| Từ sau ngày Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, hằng ngày, trước đầu
giờ và sau cuối giờ làm việc, tôi thường lên văn phòng
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên để theo dõi và trao đổi tình
hình. Qua câu chuyện trao đổi mang tính cách tâm tình với
nhau hơn là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu ra lệnh cho
Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Xin mời quí vị quí bạn
vui lòng trở lại ngày 27 tháng 4 năm 1975 trước khi vào giờ thứ 25.
Tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, đã hết giờ làm
việc buổi chiều từ lâu, tôi vẫn còn ngồi trong văn phòng
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, nghe ông tâm sự:
“Anh biết không, Thiếu
Tướng Smith nói với tôi là cấp chỉ huy của ông ta từ Pentagon
(lầu năm góc, tức Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) nói ổng đang ủng
hộ một Trung Tướng cộng sản ngay tại Sài Gòn”.
“Ông ta muốn ám chỉ
Trung Tướng phải không?
“Tôi cũng nghĩ vậy”.
“Trung Tướng có nói
gì không?
“Không”.
“Đến lúc này, Trung
Tướng có quyết định ra đi chưa?
Tôi hỏi như vậy là vì lúc
sáng, Y Sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục
Quân Y, lên hỏi thăm tình hình, Trung Tướng Khuyên yêu cầu
Chuẩn Tướng Thanh cho ông 2 chai thuốc độc, và tôi cũng xin
2 chai (1 chai để trong túi và 1 chai trong cặp xách tay). Khi
ông xin thuốc độc, điều đó cho thấy có thể là ông không
bỏ chạy, hoặc xin thì xin nhưng chạy vẫn chạy. Nhưng tôi
nghĩ, ít ra thì Trung Tướng Khuyên đang có hai giải pháp trong
đầu. Im lặng một lúc, chừng như ông đang xúc động nên
lời nói của ông thật nhỏ:
“Tôi đã hứa với
ổng (tức Thiếu Tướng Smith), vì tôi cảm thấy sẽ không
an toàn nếu như tôi khước từ di tản”.
“Thiếu Tướng Smith
có nói bao giờ thì đi không, thưa Trung Tướng?
“Ổng được lệnh
từ Pentagon là sẽ đưa tôi đi”.
“Thiếu Tướng Smith
có nói là sẽ đi vào lúc nào không Trung Tướng?
Trung Tướng Khuyên buông
thỏng: “Giờ thứ 25”.
“Ổng có nói với Trung
Tướng giờ đó là giờ nào không?
“Giờ đó sẽ được
quyết định từ Pentagon”.
Sáng ngày 29 tháng 4 năm
1975, Tổng Thống Dương Văn Minh cho phổ biến bản tuyên bố trên đài
phát thanh Sài Gòn, theo đó thì Tổng Thống yêu cầu Hoa Kỳ lập
tức rút toàn bộ các cơ quan và nhân viên Hoa Kỳ ra khỏi
Việt Nam Cộng Hòa. Ngay sau bản tin ngắn ngủi nhưng rất quan
trọng đó, từng đoàn trực thăng của Hải Quân Hoa Kỳ vào
Sài Gòn, chuyên chở những người "di tản" ra Hạm Đội 7
ngoài khơi Vũng Tàu. Bãi đáp chính của trực thăng là khu
vực Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ ở Tân Sơn Nhất,
và bãi đáp trên sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ, tọa lạc
bên trái đại lộ Thống Nhất (từ Dinh Độc Lập nhìn về
hướng Thảo Cầm Viên).
Tôi xin dừng ở đây
để thuật tiếp phần cuối của câu chuyện ngắn (phần
đầu tôi đã thuật trong cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm
1963) do cựu Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu kể cho các bạn trong
bữa ăn tại nhà ông ở Orange County, Nam California, vào ngày
15 tháng 11 năm 1991. Hôm ấy, tôi là một thực khách trong số
đó. Chuyện mà cựu Đại Tá Chiêu kể lại là nhân chuyến
ông sang Paris đầu năm 1991, ông có mời cựu Tổng Thống Dương
Văn Minh và cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn dùng cơm, để
giúp giải tỏa mối bất hòa giữa hai vị mà cả hai vị đều
là bạn thâm giao của cựu Đại Tá Chiêu. Trong toàn bộ câu
chuyện ngắn đó có đoạn cựu Đại Tá Chiêu hỏi cựu Tổng
Thống Dương Văn Minh:
“Tại sao anh mới nhận
chức Tổng Thống mà anh ra lệnh đuổi Mỹ về nước?
"Moa" không đuổi Mỹ.
Bản văn đuổi Mỹ là do Đại Sứ Martin (Hoa Kỳ) đưa
cho "Moi" và yêu cầu "Moi" phổ biến”.
Phần cuối câu chuyện
chỉ có thế, nhưng nó cho thấy Hoa Kỳ đã "an bài chiến
tranh chống cộng của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta" đến tận
cùng chi tiết. Vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi bản
văn "đuổi Mỹ" vừa phát đi trên làn sóng đài phát thanh
Sài Gòn, thì từng đoàn trực thăng Hoa Kỳ thuộc Hạm Đội
7 của họ từ ngoài khơi Thái Bình Dương, ào ào vào Sài Gòn,
cứ như các trực thăng đó túc trực ứng chiến trên đường
bay của Hàng Không Mẫu Hạm vậy. Thậm chí đơn vị Thủy
Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã có mặt tại phi trường Tân Sơn
Nhất và tòa đại sứ từ nửa đêm 28 rạng 29 tháng 4 năm
1975, để bảo vệ cuộc vận chuyển di tản. Các sự kiện
đó đã xác định rõ ràng chớ không phải ngẫu nhiên. Ngôn
ngữ chính trị là như vậy mà. Nghe vậy, nhưng không phải
vậy, mà đôi khi cũng có thể là như vậy.
