4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Vườn Hoa Văn Nghệ
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức
Tài Liệu

Tổng Hội Cựu SVSQTB/TÐ/HN
Ủy Ban Thường Trực
****
Số 17/UBTT/SLQG

Phổ biến phác thảo quan niệm
sách lược quốc gia thời hậu cộng sản

* * *

Phổ biến các kế hoạch khung

Phác thảo “Quan Niệm Sách Lược Quốc Gia” thời hậu cộng sản, trong mục đích góp phần vào công cuộc nghiên cứu khôi phục và xây dựng Việt Nam trở thành một xã hội dân chủ pháp trị theo nguyện vọng toàn dân, đã phổ biến ngày 19/3/2007 và 19/4/2007, cùng lúc đưa vào trang Web của Tổng Hội Cựu SVSQTB Thủ Đức Hải Ngoại www.tonghoithuduchaingoai.com. Trong phác thảo đó có kèm theo các phụ bản A, B, C, D, và E, thuộc các Bước Công tác 1, 2, và 3.

Những tài liệu dưới đây Ủy Ban Thường Trực đã phổ biến:          

Bước 1. Nghiên cứu “nguyện vọng người dân”. Phụ bản A. 

Bước 2. Từ nguyện vọng người dân, xây dựng một “sách lược quốc gia” với những chính sách chiến lược của từng ngành để thực hiện mục tiêu quốc gia. Các Phụ bản B, C, và D.

Bước 3. Từ chính sách căn bản từng ngành, xây dựng “những quan niệm căn bản” cho từng mục tiêu của ngành. Phụ bản E.

Bây giờ là Bước 4, có hai phần: Bước 4-1 phác thảo những “kế hoạch khung” hướng dẫn cho Bước 4-2 chuẩn bị phác thảo những “kế hoạch thực hiện”.  

Trong Bước này, Ủy Ban Thường Trực cố gắng mỗi tháng phổ biến một “Kế Hoạch Khung” để “cá nhân” hay “nhóm tham mưu” Bước 4.2. nghiên cứu phác thảo “Kế Hoạch Thực Hiện” cho từng mục tiêu. Từ “kế hoạch khung” soạn thảo một hoặc nhiều “kế hoạch thực hiện tùy theo nhiệm vụ của từng Bộ. Dự trù như vậy nhưng mới xong bốn “kế hoạch khung” thì tôi -Alpha Phạm Bá Hoa- bệnh phải vào bệnh viện nên gián đoạn từ tháng 8/2007 đến tháng 1/2008 mới tiếp tục. Trong hai tháng đầu tiên của năm 2008, phải nhật tu lại các tài liệu theo diễn biến thời sự và cuối tháng 2 vừa qua (2008) phổ biến “kế hoạch khung” tổ chức Cảnh Sát, sau đó là “kế hoạch khung” tổ chức hoàn trả tài sản do CSVN tịch thu dưới mọi hình thức cho sở hữu chủ.

Lịch công tác dự trù cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 2007, Ủy Ban Thường Trực sẽ tham khảo quí Apha, Đồng Đội, quí vị Nhân Sĩ, và tuổi trẻ Hậu Duệ đại gia đình Thủ Đức, tiến đến hình thành “Ban Tham Mưu Phối Hợp” và các “Nhóm Tham Mưu”, từ đó có điều kiện đẩy mạnh công tác nghiên cứu tham mưu này. Cũng không thực hiện được vì lý do nêu trên.    

Rất mong sẽ được quí Đồng Môn, quí Đồng Đội, quí vị Nhân Sĩ, tuổi trẻ Hậu Duệ trong và ngoài đại gia đình Thủ Đức tham gia góp ý các văn kiện trong công tác tham mưu Bước 1, 2, 3, và nhất là tham gia Bước 4-2 trong công tác nghiên cứu soạn thảo những kế hoạch thực hiện. Đây là công tác cuối cùng của tiến trình công tác nghiên cứu tham mưu trước khi sang Bước 5 lưu giữ và nhật tu từng thời kỳ tùy các dữ kiện của từng kế hoạch thay đổi nhiều hay ít.     

Houston, ngày 3 tháng 7 năm 2007
Nhật tu ngày 28 tháng 10 năm 2008 
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực
 
Alpha Phạm Bá Hoa (khóa 5)


Kế hoạch khung phác thảo tổ chức Quân Đội

Giả định rằng, ngay sau khi chế độ độc tài sụp đổ, một chánh phủ lâm thời được thành lập đã ra tuyên cáo trước đồng bào và thế giới “Việt Nam theo chế độ Cộng Hòa, thực hiện dân chủ tự do và tôn trọng các quyền căn bản của toàn dân”. Chánh phủ tôn trọng quốc kỳ, quốc ca, và quốc huy Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 4/1975 về trước, trong khi chờ đợi Quốc Hội dân cử quyết định. Chánh phủ hội họp liên tục để giao trách nhiệm cho các Bộ gấp rút thực hiện những vấn đề cấp thiết. Theo đó, một trong những kế hoạch mà Bộ quốc phòng phải ban hành trong thời gian sớm nhất là thành lập quân đội. Sắc lệnh giải thể quân đội nhân dân của CSVN, đồng thời với thành lập quân đội quốc gia, sẳn sàng công bố cùng lúc với kế hoạch thành lập quân đội quốc gia, và những qui định về cấp hiệu, huy hiệu, huy chương, quân kỳ. 

Đây là bản phác thảo “kế hoạch khung” cung cấp cho nhóm nghiên cứu soạn thảo “kế hoạch tổ chức quân đội” với quan niệm "giải thể quân đội nhân dân đồng thời với thành lập quân đội quốc gia" để liên tục trách nhiệm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ mà trước mắt là biên giới và hải đảo, đặc biệt quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. 

