theo ngữ nghĩa của lãnh đạo cộng sản Việt Nam: yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa chăng? Nửa phần đầu bài viết có thể ông yêu nước thật, nhưng nửa phần sau rõ ràng là ông muốn xóa đi quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, xóa luôn những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ, vừa đưa hình tượng ông Hồ và đảng cộng sản Việt Nam vào Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, khi ông đánh giá ông Hồ và đảng cộng sản đã làm được những điều lớn cho đất nước. Với tôi, thật sự là ông Nguyễn vẫn lưu luyến ông Hồ và mong muốn xóa bỏ những gì lên quan đến Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ông Nguyễn có hiểu rằng, những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ đã đổ biết bao xương máu bảo vệ tự do trên lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam, đồng thời xây dựng nền móng cho một xã hội dân chủ pháp trị không? Khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải ra sức triệt tiêu nền móng đó để họ xây dựng một xã hội mới với con người mới xã hội chủ nghĩa từ sau tháng 4 năm 1975, một xã hội đảo lộn luân thường đạo lý trong cội nguồn dân tộc Việt Nam, một xã hội mà tham nhũng trở thành một nếp trong văn hóa Việt Nam! Và đây là sự thật khách quan trong hiện tại, ông Nguyễn có thấy không nhỉ?

Không biết là do ông Nguyễn không biết đến những phanh phui trong những năm sau này về tư cách tác phong đạo đức của ông Hồ từ những người cộng sản gần gũi ông Hồ, nhất là UNESCO đã hủy bỏ kỷ niệm ngày sinh thứ 100 của ông Hồ vì tổ chức quốc tế này cho rằng ông Hồ không xứng đáng được tổ chức như vậy, hay là ông Nguyễn và gia đình ông chịu ân huệ nhiều từ ông Hồ mà chối bỏ một vấn đề khách quan đó? Với lại dường như ông Nguyễn tránh né không nói đến lãnh đạo đảng mà chỉ nói chung chung là cộng sản Việt Nam. Tôi thì khác, tôi nhắm thẳng vào lãnh đạo đảng tức Bộ Chính Trị, nơi mà những nhân vật chóp bu này tự tôn vinh là "đỉnh cao trí tuệ" (!),vì đây là cơ quan nắm toàn quyền hoạch định và điều khiển thực hiện chế độ độc tài đảng trị. Và phải chăng ông Nguyễn muốn lôi cuốn Cộng Ðồng tị nạn hải ngoại theo kiểu "vơ đũa cả nắm" để gây chia rẽ giữa người Việt tự do với đảng viên cộng sản có quan điểm tự do nhưng vẫn còn trong hàng ngũ đảng cộng sản?

Ông Nguyễn có những nét nhìn khá trung thực về phía cộng sản nhưng là cái trung thực của bề mặt thôi, còn chiều sâu hay cốt lõi của quan điểm thì ông Nguyễn không biết gì hết hoặc ông không dám nhìn thẳng vào đó, nhưng lại rất nông cạn về phía Cộng Ðồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại. Nói chung là nét nhìn của ông Nguyễn rất nông cạn về cả hai phía.

Một điều khó hiểu là theo bài viết thì ông Nguyễn sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa lâu lắm rồi, ông cũng nói ở đầu bài là ông nghiên cứu rất nhiều tài liệu về kinh tế và ý thức hệ rồi, nhưng tại sao ông có ý nghĩ là nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam tự họ lột xác, cởi bỏ quyền lợi đảng mà hòa nhập vào dân tộc? Bởi căn cứ vào chứng nghiệm trong lịch sử nửa thế kỷ cầm quyền của cộng sản Việt Nam, trong số những nhân vật trong trung ương đảng cộng sản nói chung, và trong bộ chính trị hiện nay nói tiêng, không thể nào có một Gorbachev Liên Xô tại Việt Nam đâu. Nhưng từ suy nghĩ đó, ông Nguyễn không mong hình ảnh thứ hai xảy ra tức hình ảnh bạo loạn lật đổ chế độ, nhưng thực tế cho phép tôi suy đoán là hình ảnh này sẽ xảy ra, và chắc chắn phải xảy ra. Không phải tôi mong như vậy, mà tôi tin chắc như vậy, và chính những thành phần đấu tranh trong nước sẽ là nòng cốt lãnh đạo trong giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ tự do, ít nhất là cho đến khi bầu cử tự do mà người dân trực tiếp có toàn quyền chọn lựa từ quốc hiệu, quốc kỳ, đến chế độ, và vị lãnh đạo. Chế độ dân chủ tự do, khác với chế độ độc tài, khác hoàn toàn ông Nguyễn ạ!

Houston, Xuân 2004
Bổ túc Xuân 2006
Phạm Bá Hoa

Đầu trang