Vẫn sáng ngày 29 tháng
4 năm 1975, như những ngày trước đó, tôi lên văn phòng Trung
Tướng Đồng Văn Khuyên, để theo dõi tình hình, vẫn chưa
nghe ông nói gì về giờ thứ 25 mặc dù Tổng Thống đã
chánh thức yêu cầu Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa
trong vòng 48 tiếng đồng hồ!
Trở về văn phòng,
đứng ở lan can ngay trước văn phòng tôi, nhìn sang bãi đáp
bên kia hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa khuôn viên Bộ Tổng
Tham Mưu với một góc của khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất.
Từng chiếc trực thăng hạ cánh rồi cất cánh với đầy
người chen chúc bên trong, một vài chiếc có cả người còn
tòn teng ở càng chân trực thăng chớ chưa vào được bên
trong. Lúc ấy tôi liên tưởng đến tấm ảnh với ghi chú
ngắn trên những nhật báo phát hành tại Sài Gòn ngày 18 và
19 tháng 4 năm 1975. Tấm ảnh đó chụp lúc những giới chức
của quốc gia Cam Bốt, đang chen lấn lên trực thăng Hoa Kỳ
để di tản khỏi quê hương của họ, vì quân cộng sản đang
tiến chiếm thủ đô Nam Vang (Phnom Penh). Nghĩa là họ thua trận
trước Việt Nam Cộng Hòa, nhưng họ hơn ta ở điểm là họ
còn chống giữ thủ đô Nam Vang được vài tuần. Câu ghi chú
rằng: "Những người Cao Miên đứng bên ngoài rào, trông họ
rất thản nhiên khi nhìn cái cảnh trốn chạy của những người
từng lãnh đạo đất nước họ ...". Thật lòng mà nói, lúc
ấy tôi không biết tôi đang nghĩ gì và phải làm gì khi trông
thấy cảnh tượng như vậy diễn ra ngay trước mắt! Có vẻ
như tôi chưa sẳn sàng chấp nhận hình ảnh đó là sự thật
trong cuộc đời, mặc dù nó đang xảy ra trước mắt tôi!
Trong khi cảnh di tản
bằng trực thăng trong khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất
ở phần đối diện với khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu vẫn
diễn tiến, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên đẩy cửa vào phòng
tôi, nhưng tôi bận điện thoại cung cấp nhiên liệu cho Lữ
Đoàn 3 Kỵ Binh đã từ Biên Hòa rút về Gò Vấp. Thấy tôi
bận, ông quay trở ra và sang phòng vệ sinh. Điện thoại xong,
tôi ra đứng cạnh lan can chờ ông. Dĩ nhiên là khi trở ra,
Trung Tướng Khuyên trông thấy tôi, ông đi ngang tôi, rồi đi
thẳng đến xe Jeep cách tôi chừng 5 bước. Ông lên xe, nhìn
thẳng phía trước, và im lặng. Chưa bao giờ tôi thấy thái
độ của ông như vậy, do vậy mà tôi nghĩ: "Phải chăng giờ
thứ 25 bắt đầu?".
Ông không nói một tiếng
nào trong khoảng 5 phút. Ông ra hiệu bằng tay, anh Hạ Sĩ Quan
tài xế cho xe lăn bánh. Tôi đứng thẳng người, đưa tay lên
trán, chào ông, rồi khoa tay từ biệt để ông hiểu là tôi
đoán được chuyện gì đang xảy ra. Nếu tôi không lầm, thì
Trung Tướng Khuyên sẽ rất xúc động nếu như ông nói với
tôi bất cứ lời nào, vì vậy mà tôi không chút phiền muộn
đối với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên cho dù ông đã không
một lời từ biệt, một lời từ biệt với biết bao nguy
hiểm cho người đi lẫn người chưa đi!
Lúc đó là 11 giờ 30
phút sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, và tôi xem đây là giây đầu
tiên trong 3.600 giây của Giờ Thứ 25!
Khoảng hai tiếng đồng
hồ sau đó, Thiếu Tá Tấn, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên, điện thoại tôi:
“Trình Đại Tá, Trung
Tướng đã vào gặp Thiếu Tướng Smith rồi”.
“Anh đang ở đâu vậy?
“Tôi đang ở nhà tôi”.
“Ủa, anh không đi sao?
“Dạ không Đại Tá”.
“Anh có thể cho tôi
biết là sau khi rời chỗ tôi thì Trung Tướng đi những đâu
không?
“Rời văn phòng Đại
Tá, Trung Tướng hướng dẫn tài xế lái xe trên nhiều con
đường trong Tổng Tham Mưu, rồi ra cổng số 3 (cổng số 3
ra đường Võ di Nguy) và quanh vào cổng sau phi trường. Tại
đây có sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Smith đón và hướng
dẫn vào. Đi được một khoảng thì lính gác Thủy Quân Lục
Chiến Hoa Kỳ gọi tôi lại, bảo tôi tháo khẩu súng lục
để lại cổng. Đi bộ vào đến Văn phòng Tùy Viên Quốc
Phòng thì Thiếu Tướng Smith đứng chờ ở đó, cả hai ông
vào văn phòng, tôi chào Trung Tướng rồi trở về nhà”.