Cũng giả định rằng, Bộ quốc phòng chỉ thị nhóm nghiên cứu soạn thảo kế hoạch những nét chính sau đây: (1) Tổ chức một quân đội với quân số trên dưới 700.000 người (khoảng 0.8% dân số) và khoảng 100.000 nhân viên dân sự (15% quân đội). (2) Bộ quốc phòng trách nhiệm chiến lược. (3) Các quân chủng Hải Lục Không Quân trách nhiệm chiến thuật. (4) Trường Cao Đẳng Quốc Phòng trách nhiệm nghiên cứu chiến lược, đào tạo cán bộ lãnh đạo chỉ huy đại đơn vị, và góp phần đào tạo cấp lãnh đạo trong các ngành sinh hoạt quốc gia. (5) Trường Sĩ Quan hiện dịch trách nhiệm góp phần nghiên cứu chiến thuật, và đào tạo sĩ quan hiện dịch với trình độ đại học. (6) Trường Sĩ Quan trừ bị trách nhiệm góp phần nghiên cứu chiến thuật, và đào tạo sĩ quan trừ bị.       

1. TÌNH HÌNH. 

a. Địch.

(1) Trung Hoa cộng sản. 

Ngày 4/9/1958, Trung Hoa cộng sản (THCS) tuyên bố vùng lãnh hải phía Nam là của họ. Họ đã phổ biến bản đồ và đưa bản đồ đó vào chương trình giáo dục. Theo đó, nước Trung Hoa bao gồm phần lãnh thổ rộng lớn hiện tại và lãnh hải của nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam chúng ta. Ngày 14/9/1958, ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Việt Nam cộng sản VNCS), gởi văn kiện công nhận bản tuyên  bố của THCS, trong khi chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa phản kháng với đồng bào và thế giới. Tuy nhiên, trên phương diện bang giao quốc tế, văn kiện đó không giá trị. 

Tháng 1/1974, bất thình lình Hải Quân THCS tấn công Hải Quân VNCH phòng thủ quần đảo Hoàng Sa. Sau cùng, VNCH thất thủ vì lực lượng của THCS quá mạnh. 

Tháng 4/1975, CSVN xâm chiếm VNCH và cai trị toàn cõi Việt Nam với tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sau 20 năm gây chiến.. 

Sang thập niên 80 với chính sách "tằm ăn dâu", mỗi lần Trung Hoa cộng sản (THCS) chiếm xong một đảo trong quần đảo Trường Sa, họ tuyên bố giải quyết bằng thương lượng hòa bình nhưng kéo dài không bao giờ kết thúc. Lần lượt 8 đảo trong quần đảo này vào tay THCS. 

Ngày 30/12/1999, VNCS ký Hiệp Ước bán 789 cây số vuông dọc biên giới Việt-Trung để trừ nợ mua vũ khí đạn dược trong chiến tranh xâm lăng VNCH 1955-1975. Ngày 25/12/2000, VNCS lại ký Hiệp Ứớc bán 11.362 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt cho THCS với giá 2.000.000.000 mỹ kim dưới hình thức đầu tư, để được THCS hỗ trợ trên ngôi vị lãnh đạo đất nước. Với những hành động đó, chứng tỏ lãnh đạo VNCS ở thế chư hầu của THCS, chẳng khác vua quan Việt Nam triều cống vua quan Trung Hoa để giữ ngôi vị từ hằng ngàn năm trước. 

Vậy, THCS luôn luôn là một quốc gia thù nghịch với mức độ nguy hiểm cao, vì từ những triều đại phong kiến xa xưa đến nay, họ vẫn thực hiện chính sách lấn chiếm nước ta khi họ thấy thuận lợi.                 

(2) Các quốc gia lân bang. 

Từ giữa thập niên 70 về trước, hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa và quân đội chúng ta chúng ta trấn giữ. Có vài đảo nhỏ, do quân đội Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và quân đội Phi Luật Tân chiếm đóng. Sang thập niên 80, khi những thông tin loan truyền về tiềm năng dầu hỏa dưới lòng biển Trường Sa thì Malaysia và Bruney cũng tuyên bố giành chủ quyền nơi đây. Đây là các quốc gia cũng giành chủ quyền Trường Sa, nhưng không mang tính chất thù nghịch Việt Nam như THCS. Do đó, các quốc gia này mức độ nguy hiểm thấp.   

(3) Riêng Cam Bốt và Lào. 

Trước đây, hai quốc gia này bị VNCS với tính cách nước đàn anh ép buộc vấn đề biên giới. Vì vậy, rất có thể họ sẽ lợi dụng thời gian chuyển tiếp chế độ chính trị của ta mà đặt lại vấn đề kể cả vùng đồng bằng Cửu Long, thậm chí họ có thể tự giải quyết bằng quân sự trong phạm vi nhỏ.    

(4) Ngay trong nước. 

Một số tổ chức hoặc đơn vị lẻ tẻ của cộng sản chống đối chánh phủ mới, tuy chúng không có khả năng lật ngược tình hình nhưng cũng gây khó khăn trong một thời gian đáng kể. 

b. Bạn.

Chúng ta chưa có những quân đội bạn đúng nghĩa, nhưng công cuộc tái lập chế độ dân chủ tự do tại Việt Nam, tự nó có sức thuyết phục các quốc gia (và quân đội của họ) trên thế giới -nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á- nhanh chóng trở thành đồng minh của chúng ta. Từ đó, dẫn đến những viện trợ cần thiết cho Việt Nam. Trường hợp này, chánh phủ mới cần tránh lệ thuộc hoàn toàn vào một quốc gia để không rơi vào tình trạng thụ động đối với những vấn đề quốc tế. Đây là vấn đề khả năng và bản lãnh lãnh đạo của chánh phủ lâm thời trong mục đích xây dựng nền nếp ngoại giao căn bản cho những vị lãnh đạo kế tiếp.      

c. Quân đội cộng sản cũ.

