Kế
Hoạch
Trợ
Giúp Đồng Môn Đồng Đội
* * *
-
Căn cứ Quyết Nghị của Hội
Đồng Đại Biểu kỳ 5 ngày 2 tháng 7 năm 2006.
-
Căn cứ Kế Hoạch Công Tác nhiệm
kỳ 2006-2008.
1. NHẬN ĐỊNH.
a. Xã hội Việt Nam.
- Mùa hè 1975, cộng sản
Việt Nam (CSVN) xua quân đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta và sử dụng chính sách độc tài cai trị toàn cõi Việt
Nam, đã đẩy xã hội xã hội chủ Việt Nam đến sát bờ
vực thẳm. Đứng trước sự sụp đổ không tránh khỏi, CSVN
theo chân đàn anh cộng sản Nga và cộng sản Trung Hoa với
chính sách “mở cửa đổi mới”. Trong chiến tranh, CSVN luôn
gọi các nước không cộng sản là bọn đế quốc, nhưng bây
giờ thì rạp mình xuống để mời gọi “đế quốc” mang
tiền và kỹ thuật vào Việt Nam cứu họ. Nhờ đó mà từng
bước, xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam được vực dậy
và phát triển một cách chậm chạp, so với các quốc gia trong
khu vực. Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Thành, tổng sản phẩm quốc
gia Việt Nam (GNP) trong 20 năm qua, tính trên căn bản 1
mỹ kim = 15.000 đồng Việt Nam, như sau:
Năm
GNP
GNP/đầu người
1995 14.860.000.000
mỹ kim. 214 mỹ kim
2000 28.190.000.000
- 387 -
2005 45.000.000.000
- 550 -
Với những con số trên đây,
GNP tính theo đầu người trong năm 1995 là 214 MK, gia tăng dần
đến năm 2005 là 550 MK, nhưng mức sống đại đa số người
dân không hề gia tăng theo tỷ lệ phát triển, mà trái lại
khoảng cách giữa giàu với nghèo quá lớn lao. Điển hình,
lợi tức thật sự tính theo đầu người của 54.000.000 (54
triệu) dân chỉ có 158 MK (trong năm 2005) mà thôi. Tình
trạng này chứng tỏ thành phần hưởng thụ trên con số sai
biệt ghê gớm đó, là những đảng viên lãnh đạo và những
đảng viên quyền thế trong bộ máy cầm quyền các cấp, đã
chiếm giữ đại đa số tài sản quốc gia trong tổng sản
phẩm hằng năm.
Nhìn theo thống kê thì
có sự phát triển, nhưng khi phân tách cho thấy sự phát triển
đó không có nền tảng vững vàng. Vì theo tài liệu, GNP (Gross
Nation Product) bao gồm = Do Việt Nam sản xuất + ngoại quốc
đầu tư và sản xuất tại Việt Nam + số tiền hằng năm
Cộng Đồng Việt Nam hải ngoại gởi về giúp thân nhân. Riêng
số tiền này trong 15 năm qua, liên tục gia tăng:
Năm 1991:
35,000,000.00 mỹ kim.
Năm 1995:
285,000,000.00 -
Năm 2000:
1,700,000,000.00 -
Năm 2005:
3,800,000,000.00 -
chỉ tính đến tháng 11/2005.
Tổng cộng từ năm 1991 đến
2005, số tiền mà bà con trong Cộng Đồng gởi về Việt Nam
giúp thân nhân lến đến 19.231.000.000,00 MK (19 tỷ 231 triệu
MK)
Như vậy, GNP năm 2005, Việt
Nam thật sự chỉ sản xuất khoảng 2/3 mà thôi.
Nhìn chung, theo tiêu chuẩn của
Liên Hiệp Quốc, thu nhập trung bình 2 MK đầu người/ngày
là mức sống tối thiểu, thì 65% dân số Việt Nam mỗi người/một
ngày chỉ thu nhập 43 xu Mỹ hay là 6.500 đồng Việt Nam. Quá
nghèo!
b. Đồng Môn Thủ Đức trong
nước.