“Anh trông thấy nhiều
người trong đó chớ?
“Đông lắm Đại Tá
ơi! Đông nghẹt người lận”.
“Cám ơn anh, và mong
là anh em mình còn liên lạc nhau được ngày nào mừng ngày
ấy thôi. Chào anh nhé”.
Vậy là, quí vị lãnh
đạo đất nước Việt Mam vừa bàn giao chức vụ lãnh đạo
quốc gia lẫn quí vị đương kiêm chức vụ lãnh đạo quân đội,
đã lần lượt "rời bỏ Việt Nam" gần như theo hệ thống
quân giai cho dù là hệ thống quân giai ngẫu nhiên cũng vậy:
Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên
thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi
nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội,
lên phi cơ đi ngoại quốc!
Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng
Quốc Phòng, lên phi cơ đi ngoại quốc!
Đại Tướng Cao Văn
Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
từ ngày 15 tháng 10 năm 1965, lên phi cơ đi ngoại quốc!
Đầu giờ thứ 25, Trung
Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu
kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, cũng lên phi
cơ đi ngoại quốc!
Và khi vị Tổng Tham
Mưu Trưởng và Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, rời bỏ chức
vụ để "đi ngoại quốc", thì quí vị Tướng Lãnh cùng
nhiều vị Trưởng Phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, cũng ra đi!
Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lúc 12 giờ
trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, không còn một vị nào có thẩm
quyền quyết định bất cứ vấn đề gì hết, ngay cả công
tác phòng thủ trại Trần Hưng Đạo -tức Bộ Tổng Tham Mưu-
cũng không ai trách nhiệm nữa. Quân nhân và công chức quốc
phòng của Bộ Tổng Tham Mưu trên dưới 2.000 người, không
còn cấp chỉ huy, nên họ đành phải quyết định: Tự động
tan hàng!
Tôi điện thoại cho
Đại Tá Nguyễn Hồng Đài (con rể của Tổng Thống Dương
Văn Minh), nguyên là Chánh Sở Kế Hoạch/ Tổng Cục Tiếp Vận
biệt phái về Phủ Tổng Thống:
“Anh Đài. Anh vui lòng
trình với Tổng Thống là cho đến lúc này, trong Bộ Tổng
Tham Mưu không còn vị Tướng Lãnh nào hết, cũng không ai trách
nhiệm bảo vệ bản doanh Tổng Tham Mưu nữa. Tôi trình xin
Tổng Thống cử người vào chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng
và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Nếu hôm nay không
có vị nào vào đây thì bộ tham mưu nhẹ của Tổng Cục Tiếp
Vận chúng tôi sẽ sang Biệt Khu Thủ Đô làm việc, vì khách
hàng mà tôi yểm trợ chỉ còn Biệt Khu Thủ Đô và một phần
lực lượng của Quân Đoàn III thôi”.
“Được rồi, tôi trình
"Ông Già" ngay và sau đó sẽ điện thoại anh”.
Một lúc sau, Đại Tá
Đài gọi tôi:
“Ông Già" cho biết,
lúc 3 giờ chiều nay sẽ có phái đoàn Tướng Lãnh vào nhận
chức trong Bộ Tổng Tham Mưu. Anh yên tâm”.
Lúc 2 giờ chiều 29
tháng 4 năm 1975, tôi mời các vị Cục Trưởng Cục Phó, Trung
Tâm Tiếp Liệu Lục Quân, Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận,
Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận, đến họp gấp. Kiểm điểm
lại chỉ còn Cục Trưởng Cục Quân Y (Chuẩn Tướng Phạm
Hà Thanh), Cục Trưởng Cục Quân Vận (Đại Tá Nguyễn Tử
Khanh), Cục Phó Cục Quân Nhu, Cục Phó Cục Công Binh, Cục
Phó Cục Quân Cụ, Cục Phó Cục Truyền Tin, Cục Phó Cục
Quân Tiếp Vụ, và Cục Phó Cục Mãi Dịch. Tôi vào đề ngay:
“Trong trách nhiệm Tham
Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận, tôi xin thông báo đến quí
vị và các bạn về tình hình chung và tình hình nội bộ Tiếp
Vận của mình. Về tình hình chung, hiện nay theo Phòng 2/Bộ
Tổng Tham Mưu thì có khoảng 10 sư đoàn quân cộng sản bao
quanh Sài Gòn và chúng đang áp sát ven ngoại ô. Điều đó
cho phép dự đoán là chúng có thể tấn công chúng ta bất
cứ lúc nào mà chúng cho là thuận lợi. Về lực lượng phòng
thủ của ta thì không có đơn vị nào nguyên vẹn, kể cả
Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Ngay cả Sư Đoàn 106 Biệt
Động Quân mới thành lập với Đại Tá Nguyễn Văn Lộc giữ
chức Tư Lệnh, Đại Tá Vũ Phi Hùng làm Tư Lệnh Phó, và Đại
Tá Cao Văn Ủy làm Tham Mưu Trưởng, cũng chỉ là sự kết
hợp gấp rút các Liên Đoàn Biệt Động Quân cùng với vài
đơn vị Pháo Binh và Thiết Giáp còn lại thôi. Về nội bộ
Tiếp Vận, thì Trung Tướng Tổng Cục Trưởng và gần hết
các sĩ quan cao cấp trong Tổng Cục Tiếp Vận, đã tự động
rời khỏi nhiệm sở rồi. Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Tiếp
Liệu Lục Quân và Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Điện Toán Tiếp
Vận, cũng thế. Còn tại các Cục, tôi nghĩ là các bạn biết
rõ hơn tôi. Thông báo một tình hình như vậy, tôi muốn quí
vị và các bạn tùy nghi vì tôi không có thẩm quyền về bất
cứ vấn đề gì vượt quá trách nhiệm và quyền hạn của
người Tham Mưu Trưởng Tổng Cục. Tôi có bấy nhiêu lời,
và nếu không có điều gì cần hỏi, tôi xin chào quí vị,
chào các bạn, vì trong chúng ta không ai biết được những
gì sẽ chợt đến với mình trong những ngày tháng sắp tới
-
Sở dĩ phải nói lời
chào ngay vì tôi thấy Đại Tá Nguyễn Tử Khanh có vẻ như muốn
rời phòng họp. Quả thật, hơn tiếng đồng hồ sau đó, Đại
Tá Cao Văn Phước, Cục Phó Cục Quân Vận cho tôi biết là
Đại Tá Khanh đã vội vã xuống Giang Đoàn Vận Tải và đi
rồi.