Quân đội cộng sản cũ mà họ gọi là quân đội nhân dân, gồm Hải Lục Không quân, ước độ trên dưới 1.000.000 quân. Cấp bộ đơn vị cao nhất là Quân Đoàn. Trong lục quân có một phần đáng kể là quân địa phương. Một quân đội có quân số đứng hàng thứ tư hay thứ năm trên thế giới. Ngoài ra còn có một tổ chức võ trang từ nông thôn đến thành thị, dưới tên gọi "Lực Lượng Dân Quân" khoảng 1.500.000 người nam lẫn nữ (tài liệu từ Viện nghiên cứu quốc phòng Anh năm 1990). Tổ chức, huấn luyện, và trang bị của quân đội, rập khuôn quân đội cộng sản Nga và Trung Hoa. Nguồn tiếp liệu quân sự từ sau khi cộng sản Nga sụp đổ (đầu thập niên 90), hoàn toàn bị cắt đứt. Chỉ còn khả năng tiếp liệu mong manh từ quân đội THCS, nhưng với những điều kiện khắc khe như là trừng phạt sự phản bội của VNCS khi chấp nhận lệ thuộc cộng sản Nga hồi năm 1978. 

Sau khi bang giao với Hoa Kỳ, lần lượt có những phái đoàn quân sự của VNCS sang thăm quân đội Hoa Kỳ, rất có thể họ tìm mua phụ tùng thay thế trong số dụng cụ chiến tranh chiếm được của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Không loại trừ giả thuyết VNCS tối tân hóa quân dụng mua từ Hoa Kỳ (tài liệu Viện Nghiên Cứu Chính Sách của Hoa Kỳ, tháng 4/2001).

Khối lượng nhân lực rất lớn, nhưng theo tài liệu do Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Anh quốc năm 1990, trình độ huấn luyện chiến thuật cũng như kỹ thuật không quá mức trung bình. Sở dĩ mấy chục năm qua, quân đội của họ xông pha chiến trường mà có lúc báo chí ngoại quốc ca ngợi họ là quân đội tinh nhuệ, nhưng thật ra cái gọi là "tinh thần chiến đấu cao" của họ chỉ là sự chỉ huy sắt máu với chiến thuật biển người, đồng thời với sự lừa dối của những viên chính ủy tạo cho người lính tin rằng "họ thật sự chiến đấu vì tổ quốc vì dân tộc". Trong khi những viên chính ủy thì tin tưởng một cách ngu muội vào nhóm lãnh đạo chính trị mà họ tôn vinh là "đỉnh cao trí tuệ của đảng", đến mức cột chân người lính vào chiến xa, vào khẩu đại bác, để thực hiện tham vọng bá chủ hoàn cầu của cộng sản quốc tế chớ không phải cho người dân Việt Nam. 

Tình trạng đời sống vật chất rất thiếu. Dạo cuối năm 1990, trên tờ Tuổi Trẻ có bài phỏng vấn con của Lê đức Thọ, theo đó trong quân đội nhất là các đơn vị trú phòng dọc biên giới Việt Nam-Trung Cộng, đã thiếu ăn thiếu mặc đến mức dẫn đến sự kiện, nếu mỗi người lính hứa sẽ mang về đơn vị chút ít lương thực thực phẩm thì được cấp phép thăm gia đình. Về tinh thần cũng sa sút tồi tệ. Tờ nhật báo Quân Đội Nhân Dân đầu năm 1991, đăng loạt bài về các sự kiện cụ thể để xin cấp thẩm quyền nghiên cứu chấn chỉnh kịp thời. Theo đó, tinh thần người lính ngày nay không còn tinh thần của người lính "khi chiến thắng miền Nam" nữa, vì ngày nay họ nhìn về hậu phương toàn là tham ô nhũng lạm, làm giàu trên cảnh khốn cùn của nhân dân, trong khi chính bản thân họ ở chiến trường ăn không đủ no mặc không đủ ấm. Tình trạng ấy đến nay (2008), vẫn không có cải tiến nào đáng kể nếu không nói là tệ hơn. Đó là hình ảnh đại đa số những sĩ quan trung cấp trở xuống người lính, trong khi những sĩ quan cao cấp với chức vụ đầy quyền lực thì quá giàu sang, tạo nên sự ngăn cách tự nhiên giữa những đồng đội của họ. 

Thêm nữa, sự kiện quân đội Rumani và Nga Sô góp phần quan trọng vào biến cố lật đổ chế độ cộng sản độc tài tại nước họ, đã ảnh hưởng không nhỏ vào sự suy nghĩ của người lính CSVN. Cộng với một lực lượng quân đội làm kinh tế, trong một chừng mực nào đó đã làm biến dạng hình ảnh người lính về tổ chức, chỉ huy, và chiến đấu. Vì vậy, cho dù các cấp lãnh đạo quân đội nhân dân vẫn bảo thủ cực đoan, cũng không dễ dàng điều khiễn quân đội của họ trong chiến tranh sắp tới (nếu có) như họ đã từng điều khiễn trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.     

Kết hợp những sự kiện đó lại, cho phép đánh giá quân đội cộng sản cũ mà chúng ta phải sử dụng làm khung tổ chức quân đội, quân đông, trang bị cũ, tinh thần sút kém so với thời chiến tranh 1946-1975. Nhưng cần hiểu biết thêm về cấp chỉ huy của họ để loại trừ khỏi hàng ngũ ngay từ đầu những sĩ quan trung thành mù quáng với cộng sản.        

Về lãnh thổ quân sự. Quân đội cộng sản tổ chức thành 8 Quân khu. Quân khu 1-2-3- ở đông bắc, tây bắc, và đông nam Hà Nội. Quân khu 4 vùng Thanh Hóa Nghệ Tỉnh. Quân khu 5 và 6 dọc duyên hải miền Trung và Tây nguyên. Quân khu 7 miền đông Sài Gòn. Và Quân khu 8 là đồng bằng sông Cửu Long.   

d. Khả năng quân sự của ta.

Không có lực lượng quân sự, nhưng chúng ta có một khối lượng đáng kể cán bộ các cấp có kiến thức quân sự với một tinh thần trách nhiệm trong tình hình mới. Sau lời kêu gọi của chánh phủ, quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước kia, trong nước cũng như hải ngoại, sẽ trình diện đông đảo. Sẽ được sử dụng sau khi gạn lọc về tuổi tác, sức khỏe, gạn lọc về tình trạng rời bỏ đơn vị từ cuối ngày 29.4.1975 về trước đối với Tư Lệnh đại đơn vị hoặc tương đương trở lên.  

e. Khả năng viện trợ quân sự của bạn.  