Những con số trên đây cho
thấy đại đa số người dân trên quê hương Việt Nam có
mức sống nghèo khổ, trong đó có đồng môn Thủ Đức nói
riêng, và đồng đội Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH)
nói chung. Trong thực tế, đồng môn và đồng đội của chúng
ta, tuy có “thẻ công dân” nhưng bị đối xử như những
công dân hạng thấp nhất trong xã hội xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Có nghĩa là đời sống nghèo khổ hơn những công
dân nghèo khổ khác!
Cựu sinh viên sĩ quan trừ bị
QLVNCH, căn cứ theo số lượng theo học tại Thủ Đức, Nam
Định, Long Thành, cộng với số lượng gởi học tại Trường
Võ Bị Liên Quân Đà Lạt và Trường Đồng Đế (Nha Trang),
xấp xỉ con số 80.000 (bao gồm số sinh viên chỉ theo học
khóac căn bản quân sự). Số đồng môn hi sinh trong chiến
tranh giữ nước, số đồng môn gục ngã trong lao tù cộng
sản, số đồng môn mất tích trên đường vượt biên vượt
biển, số đồng môn tử vong vì tuổi già sức yếu sau chiến
tranh, ước lượng chung khoảng từ 20.000 đến 30.000 đồng
môn. Số còn lại trên dưới 50.000 đồng môn, ước lượng
khoảng 3/4 trong số đó sống tại hải ngoại, và khoảng 1/4
đang sống đau khổ trên quê hương Việt Nam!
c. Đồng môn Thủ Đức hải
ngoại.
Từ năm (2000) hình thành tổ
chức Tổng Hội đến nay, Liên Hội Thủ Đức Úc Châu, Liên
Hội Thủ Đức Canada, Liên Hội Thủ Đức Bắc California, và
hầu hết các Hội lẫn Chi Hội Thủ Đức tại Hoa Kỳ, Australia,
và Canada, tùy điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh, đều có
những cuộc vận động tài chánh gởi về Việt Nam trợ giúp
đồng môn và đồng đội. Đó là công tác rất đáng trân
trọng và khuyến khích.
Nay nhận thấy cần có sự
phối hợp giữa các tổ chức trong kế hoạch chung, để tránh
những trường hợp trùng lập cũng như những trường hợp
thiếu sót đối với những danh sách mà các tổ chức đang
có. Chữ “tổ chức” sử dụng ở đây để chỉ cơ cấu
Tổng Hội, Liên Hội, Hội và Chi Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan
Trừ Bị Thủ Đức, hoặc tên gọi có ý nghĩa tương đương.
2. TRÁCH NHIỆM.
Tiếp tục công tác vận động
tài chánh trợ giúp đồng môn đồng đội trong phạm vi khả
năng. Nghiên cứu kế hoạch, bổ sung, ứng dụng thích hợp
với hoàn cảnh sinh hoạt địa phương và trong hệ thống Tổng
Hội.
3. THỰC HIỆN.
a. Quan niệm thực hiện.
- “Quản trị hồ sơ
chung, trợ giúp tài chánh riêng”. Thu thập tin tức của đồng
môn đồng đội trong nước, thông báo trao đổi đến các
tổ chức trong Tổng Hội. Mỗi tổ chức tự vận động tài
chánh và chuyển về Việt Nam trợ giúp đồng môn đồng đội,
trong phạm khả năng của tổ chức và sự an toàn của đồng
môn đồng đội.
b. Trách nhiệm của HĐĐH.
- Thực hiện công tác
trợ giúp đồng môn đồng đội về phần mình.
- Nghiên cứu mở file riêng
cho công tác này. Hướng dẫn các Liên Hội, Hội, Chi Hội
cách thức cung cấp trao đổi tin tức, và ấn định ngày bắt
đầu thực hiện công tác quản trị hồ sơ chung.
- Tiếp nhận những danh sách
đồng môn đồng đội từ các Liên Hội, Hội, Chi Hội cung
cấp, thiết lập hồ sơ quản trị đồng môn đồng đội,
liên tục nhật tu hồ sơ và thông báo đến Liên Hội, Hội,
Chi Hội, để nhật tu hồ sơ về phần liên hệ.