Lúc 3 giờ chiều ngày
29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Vînh Lộc -đã một thời là Tư Lệnh
Quân Đoàn II, rồi Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc
Phòng- vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn
Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng
Tham Mưu. Và một vài Đại Tá nhận chức Trưởng Phòng. Đại
Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham
Mưu Trưởng.
Đại Tá Tuân gọi tôi
lên trình diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng:
“Chào Trung Tướng”.
“Chào anh. Những vị
Tướng cầm quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình
hãy cùng nhau cố gắng nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia.
Vào giờ phút lâm nguy này mới thấy được giá trị của
mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc”.
“Thưa Trung Tướng,
giờ này tôi có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng,
trong khi các cấp chỉ huy trên tôi đã rời khỏi nhiệm sở,
và các cấp chỉ huy dưới tôi cũng vậy, có nghĩa là tôi
vẫn tiếp tục trách nhiệm của tôi, thưa Trung Tướng”.
“Nhiệm vụ yểm trợ
Tiếp Vận cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy
vào anh”.
“Vâng. Tôi đã và
đang làm tất cả những gì thuộc về trách nhiệm của tôi,
và tôi vẫn tiếp tục như vậy. Và nếu không có vị nào
khác thì xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức
vào chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì
tôi được biết Chuẩn Tướng Chức sẳn sàng nhận chức
vụ này, thưa Trung Tướng”.
“Anh sẽ có vị Tổng
Cục Trưởng ngay hôm nay”.
“Vâng. Chào Trung Tướng”.
Lúc 5 giờ chiều 29
tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục
Trưởng Cục Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc
Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức
Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Một chức vụ mà
Chuẩn Tướng Chức đã hơn một lần tự ông đề nghị thẳng
với Trung Tướng Khuyên đề nghị lên cấp trên bổ nhậm
ông vào đó. Chuẩn Tướng Chức, trong thời gian sinh hoạt
trong "Nhóm Đời Mới" -tôi cũng là một thành viên trong Nhóm-
của cụ Trần Văn Ân, có lần nói với tôi rằng "lên đến
Tướng là phải hoạt động chính trị và ông cũng nói thẳng
là ông muốn nắm giữ chức vụ cao hơn là Cục Trưởng nếu
vẫn phục vụ trong quân đội, vì ông tự thấy khả năng
của ông như vậy, và đó mới là tương lai sự nghiệp của
ông. Chuẩn Tướng Chức là người rất hoạt động, khi ông
tham gia công tác với đơn vị Công Binh của ông thì ông làm
nhiệt tình như bất cứ người lính Công Binh nào, và trong
những trường hợp như vậy ông rất thích được phóng viên
báo chí tiếp xúc. Chuẩn Tướng Chức là mẫu người rất
nhiệt tình trong trách nhiệm, và ông cũng rất muốn được
xuất hiện trong sinh hoạt chính trường.
`Tôi trình bày tình hình
chung và tình hình riêng của ngành Tiếp Vận như đã cung
cấp cho các vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn
ngủi lúc 2 giờ, và tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các
đơn vị chiến đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ
nhiệm Đại Tá Trần Văn Lễ (đang là Chỉ Huy Trưởng Trường
Tiếp Vận) trở lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp
Vụ. Các vị Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các
vị Cục Phó giữ chức Quyền Cục Trưởng.
“Bây giờ xin phép anh
tôi về nhà dùng cơm rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó
nếu có đơn vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện
thoại cho tôi và tôi giải quyết”.
“Được rồi, anh về
đi. Anh có cần xe mở đường không vì đường phố đông
nghẹt người với xe cộ đó?
“Cám ơn anh. Không cần
đâu anh”.
Không chỉ là đường
phố đông nghẹt người mà là hỗn loạn chưa từng thấy!