Bước đầu, khó lòng có được quân viện đầy đủ cho một quân đội dù là giới hạn, trong khi ta cần tổ chức cấp thời để liên tục bảo vệ biên giới, bảo vệ hải đảo, nên thời gian không đủ cho thủ tục viện trợ quốc tế. Với lại quân viện là vấn đề cần thảo luận ở cấp quốc gia một cách thận trọng, qua nhiều góc cạnh khác nhau. Do đó, trước mắt phải chọn lọc và tái sử dụng dụng cụ chiến tranh hiện có trong quân đội cộng sản cũ, gồm cả vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất và vũ khí do khối cộng sản cũ sản xuất. Biết rằng, trang bị như vậy sẽ rất khó khăn về quản trị, huấn luyện, tiếp liệu, và nhất là cơ phận sửa chữa.  

f. Tin tức cần sưu tầm.

Những tin tức về "quân đội cộng sản" Việt Nam cần được sưu tầm, để nhóm trách nhiệm có những thông tin mới nhất trong  nghiên cứu soạn thảo kế hoạch tổ chức quân đội sát với thực trạng, như: (1) Tổng số quân số? (2) Bao nhiêu bộ tư lệnh quân đoàn? (3) Bao nhiêu sư đoàn bộ binh? Trong số này có bao nhiêu sư đoàn trực thuộc quân đoàn? Quân số mỗi sư đoàn? (4) Hệ thống tổ chức pháo binh? Đơn vị lớn nhất của pháo binh là cấp nào? Bao nhiêu? (Sư đoàn, Trung đoàn, ....) Tổng số bao nhiêu đại bác? Số lượng và cở nòng? Năm sản xuất? 5) Tổ chức Thiết giáp? Có bao nhiêu chiến xa? Loại nào? (6) Tổ chức Công binh?(7) Không tính những đơn vị binh chủng trong tổ chức quân đoàn, sư đoàn bộ binh. Các binh chủng biệt động, biên phòng, pháo binh, thiết giáp, truyền tin, công binh, quân y, ..v..v.. tổ chức ra sao?(8) Phối trí các Quân khu, Quân đoàn, Sư đoàn trong tổ chức Quân đoàn? Phối trí các đơn vị (biệt lập) không thuộc Quân đoàn? (9) Quân chủng Hải Quân. Hệ thống tổ chức? Phối trí bộ tư lệnh và các đơn vị? Bao nhiêu chiến hạm? Bao nhiêu chiến đỉnh? (10) Quân chủng Không Quân.  Hệ thống tổ chức? Phối trí bộ tư lệnh và các đơn vị? Tổng số phi cơ? Trong số đó có bao nhiêu phi cơ oanh tạc, khu trục, quan sát, trực thăng? (11) Hệ thống các trường quân sự? Chức năng của mỗi trường? Phối trí của các trường đó? Một bản ghi từng cấp bậc trong quân đội? Thí dụ: Binh nhì, Binh nhất, Hạ sĩ, Hạ sĩ nhất, ..v..v.. đến Thượng Tướng, Đại Tướng. (12) Danh sách chỉ huy từ cấp Trung đoàn trở lên, ghi nhận là trung thành với chế độ độc tài bảo thủ, chống lại mọi chuyển đổi sang chế độ dân chủ tự do. (13) Lương trung bình của một hạ sĩ quan? Một sĩ quan cấp úy? Một cấp tá? Một cấp tướng? (14) Ngân sách quốc phòng hằng năm?   

2. NHIỆM VỤ.

Tổ chức một quân đội trên căn bản giải thể quân đội cộng sản cũ, thích ứng với khả năng quốc gia trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải. Đồng thời, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng chế độ dân chủ tự do thật sự và sinh hoạt kinh tế thị trường trong tinh thần dân tộc cấp tiến.

3. THỰC HIỆN.

a. Quan niệm thực hiện.

(1) Quan niệm trách nhiệm chiến lược chiến thuật. 

Bộ Quốc Phòng: Trách nhiệm chiến lược, và yểm trợ liên quân.         

Các quân chủng: Trách nhiệm chiến thuật, và yểm trợ quân chủng.

Trường Cao Đẳng Quốc Phòng: Trách nhiệm nghiên cứu chiến lược. Đào tạo cấp lãnh đạo chỉ huy đại đơn vị, và góp phần đào tạo cấp lãnh đạo trong các ngành sinh hoạt quốc gia.

Trường Sĩ Quan hiện dịch: Trách nhiệm đào tạo sĩ quan chuyên nghiệp với trình độ đại học, và góp phần nghiên cứu chiến thuật.

Trường Sĩ Quan trừ bị: Trách nhiệm đào tạo sĩ quan phục vụ có thời hạn, và góp phần nghiên cứu chiến thuật.

(2)  Quan niệm tổ chức. 

Quân đội, gồm Hải Quân Không Quân và Lục Quân. Trong Lục quân có quân chính qui và quân địa phương. Các đại đơn vị quân chính qui lưu động 100% và quân địa phương hoạt động trong phạm vi lãnh thổ. 

Lãnh thổ, gồm các Tiểu Khu, các Biệt Khu, các Quân Khu.

(3) Quan niệm  nhân sự.

Tái sử dụng quân nhân và công chức quốc phòng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong nước và hải ngoại trở về, nếu chưa quá tuổi phục vụ và có sức khỏe.

Tái sử dụng quân nhân và nhân viên dân sự của quân đội cộng sản cũ, nếu chưa quá tuổi phục vụ, có sức khỏe, và nhất là khả năng thích phải ứng với nhu cầu.

Đồng hóa hoặc tuyển mộ theo khế ước các chuyên viên cho nhu cầu, nếu cần.  

(4) Quan niệm trang bị.

Chọn lọc và sử dụng lại dụng cụ chiến tranh hiện có, càng ít chủng loại càng ít khó khăn trong công tác quản trị.

b. Thực hiện.