- Tiếp nhận tin tức từ
các Liên Hội, Hội, Chi Hội, danh sách đồng môn đồng đội
đã gởi trợ giúp tài chánhh để nhật tu hồ sơ quản trị,
và thông báo đến các Liên Hội, Hội, Chi Hội, để nhật
tu hồ sơ về phần liên hệ.
- Tiếp nhận những kinh
nghiệm vận động tài chánh từ các Liên Hội, Hội, Chi Hội,
kể cả kinh nghiệm của các tổ chức bạn, nghiên cứu và
hướng dẫn các Liên Hội, Hội, Chi Hội tùy nghi ứng dụng.
- Mỗi kỳ ấn hành “bản
tin, tập san, đặc san, giai phẩm, ..v..v..”, tổng kết từ
trong hồ sơ quản trị về thu chi, phổ biến rộng rãi.
c. Trách nhiệm của Liên
Hội, Hội, Chi Hội.
- Cung cấp cho HĐĐH danh sách
đồng môn đồng đội đang sống tại Việt Nam mỗi khi nhận
được bất cứ từ nguồn cung cấp nào, để nhật tu hồ
sơ quản trị chung.
- Bằng những phương thức
riêng trong công tác vận động tài chánh, và tùy thuộc tài
chánh dẫn đến quyết định trợ giúp những đồng môn đồng
đội nào, bao nhiêu, cách gởi cách nhận, ..v..v.. Cũng xin quan
tâm đến sự an toàn của đồng môn đồng đội.
- Cung cấp cho HĐĐH danh sách
đồng môn đồng đội và số tiền đã gởi trợ giúp để
nhật tu hồ sơ quản trị chung.
- Cung cấp cho HĐĐH những kinh
nghiệm vận động tài chánh tại địa phương, để HĐĐH
nghiên cứu phổ biến đến các Liên Hội, Hội, Chi Hội, nghiên
cứu ứng dụng.
- Phần hành xã hội trong mỗi
Ban Chấp Hành, hoặc một bộ phận đặc trách công tác trợ
giúp đồng môn đồng đội, và quản trị hồ sơ.
d. Trách nhiệm chung.
- Trường hợp có thể
được, Hội Đồng Điều Hành, Liên Hội, Hội, Chi Hội, nên
thực hiện Bản Tin (hay hình thức nào tương tự) hằng tháng
hay ba tháng một lần. Phổ biến:
(1) Những sinh hoạt của tổ
chức đã thực hiện cũng như dự trù sẽ thực hiện, nhất
là công tác trợ giúp đồng môn đồng đội.
(2) Những kinh nghiệm từ trong
các sinh hoạt đó.
(3) Những quan điểm liên quan
đến thời sự nóng bỏng Việt Nam hay trong Cộng Đồng thường
gọi là “những vấn đề nhạy cảm”, và ..v..v…
4. HÀNH CHÁNH & QUẢN TRỊ.
a. Hành chánh.
- Tất cả văn thư cũng như
giấy tờ sử dụng liên quan đến hồ sơ này, phải lưu giữ
đầy đủ để chứng minh rõ ràng khi cần thiết.
b. Quản trị.
- Hội Đồng Điều Hành, Liên
Hội, Hội, Chi Hội, nghiên cứu thực hiện công tác quản
trị chung trong một trương mục, gồm tài chánh của Ban Chấp
Hành và tài chánh do vận động trợ giúp đồng môn đồng
đội, nhưng kế toán riêng biệt hai khoản tiền này để rõ
ràng trong sử dụng.
5. LIÊN LẠC PHỐI HỢP.
- Liên lạc trao đổi những
tin tức liên quan đến đồng môn đồng đội là nhu cầu thật
sự cần thiết, cũng là nhu cầu bổ túc kinh nghiệm trong công
tác vận động tài chánh và quản trị hồ sơ.
- Sử dụng các phương tiện
liên lạc thích hợp: Điện thoại, điện thư, văn thư, e-mail,
..v..v..
Houston, ngày 4 tháng 10 năm 2006
Chủ Tịch Ủy Ban Thường
Trực
Alfa Phạm Bá Hoa (khóa 5)

Nghiên cứu ứng dụng:
- HĐĐH, HĐGS.
- Các Liên Hội
- Các Hội, Chi Hội
Lưu. |