Áng chừng 6 cây số mà phải gần 2 tiếng đồng hồ tôi
mới về đến nhà. Dọc đường, tiếng gọi nhau chạy loạn vang
vang cả một quảng dài, đúng là "loạn thì lạc!". Trời tối
hẳn, những chiếc trực thăng Hoa Kỳ thả "hỏa châu" chiếu
sáng liên tục, để từng đoàn trực thăng phụ trách "di tản"
thi hành nhiệm vụ. Nhiều phi tuần khu trục phản lực cũng
của Hoa Kỳ, gào thét trên không phận thủ đô để sẳn sàng
tấn công các đơn vị cộng sản nếu như trực thăng vận
tải của họ bị bắn hạ, trong khi đạn phòng không của
cộng sản tua tủa vọt lên khoảng không gian bé nhỏ vừa
tối lại vừa sáng!
Trong những năm chiến
tranh dữ dội, nhất là trong trận chiến "mùa hè đỏ lửa
năm 1972", ngày cũng như đêm, người dân Sài Gòn rất quen
với tiếng động cơ phản lực chiến đấu, từng đôi từng
đoàn, xé không gian lên đường đánh địch bằng hỏa lực
mãnh liệt mà nó được các nhà chế tạo Hoa Kỳ nghiên cứu
trang bị, và quen đến mức nếu như vắng âm thanh đó thì
họ cho là chuyện không bình thường. Bẳng đi một thời gian
khá lâu, đêm nay, âm thanh đó trở lại, nhưng là trở lại
để đánh dấu một tình huống bi thảm của dân tộc Việt
Nam sau hai thập niên chiến đấu vì Dân Chủ Tự Do!
Cơm xong tôi ra xe, nhưng
đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến
Thành mặc dù chỉ cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất
cả mọi người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường
sống vậy! Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối
người là người mới trở vào được trong khu cư xá do các
thanh niên trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng
trước của cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi
điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận:
“Chào anh Chức, Hoa
đây anh. Bây giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được
vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng tượng nỗi. Anh cho
phép tôi ở nhà, tất cả điện thoại về nhu cầu Tiếp Vận
anh chuyển sang cho tôi và tôi giải quyết ngay. Công việc của
Tổng Cục mình bây giờ thu gọn lắm rồi anh. Hàng tiếp liệu
cho các đơn vị chỉ gồm nhiên liệu và đạn dược, tôi
cho lên xe sẳn sàng tại các kho để cung cấp thật nhanh theo
yêu cầu. Anh an tâm”.
“Được rồi. Có gì
tôi gọi anh”.
Vài trái đạn đại
bác của quân cộng sản đã nổ bên ngoài khuôn viên cư xá nhưng
chưa gây thiệt hại quan trọng nào. Phi trường Tân Sơn Nhất
chắc là bị pháo kích nhiều, vì tôi nghe tiếng đại bác
nổ liên hồi ở hướng đó. Trong cư xá có 1 đại đội Nhẩy
Dù từ trên căn cứ Hoàng Hoa Thám (đầu phi trường Tân Sơn
Nhất phía Hóc Môn) rút về đây, và cư dân an lòng đôi chút
vì có lực lượng phòng thủ.
Gần nửa đêm, Đại
Tá Trương Đình Liệu, Chỉ Huy Trưởng Tổng Kho Long Bình,
điện thoại tôi:
“Trình anh là tôi đã
cho triệt thoái toàn bộ về đây rồi. Chờ lệnh Tổng Cục
hoài không thấy, đến khi các đơn vị trong căn cứ Long Bình
rút lui, tôi liền cho anh em theo họ”.
“Anh hành động đúng
thôi. Chuẩn Tướng Chức nhận chức Tổng Cục Trưởng lúc
chiều, ông ấy không ra lệnh thì tôi làm gì được. Về
yểm trợ thì tôi lo được, nhưng ra lệnh rút lui thì tôi
đâu có thẩm quyền. Anh hiểu tôi rồi hén”.
Khoảng 2 giờ 30 sáng
ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo:
“Đại Tá Hoa tôi nghe”.
“Trung Tướng Lộc đây
anh. Lúc nảy, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn,
không biết là họ liên lạc với anh chưa?
“Chuẩn Tướng (Lê
Trung Tường) Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III có gọi tôi, và
tôi đã cung cấp rồi, thưa Trung Tướng”.
“Cố gắng nghe anh Hoa”.
“Vâng. Tôi đã trình
bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm
vụ của tôi cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được
nữa, thưa Trung Tướng”.
Khoảng 3 giờ sáng ngày
30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng
Tổng Cục Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng
Cục Trưởng, từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại
tôi:
“Thưa Đại Tá, Chuẩn
Tướng Chức đã lên xe đi rồi”.
“Chuẩn Tướng đi một
mình hay đi với ai vậy anh?
“Dạ đi một mình.
Chuẩn Tướng đi mà không xách cái cặp theo, và cũng không
cho xe hộ tống (xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến)
theo nữa”.
“Thôi được. Sáng
sáng một chút, tôi tìm cách đến Tổng Cục hẳn hay”
Tiếp đó điện thoại
lại reo:
“Đại Tá Hoa tôi nghe”.
“Đài đây anh (Đại
Tá Nguyễn Hồng Đài). Lúc 10 giờ sáng nay (tức 30/4/1975) "Ông
Già" sẽ công bố giải pháp chính trị, anh theo dõi trên đài
phát thanh Sài Gòn nghe”.