Sau khi thành lập chánh phủ, Bộ Quốc Phòng tạm thời giữ nguyên tổ chức quân đội cộng sản cũ trong khi hoàn chỉnh tổ chức cơ cấu của Bộ để thực hiện kế hoạch tổ chức quân đội trên căn bản giải thể quân đội cộng sản cũ. Chọn lựa trong số Tướng lãnh và những sĩ quan cao cấp (của quân đội cộng sản cũ) ủng hộ chánh phủ mới, thay thế những Tư Lệnh đại đơn vị (Trung đoàn biệt lập, Sư đoàn, Quân đoàn, Quân khu hoặc tương đương) nhất là các đại đơn vị bảo vệ biên giới, hải đảo, hoặc đồn trú tại các thành phố quan trọng, đã chống đối hoặc có thái độ chống đối chánh phủ. Bước đầu, cần thận trọng việc bổ nhiệm các cựu Tướng lãnh và sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa vào các chức vụ tư lệnh đại đơn vị, vì cần thu phục những vị đương nhiệm trong nhiệm vụ an ninh nội bộ và bảo vệ biên giới hải đảo.        

Khi nắm vững sự ủng hộ của các quân chủng và đại đơn vị, bắt đầu tiến hành tổ chức toàn quân chủng Hải quân, Không quân, toàn ngành tiếp vận, và ngành nhân viên (về động viên và tuyển mộ).   

Ngành nhân viên. Sàng lọc, tái sử dụng, hưu trí, giải ngũ, gọi tái ngũ cựu quân nhân và công chức quốc phòng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, động viên và tuyển mộ theo nhu cầu. 

Tiếp Vận (liên quân). Kiểm kê tổng quát toàn bộ quân dụng trong quân đội cộng sản cũ, trong công an cảnh sát, và trong các lực lượng bán quân sự. Kế hoạch tái trang bị toàn bộ quân đội và yểm trợ Bộ Nội Vụ tái trang bị lực lượng cảnh sát. Quan niệm, chọn lọc quân dụng càng ít chủng loại càng ít trở ngại trong công tác quản trị. Nên sử dụng quân dụng do Hoa Kỳ sản xuất để có nguồn thực hiện tiếp liệu bảo trì về sau.       

Tiến hành tổ chức toàn quân chủng Lục quân và hệ thống quân trường.    

c. Huấn thị chung. 

Trong khi thực hiện tổ chức, các Bộ Tư Lệnh quân chủng phải thực hiện trước để có khả năng điều khiễn tổ chức quân chủng. Các đơn vị (của quân chủng) đang trách nhiệm bảo vệ biên giới hải đảo và cơ sở trọng yếu, phải được thực hiện sau cùng để có lực lượng khác thay thế trách nhiệm.

Vừa tổ chức vừa trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ lãnh hải. 

Các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp trước khi đến nhận chức tại các đơn vị, phải dự một lớp học cấp tốc với nội dung củng cố và phát huy phương châm: "Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm" trong tình hình mới.

Ngoại trừ nhóm đảng viên cộng sản trong Bộ Chính Trị tất cả các nhiệm kỳ, những đảng viên cộng sản khác, tuy là người Việt Nam trước kia là thù địch, từ nay cùng với dân tộc chung sức chung lòng xây phục vụ nguyện vọng người dân, dựng quê hương phú cường xã hội thịnh vượng.     

Tất cả quân nhân các cấp, bình đẳng nhau về tư cách phục vụ tổ quốc và dân tộc. Cấm kỳ thị nguồn gốc quân đội (quân đội cộng sản cũ hay quân lực Việt Nam Cộng Hòa), nguồn gốc quê quán (Nam, Trung, Bắc), hay nguồn gốc sinh sống (trong nước hay hải ngoại).       

Các "bảng cấp số" của tất cả các cơ quan đơn vị, do các quân chủng soạn thảo. Phần liên quân, do Bộ soạn thảo. Tài liệu này có khả năng giúp tiết kiệm nhân lực, tiết kiệm trang bị, và tiết kiệm thời gian tổ chức.

4. NHÂN VIÊN & TIẾP VẬN (cấp liên quân).

a. Hành chánh nhân viên.

Tổ chức cơ quan điện toán nhân viên, với những chương trình quản trị nhân viên tại ngũ, thương bệnh binh, bất khiển dụng tạm thời, ..v..v… 

Ấn loát những mẫu in với nội dung có khả năng giúp xác định các quân nhân quân lực VNCH và công chức quốc phòng tính đến đầu năm 1975.

Thông cáo gọi tất cả quân nhân và công chức quốc phòng chưa đến 65 tuổi và không bệnh tật, để được tái sử dụng nếu đồng ý.

Tuyển mộ cấp thời công chức quốc phòng để phục vụ trong công tác có tính cách hành chánh tài chánh, hành chánh nhân viên, hành chánh tiếp vận, gồm cả chuyên viên làm việc trong các cơ xưởng công xưởng.

"Qui chế quân nhân" sẽ góp phần ổn định tâm lý quân nhân, góp phần gia tăng hiệu năng phục vụ.  

b. Hành chánh tiếp vận.

Tổ chức cơ quan điện toán tiếp vận, với những chương trình quản trị quân số của ngành, quản trị quân trang, quân dụng về tiếp liệu bảo toàn kể cả tân trang, nghĩa trang, doanh trại, dinh thự (quân đội sử dụng), ..v..v...     

Tổ chức hệ thống tiếp vận; Từ thực hiện (tân trang, mua, sản xuất, ...) tồn trữ, đến vận chuyển, cấp phát sử dụng, bảo trì, phế thải và thu hồi phế thải đưa vào tái sử dụng. 

Hoạch định phương thức quản trị quân trang quân dụng và cơ sở. 

Soạn thảo và ấn loát những "huấn thị căn bản" thi hành phương thức quản trị tiếp vận, và những mẫu in sử dụng trong điều hành. 

Tu bổ, biến cải, và kế hoạch xây dựng mới (nếu cần), các cơ xưởng công xưởng cho nhu cầu tân trang và sản xuất quân trang quân dụng.  

Tu bổ, biến cải, và kế hoạch xây dựng mới (nếu cần), các cảng sông cảng biển, tạo thành hệ thống quân cảng dọc duyên hải và trên các sông rạch có cơ sở tiếp vận quan trọng.