“Nhưng mà nội dung
giải pháp là gì?
“Trung lập, như tôi
nói với anh đó”.
“Vậy là tôi chuẩn
bị. Cám ơn anh”.
Đến đây tôi xin mở
ngoặc để nói đến 2 điều cho vấn đề được rõ thêm.
Điều thứ nhất. Khoảng
năm 1998, tôi có dịp gặp anh Nguyễn Hồng Đài tại thành
phố Houston, tiểu bang Texas. Sau khi thăm hỏi nhau, anh xác nhận
lời anh đã nói với tôi là đúng như trong quyển Đôi Dòng
Ghi Nhớ, nhưng về thời gian thì sai. Anh nói không phải rạng
sáng 30 tháng 4 mà là rạng sáng 29 tháng 4, vì tối 29 tháng
4 anh đang trên tàu ra biển. Trí nhớ của tôi vẫn ghi nhận
lời anh nói vào rạng sáng 30 tháng 4, vì đây là đêm đầu
tiên tôi “bị” ngủ tại nhà sau 3 tuần cắm trại ngủ
tại văn phòng tôi (Tổng Cục Tiếp Vận) trong khuôn viên Bộ
Tổng Tham Mưu, và tôi tiếp chuyện điện thoại với anh lúc
tôi từ cửa sổ nhà tôi nhìn lên bầu trời với những âm
thanh gào thét của những chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bao vùng
yểm trợ cho trực thăng đưa người di tản. Vì vậy tôi vẫn
viết lại đây theo trí nhớ của tôi.
Và điều thứ hai.
Khi tôi nói "tôi chuẩn bị", tức là tôi chuẩn bị rời
khỏi Việt Nam ngay sau khi Tổng Thống Minh tuyên bố trung lập.
Nghĩa là tôi và gia đình dự trù rời khỏi Việt Nam nhưng
không đi trước khi có giải pháp chính trị, mà ra đi trong
lúc giao thời dù chỉ trong ngắn ngủi. Chúng tôi dự trù 6
gia đình, trong số này có 2 gia đình thuộc phi hành đoàn C130,
dùng chiếc C130 sang Singapore để đi Australia, vì tôi được
sự giúp đỡ của người bạn gốc Trung Hoa trong công ty INTRACO
tại Singapore, nối liên lạc với cơ quan ngoại giao Australia
tại đó và đã được đồng ý. Xin đóng ngoặc.
Vừa mờ sáng là tôi
lên xe. Hướng ngã tư Bảy Hiền -nơi trở thành tiền tuyến-
có nhiều tiếng súng trường và tiểu liên, nên không có người
đi lại bao nhiêu, và tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi
rẽ sang Võ Tánh nối dài. Quân cộng sản chưa xuống đến
ngã tư Bảy Hiền, và tôi an toàn đến Tổng Tham Mưu. Đến,
nhưng không được phép vào.
Chuyện như thế này:
Trung Tá Tòng, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng
Tham Mưu đã tháp tùng Đại Tướng Cao Văn Viên đi ngoại
quốc từ mấy ngày trước, và Trung Tướng Vĩnh Lộc cử Đại
Tá Trần Văn Thăng -sĩ quan An ninh quân đội- giữ chức Chỉ
Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đang khuyết. Đại
Tá Thăng ra lệnh cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng
Tham Mưu, không cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh
do Sĩ quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp. Tôi
có thẻ, nhưng không bao giờ mang trên túi áo mà là để trong
cặp xách tay, và cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn
viết ở văn phòng. Tôi làm như vậy là vì tất cả những
quân nhân trách nhiệm ở cổng gác này, không ai là xa lạ
với tôi cả. Sĩ quan Quân Cảnh nói:
“Đại Tá thông cảm,
vì lệnh của Đại Tá Thăng như vậy nên tôi phải thi hành”.
“Tôi hiểu. Bây giờ
Đại Tá Thăng ở đâu vậy anh?
“Dạ Đại Tá Thăng
dường như lên văn phòng Trung Tướng rồi Đại Tá”.
“Thôi được. Chốc
nữa Đại Tá Thăng về lại văn phòng, anh nói là tôi không
có mang theo thẻ an ninh nên không vào được, và tôi sang Biệt
Khu Thủ Đô làm việc ở đó. Cám ơn anh nghe”.
“Đại Tá thông cảm
cho tôi nghe Đại Tá”.
“Nếu tôi là anh, tôi
cũng vậy thôi mà. Anh đừng bận tâm. Tôi đi đây”.
Đạn đại bác của
quân cộng sản nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ
trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện
với anh sĩ quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép vào thân cây
trước văn phòng Tổng Hành Dinh.
Sang trại Lê văn Duyệt,
tôi ngồi tạm trong văn phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu
Trưởng Biệt Khu Thủ Đô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng
bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh
chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi.
Qua điện thoại, Trung
Tướng Vĩnh Lộc đồng ý tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Đô điều
hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông
phải xuống dinh Độc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ
lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh
Lộc cũng bỏ chạy như những vị Tướng đã bỏ chạy, mà
chiều hôm qua, khi ông ra lệnh cho tôi ráng lo về Tiếp Vận,
ông đã khá nặng lời với các vị ấy. Nhưng nghĩ cho cùng,
Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng
vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ
cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày -tôi nghĩ-
ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng góp phần trách
nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000
người!
Tại Bộ Tư Lệnh Biệt
Khu Thủ Đô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh, đã
bỏ chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát -người đảo chánh
Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 thất bại- được
Tổng Thống Dương Văn Minh cử giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu.
Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh Phó. Thiếu
Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan sát tình
hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không Quân cho các
phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng sản đang quanh
quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư Bảy Hiền lên
đến Hóc Môn. Vị Tư Lệnh Không Quân lúc bấy giờ là Chuẩn
Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần Văn Minh (không
phải là Trung Tướng Minh đã giữ chức Quyền Tổng Tư Lệnh
quân lực sau khi Đại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong), Tư Lệnh
Không Quân đã cao bay xa chạy rồi. Và Bộ Tư Lệnh Không Quân
cùng các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Đoàn 5 Không Quân
Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, rút
xuống căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, cách Cần
Thơ khoảng 7 cây số. Tôi nói "các phi đoàn còn lại", là
vì đã có nhiều phi công lái hằng trăm phi cơ các loại bay
qua căn cứ Utapao của không quân Hoa Kỳ, về phía đông nam
thủ đô Bangkok của Vương quốc Thái Lan, di tản.
Thiếu Tướng Lâm Văn
Phát vừa đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn
Thân bảo Đại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông
đang cầm trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để
ông bay quan sát và hướng dẫn các phi tuần khu trục tấn
công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ sau
đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có Chuẩn Tướng
Thân. Tôi hỏi ngay:
“Chuẩn Tướng Thân
đâu rồi các bạn?-
“Chuẩn Tướng bảo
tôi đáp xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về
đi”.
“Vậy là Chuẩn Tướng
Thân cũng chạy rồi”.
(Sáu tháng sau đó, tôi
gặp lại Chuẩn Tướng Thân trong cùng trại tập trung Tam Hiệp,
Biên Hòa, trại này người địa phương còn gọi là trại
Suối Máu nữa)
Đại Tá Ngô Văn Minh
từ trong Trung Tâm Hành Quân gọi tôi:
“Anh Hoa, anh nói chuyện
với Lê Minh Đảo không? Hắn đang ở đầu máy bên kia nè”.
Đó là Thiếu Tướng
(mới thăng cấp chưa kịp tổ chức lễ gắn cấp hiệu 2 sao)
Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đã quần thảo
với 2 sư đoàn quân cộng sản ở Xuân Lộc và gây cho chúng
tổn thất rất nặng. Vì áp lực của chúng quá mạnh, nên
Quân Đoàn III cho lệnh lui về căn cứ Long Bình.
“Chào anh Đảo, Hoa
đây. Anh đang ở đâu vậy?
“Tôi ở chỗ "nhà máy
xi măng Hà Tiên" và đang tìm xuồng qua sông. Tụi cộng sản
nó đuổi theo sau lưng tôi nè. Hết rồi anh ơi!
“Dù gì thì anh đã
đánh nhau với tụi nó một trận ngon lành, anh oai hơn nhiều
vị Tư Lệnh khác mà”.
“Sao anh ở chỗ anh
Minh?
“(Tôi mượn câu của
anh để trả lời anh) "Hết rồi anh ơi"! Vì chỉ còn yểm
trợ cho Biệt Khu thôi, và giờ này thì còn đơn vị nào nữa
đâu. Thôi, chúc anh may mắn nghe, và mong rằng chúng mình vẫn
còn gặp lại nhau là mừng rồi”.
Sau đó -tức sau giờ
Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố buông súng và bàn giao-
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dùng giấy tờ giả xuống Rạch
Giá để hy vọng vượt thoát ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ, nhưng
anh đã không thực hiện được và trở về nhà trong cùng
cư xá với tôi. Sau này, có những năm chúng tôi ở tù chung
trong một trại nhưng khác buồng giam.
Lúc 10 giờ 15 ngày 30
tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong phòng Đại Tá Ngô Văn
Minh, có âm thanh "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....".
Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..." Và
đại ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh
lệnh đối với quân đội ".... các đơn vị không được
nổ súng, ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải
phóng...". Đối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ
súng và ông hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự.
Tôi xem đây là giây
thứ 3.600, giây cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối
cùng của ngày thứ 7.583, và là ngày cuối cùng của một giai
đoạn chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ!
Thế là hết !!!
Tôi lặng lẽ rời nơi đây,
theo đường Lê Văn Duyệt, rẽ sang đường Trần Quốc Toản,
ép bên phải để ghé vào Cục Mãi Dịch, chào các cộng
sự viên cũ của tôi. Trung Tá Nguyễn Văn Thình, Cục Phó,
hỏi tôi cách bàn giao ra sao? Tôi bảo:
“Không bàn giao gì cả,
các bạn nào muốn lấy gì thì lấy rồi thản nhiên ra về,
ai muốn vào đây làm gì mặc họ”.