Tu bổ, biến cải, và kế hoạch xây dựng mới (nếu cần), các kho tồn trữ chiến lược lẫn chiến thuật.

Tu bổ, biến cải, và kế hoạch xây dựng mới, các quân y viện.

Tu bổ các quân trường trong một hệ thống huấn luyện từ người chiến binh đến cấp chỉ huy đại đơn vị.

Thực hiện công tác phân loại quân dụng, tái sử dụng, thu hồi, vận chuyển, tồn trữ hoặc phế thải, bảo trì và đưa trở lại hệ thống tiếp liệu. 

5. TRÁCH NHIỆM & PHỐI HỢP.

a. Phối hợp.

Phối hợp thường xuyên giữa các cấp liên hệ là điều cần thiết, nên áp dụng hình thức “họp tham mưu” để thảo luận vấn đề đến rốt ráo, sau đó mới cần đến những buổi họp cấp thẩm quyền quyết định.

Cấp liên quân nên qui định họp thường kỳ, để giải quyết những vấn đề quan trọng mà những buổi họp tham mưu không có thẩm quyền. 

b. Trách nhiệm.

Bộ quốc phòng. Kế hoạch và điều khiễn tổ chức các cơ quan liên quân. Thành lập một cơ quan theo dõi, đôn đốc, giải quyết các trở ngại trong khi tổ chức quân đội.

Bộ tư lệnh quân chủng. Soạn thảo kế hoạch và điều khiễn tổ chức quân chủng.

Hiện nay chưa hình thành “Ban Tham Mưu Phối Hợp”, Ủy Ban Thường Trực Tổng Hội tạm thời trách nhiệm phối hợp công tác.

Trong công tác nghiên cứu tham mưu này, không có vấn đề chỉ huy mà chỉ có liên lạc phối hợp, bởi Tổng Hội chỉ là một tổ chức vừa ái hữu vừa thể hiện ý thức chính trị của những Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại, muốn được đóng góp “quan niệm một sách lược quốc gia” bằng công trình nghiên cứu tham mưu với quí vị lãnh đạo lâm thời trong thời kỳ chuyến tiếp từ chế độ cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, góp phần xây dựng quê hương Việt Nam phát triển, mọi người được sống trong một xã hội dân chủ pháp trị với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân. Còn quí vị lãnh đạo lâm thời sử dụng như thế nào tùy quí vị ấy, nhưng ít ra nỗi đau chưa tròn nhiệm vụ của mỗi Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại cũng vơi nhẹ đôi phần. 

Houston, ngày 3 tháng 7 năm 2007 
Nhật tu ngày 20 tháng 10 năm 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực
 
Alpha Phạm Bá Hoa (khóa 5)


Kế hoạch khung phác thảo tổ chức Hành Chánh


Đây là bản “phác thảo khung” của Kế Hoạch Tổ Chức  Hành Chánh, giúp nghiên cứu soạn thảo kế hoạch thực hiện.  

Giả định rằng, ngay sau khi chế độc độc tài sụp đổ, một chánh phủ lâm thời được thành lập, đã ra tuyên cáo trước đồng bào và thế giới “Việt Nam theo chế độ dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền”. Quốc kỳ, quốc ca, và quốc huy tạm thời, đã được chánh phủ ban hành. Chánh phủ hội họp liên tục để giao trách nhiệm cho các Bộ gấp rút thực hiện những vấn đề cấp thiết. Theo đó, kế hoạch mà Bộ Nội Vụ phải ban hành trong thời gian sớm nhất là thành lập hệ thống hành chánh, trên căn bản giải thể bộ máy hành chánh của chế độ sụp đổ, để liên tục trách nhiệm quản trị hệ thống hành chánh và những vấn đề cấp thiết liên quan.      

Cũng giả định rằng, chánh phủ đã thiết lập xong chức vụ "Đại Biểu Chánh Phủ" tại miền Bắc (Hà Nội), miền Trung (Đà Nẳng), Cao nguyên miền Trung (Ban Mê Thuột), và đồng bằng Cửu Long (Cần Thơ).

1. NHẬN ĐỊNH.

a. Hành chánh cộng sản.

Bộ máy quốc gia do đảng cộng sản lãnh đạo và bộ máy hành chánh điều hành. Trong hệ thống tổ chức của cộng sản Việt Nam (CSVN) không bị giám sát bởi bất cứ cơ quan nào, điều này dẫn đến tình trạng quan liêu tham nhũng không giới hạn. Thêm nữa, với tổ chức cồng kềnh phân quyền chồng chéo dẫn đến “sáng kiến” hông minh bạch, càng góp thêm điều kiện đẩy tình trạng tham nhũng đến mức trở thành “tập quán bình thường” trong đời sống xã hội ngày nay.

Bộ máy cồng kềnh, vì tất cả mọi sinh hoạt quốc gia đều tập trung vào tay nhà nước, do vậy mà trong hệ thống tổ chức của mỗi địa phương, ngoài các ty trong tổ chức của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh hay thành phố, còn có các ty sở: nội thương, ngoại thương, quan thuế, thuế vụ, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải, vệ sinh, y tế, giáo dục, văn hoá xã hội, thông tin tuyên truyền, thể thao, xây dựng, nhà đất, thương binh, lao động, điện nước, ánh sáng thành phố, ..v..v.., để quản trị trực tiếp hằng trăm công ty xí nghiệp quốc doanh.