Dọc đường về nhà,
những nơi mà tôi vừa đi qua, có biết bao bộ đồ trận
-những bộ quân phục từng là biểu tượng quân phong quân
kỷ của quân nhân- những mũ những giày, vất vưỡng ngỗn
ngang trên đường phố. Trong dòng người ngược xuôi vội
vã, có rất nhiều người quần đùi áo lót mà tôi tin đó
là những đồng đội của tôi tạm thời lẩn tránh bọn cộng
sản. (Hình ảnh này là một phần trong bản nhạc ''Như Lá
Chết Cành Khô'' do cựu Đại Tá Phan Văn Minh -đã một thời
là Đổng Lý Văn Phòng của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ-
sáng tác trong thời gian bị giam ở trại tập trung Hà Tây,
tỉnh Hà Sơn Bình).
Quân cộng sản chưa
thật sự có mặt trong thành phố, nhưng những tốp thanh
niên nam nữ đeo băng tay đỏ với súng M16 trên tay và ngồi
xe jeep chạy đó đây trong trên đường phố Sài Gòn. Đó
là những bọn mà chúng tôi gọi là "cộng sản 30 tháng
4". Dù trong một tầm nhìn hạn hẹp đó, tưởng cũng đủ
nói lên một cảnh tượng trong biết bao cảnh tượng đau thương
ngập tràn trái tim Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vì chưa
tròn trách nhiệm với dân với nước!
Hơn một tiếng đồng
hồ sau lời tuyên bố đầu hàng (không nổ súng có nghĩa
là đầu hàng rồi!) của Tổng Thống Dương Văn Minh, đơn
vị Thiết Giáp đầu tiên của cộng sản mới vào dinh Độc
Lập. Và từ giờ đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị nhà
cầm quyền nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cai trị!
Trong lúc trên dưới
200.000 quân của Quân Đoàn IV, chưa một trận đánh quan trọng
nào, cũng chưa một vị Tư Lệnh nào bỏ chạy, đã phải buông
súng đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống Dương văn Minh!
Trước đó, khi cuộc
chiến chưa ngừng tiếng súng, có những vị Tướng đầy
quyền lực, đã thật sự bỏ chạy ra nước ngoài. Và giờ
đây, cuộc chiến thật sự đã tàn, và tàn trong ý nghĩa thua
trận, bại trận, hay đầu hàng, hiểu thế nào cũng thế thôi.
Nhưng trong cảnh bại trận này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
chúng ta, xuất hiện Những Vị Tướng Thật Sự Là Những
Anh Hùng không kém những vị Anh Hùng trong lịch sử đã tuẫn
tiết khi thành thất thủ. Đó là hành động tự sát ngay nơi
nhiệm sở chớ không chấp nhận đầu hàng, của:
Thiếu Tướng Nguyễn
Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV. (Cần Thơ)
Chuẩn Tướng Lê Văn
Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV. Chuẩn Tướng Hưng đã được
vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến
trường An Lộc, tỉnh Bình Long.
Chuẩn Tướng Lê Nguyên
Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình Dương)
Chuẩn Tướng Trần Văn
Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. (Mỹ Tho)
Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, tự tử tại nhà vì tên tuổi
Quân Đoàn II đã bị chôn theo những nấm mồ vô danh trên đường
liên tỉnh số 7 từ giữa tháng 3 năm 1975 rồi.
Ngoài ra, còn biết bao
Quân Nhân thuộc các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh
Sát, Viên Chức Hành Chánh các ngành, đã tuẫn tiết! Đó là
"Những Anh Hùng Vô Danh" rất đáng cho chúng ta trân trọng.
Vào những ngày 30 tháng
4, tôi nghĩ, mỗi chúng ta nên dành vài chục giây đồng hồ, đứng
hay ngồi ở đâu đó cũng được, cúi đầu, im lặng, để
tưởng nhớ những vị Anh Hùng của chúng ta, những người
đã cùng chúng ta cầm súng chống quân cộng sản xâm lược,
nhưng vào giờ phút kết thúc bi thảm cuộc chiến đấu của
chúng ta, những vị đó đã can trường thực hiện tròn vẹn
lời thề trước bàn thờ Tổ Quốc trong ngày tốt nghiệp
trường Võ bị: "... Quyết hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ
Quốc Dân Tộc ..."
Và theo tôi, Thiếu Tướng
Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, là người
rất xứng đáng được vinh danh "Anh Hùng Xuân Lộc" trong trận đánh
sau cùng. Thiếu Tướng Đảo, dù bản doanh kế cận thủ
đô Sài Gòn nhưng không bỏ chạy, mà trái lại, ông là vị
Tư Lệnh duy nhất trong 3 Quân Đoàn, đã chống trả mãnh liệt
và gây tổn thất nặng nề cho 2 Sư Đoàn quân cộng sản tấn
công Xuân Lộc (thuộc tỉnh Long Khánh). Và Sư Đoàn 18 Bộ
Binh chỉ rút lui khi có lệnh của Quân Đoàn III.
Một giai đoạn lịch
sử do Tổng Thống Dương Văn Minh - vị Tổng Thống có nhiệm
kỳ chỉ hơn 40 tiếng đồng hồ- vừa sang trang!
Dân Tộc Việt Nam, từ
nay dưới sự thống trị của cộng sản độc tài nghiệt
ngã!
Quê hương Việt Nam
chúng ta, dân tộc Việt Nam chúng ta, sao mà bi thảm đến
như vậy! sao mà bất hạnh đến như vậy!
Houston, tháng 3 năm 2009
Phạm Bá Hoa
(Trích trong quyển
“Đôi Dòng Ghi Nhớ” nhà xuất bản Ngày Nay ấn hành lần
4 vào tháng 7 năm 2007)
 |