Quản trị kém cõi, vì họ không đào tạo những viên chức chuyên nghiệp, bởi mục tiêu chính của họ không phải nền hành chánh hoàn chỉnh mà là những viên chức trung thành với chế độ. Cộng thêm khả năng kém khuyết với "nguyên tắc tùy tiện" được áp dụng ở mọi cấp, cho nên xảy ra tình trạng hỗn độn trong thủ tục giấy tờ mà người dân phải gánh chịu mọi phiền hà sách nhiểu từ phía nhân viên nhà nước. Cùng một việc, mà cơ quan của quận này ấn định những thứ giấy tờ đơn giản hơn cơ quan của quận bên cạnh. Nhóm lãnh đạo cộng sản thường khoác lác "cán bộ là đầy tớ của dân", nhưng thực tế cuộc sống trong nửa thế kỷ qua dưới chế độ cộng sản độc tài, cán bộ cộng sản là một loại cha mẹ của dân, thậm chí còn hơn thế nữa. Nói cho tận cùng dù chối tai, nhưng quả thật thời thực dân Pháp cai trị, người dân bị đối xử khắc nghiệt, xem ra còn khá hơn cán bộ của nhóm "đỉnh cao trí tuệ" cộng sản Việt Nam (CSVN) đối xử với người dân dưới quyền cai trị của họ.    

Năm 1989, phóng viên tuần báo Tuổi Trẻ của cộng sản tại Sài Gòn công tác ở Tiệp Khắc, khi trở về có tường thuật trên  báo. Theo đó, khi được phóng viên bản xứ hỏi:

“Việt Nam của bạn đào tạo viên chức như thế nào?  

“Chúng tôi vừa học vừa làm nên không tốn thời gian”.                 

”Ở xứ tôi (Tiệp Khắc), viên chức nào cũng có bằng cấp mà chưa đến đâu, vừa học vừa làm như Việt Nam thì còn lâu lắm mới nói đến phát triển”.    

Bây giờ là năm 2008, số viên chức hàng lãnh đạo may mắn lắm mới bằng cấp thật dù là bằng cấp thật trong nước, còn đa số là loại “bằng cấp nâng đỡ, bằng cấp giả” đến mức có người gọi là “bằng cấp cầu Ông Lãnh”. Ý nói loại bằng cấp chỉ ngang bằng các anh các chị bán hàng ở chợ Cầu ông Lãnh.  

Các địa phương đến Phường Xã đều tự trị ngân sách. Ngoài phần tự túc mọi nhu cầu tài chánh cho bản thân địa phương, còn phải nộp lên cho ngân sách cơ quan cấp trên trực tiếp qui định. Và muốn được cân bằng ngân sách, mỗi địa phương có quyền thiết lập các sắc thuế, và làm bất cứ việc gì -kể cả buôn lậu- để thu được nhiều tiền cho ngân sách và cho tài sản riêng. Năm 1990, quan thuế Sài Gòn bắt được vụ buôn lậu thanh toán bằng vàng và đô la Mỹ ở ngoài khơi Rạch Giá, báo Tuổi Trẻ và báo Công An đăng rùm beng. Nhóm buôn lậu này của cơ quan tỉnh ủy Rạch Giá chủ trương. Cuối cùng, tỉnh ủy Rạch Giá trả lời với báo Tuổi Trẻ rằng, nếu không buôn lậu, chúng tôi không có tiền cho ngân sách trả lương cho công nhân viên chức và nộp cho cơ quan cấp trên. Thế là mọi việc trở nên yên ắng như chưa bao giờ có chuyện ấy xảy ra. Tình trạng đó đến nay (2008) vẫn không có gì khác.

Tổ chức và điều hành hành chánh của họ, xây dựng trên quan niệm độc quyền lãnh đạo với nền kinh tế chỉ huy, cho dẫu họ chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, vì vậy mà cán bộ viên chức của họ không được đào tạo một khả năng thích ứng với kinh tế thị trường trong một xã hội dân chủ pháp trị. Nhưng trong cái cồng kềnh đó, có rất nhiều tài sản quốc gia, dĩ nhiên là khối tài sản đó rất ngổn ngang và hỗn tạp mà ngay các cấp lãnh đạo của họ cũng chưa biết chính xác là họ có những gì, bao nhiêu, và ở đâu nữa, bởi phương thức quản trị không hiệu năng. 

Từ sau khi Hoa Kỳ tuyên bố thiết lập bang giao (1995), chánh phủ cộng sản Việt Nam dần dần đưa thanh niên và viên chức sang các nước phương Tây học hỏi phương thức quản trị mới, nhưng vì tình trạng tồi tệ đó đã thành “tập quán” nên không dễ dàng thay đổi, trừ khi có cuộc cách mạng hành chánh tận gốc rễ, trong khi thế giới tự do ngày nay trên đà phát triển rất nhanh và thời gian không ủng hộ bất cứ quốc gia  độc tài nào cả.

b. Hành chánh của ta.

Năm 1975, khi quốc gia cộng sản đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa, lúc ấy họ có sẳn bộ máy độc tài cầm quyền ở miền Bắc, cho nên họ chỉ cần mở rộng bộ máy đó trên lãnh thổ vừa chiếm đóng là xong phần căn bản.

Còn nhóm lãnh đạo lâm thời tới đây, hầu như trong tay không có một tổ chức nhưng có khả năng tổ chức và quản trị nền hành chánh theo chế độ dân chủ tự do. Khả năng này trong các viên chức và sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa ngày trước còn lại trong nước cũng như tại hải ngoại. Quan trọng hơn hết là khả năng này nằm trong thành phần trẻ trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại được đào tạo tại các nước định cư, sẽ là đội ngũ chủ lực đưa đất nước phát triển nhanh trong tương lai. Nhưng trước mắt, nhà cầm quyền mới phải tiếp nhận và quản trị toàn bộ tài sản do chế độ sụp đổ để lại, cùng lúc tái tổ chức và thực hiện công cuộc ổn định sinh hoạt quốc gia.

c. Khả năng viện trợ.       

Khối tài sản nói trên cho dẫu là nhiều nhưng chắc chắn là hỗn tạp về chủng loại, về xuất xứ, và đa số là cũ kỹ lỗi thời, không thích nghi với phương thức quản trị khoa học, mà khoa quản trị đã chứng minh khả năng góp phần quan trọng vào tốc độ phát triển quốc gia.

Vì vậy, nhóm lãnh đạo lâm thời rất cần sự đóng góp nhiệt tình của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại. Kế đó xin viện trợ từ các tổ chức không chánh phủ, và các chánh phủ trên thế giới, giúp chúng ta sớm vào danh sách các quốc gia phát triển áng chừng khi Việt Nam chúng ta mừng Quốc Khánh năm thứ 20 kể từ năm triệt tiêu chế độ cộng sản.

d. Tin tức cần sưu tầm.

Tổng số nhân viên (trung bình) của ủy ban nhân dân một tỉnh? Một quận? thuộc đồng bằng Cửu Long, duyên hải miền Trung, duyên hải miền Bắc, và đồng bằng sông Hồng? Trong tổng số nhân viên, bao nhiêu phần trăm là đảng viên cộng sản? Ngoài tổ chức của ủy ban nhân dân tỉnh, có những Ty, Sở, hay cơ quan chuyên môn nào? Thí dụ: Y tế, giáo dục, nông nghiệp, ngoại thương, quan thuế, ..v..v..? Trung bình có bao nhiêu cơ quan của một tỉnh vùng duyên hải? Vùng đồng bằng? Vùng cao nguyên? Có bao nhiêu trường hành chánh? Ở đâu? Nội dung đào tạo? Ước lượng tổng số công nhân viên chức hành chánh và tất cả các ngành khác (ngoại trừ quân đội và cảnh sát), kể cả các ngành kinh tế quốc doanh? của một tỉnh vùng duyên hải? Vùng đồng bằng? Vùng cao nguyên? 

Lương trung bình (tiền Việt Nam lúc thu thập tin tức) của một công nhân viên chức trong một tháng? Lương của một chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh trong một tháng? Có bao nhiêu tỉnh? Bao nhiêu thành phố thuộc tỉnh? Bao nhiêu thành phố thuộc trung ương? Ngân sách quốc gia? Lập trường chính trị của từng chủ tịch tỉnh, thành phố? Thí dụ như: Ủng hộ chế độ dân chủ tự do và nhân quyền? Có thể ủng hộ chế độ dân chủ tự do và nhân quyền? Vẫn là cộng sản cực đoan?

Nếu chế độ cộng sản sụp đổ ngay ngày mai, việc gì cần làm trước mắt? Và vân vân.    

2. NHIỆM VỤ.

Phác thảo tổ chức hệ thống hành chánh công quyền thích hợp với nhu cầu, trên căn bản giải thể toàn bộ bộ máy hành chánh sụp đố. Xây dựng nền tảng người dân với viên chức là mối tương quan mật thiết giữa nhu cầu với trách nhiệm, sự tác động qua lại sẽ tạo nên một khả năng quản trị và phát triển nước Việt Nam dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền, với nền kinh tế thị trường, trước mắt ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội, và bước đầu ổn định sinh hoạt xã hội .  

3. THỰC HIỆN.

a. Quan niệm hành chánh.

“Tổ chức hành chánh công quyền thích hợp với nhu cầu. Người dân với viên chức, là mối tương quan cần thiết giữa nhu cầu với trách nhiệm, tác động qua lại tạo nên sức phát triển chung của xã hội. 

b. Quan niệm nhân sự.

Hành chánh công quyền với người dân là mối tương quan thật sự cần thiết giữa nhu cầu với trách nhiệm. Nhu cầu của dân, phát sinh tổ chức hành chánh để giải quyết nhu cầu đó. Khi giải quyết được nhu cầu của dân, cũng là lúc viên chức làm tròn nhiệm vụ được hưởng lương do tiền thuế của dân đóng góp. Đó là sự tác động qua lại trong ý niệm hợp tác, góp phần tạo nên sức phát triển chung của xã hội, không bên nào nhờ bên nào. Lời cám ơn thể hiện cung cách trong giao tế nhân sự chớ không mang ý nghĩa chịu ơn, cho dù bên nào cũng vậy. Hệ thống trường hành chánh, trách nhiệm trang bị cho học viên ý thức về cung cách này.

c. Quan niệm tổ chức.

Giải thể toàn bộ bộ máy hành chánh cộng sản, nhưng tạm thời giữ nguyên tổ chức để khi tái tổ chức đến đâu giải thể hẳn đến đó. Thay thế toàn bộ các tiêu đề trên công văn, thay thế toàn bộ tên các địa phương, tên các cơ quan, đường phố, công viên, ..v..v.. mang tên những nhân vật cộng sản hay liên quan đến cộng sản. Cùng lúc bổ nhậm viên chức vào các chức vụ đứng đầu cơ quan hành chánh các cấp để nắm vững tình hình ngay từ đầu. Xóa bỏ các tượng đài cộng sản hay liên quan đến cộng sản. 

Tổ chức hành chánh: Trung ương, Miền, Tỉnh/thành phố, Quận, Xã. Tổ chức Miền và Quận là cơ quan trung gian, không do dân cử, không có ngân sách. Tùy hệ thống giao thông và nét đặc thù từng địa phương về sắc tộc, văn hoá, kinh tế, địa dư, cơ quan hành chánh địa phương được phân quyền thích hợp. Các đảo và quần đảo đặt trực thuộc trung ương, với những chính sách nâng đỡ phát triển đời sống xã hội. 

d. Quan niệm trang bị.

Chọn lọc và phân phối sử dụng tất cả động sản, bất động sản, vật dụng trang bị, thuộc tài sản hành chánh quốc gia đã kiểm kê được. Trường hợp tài sản gốc tư nhân mà cộng sản chiếm đoạt dưới mọi hình thức, phải bảo vệ để giao cho Cơ Quan Hoàn Trả Tài Sản Tư Nhân. Những gì chưa sử dụng phải trách nhiệm gìn giữ. Trước mắt, hạn chế tối đa mua sắm dụng cụ trang bị.

e. Quan niệm thực hiện.

Vừa tổ chức cơ quan đơn vị, vừa kiểm kê nhân viên chức và bổ nhiệm họ, vừa kiểm kê động sản bất động sản vật dụng trang bị và phân phối sử dụng, vừa điều hành công tác theo phương thức thủ tục mới để giữ cho hệ thống điều hành hành chánh không bị gián đoạn, có thể có bối rối lúc đầu nhưng nhất thiết không để ngưng trệ. Sự đánh giá trong thời kỳ này rất quan trọng, nó có khả năng dẫn đến thành công hay thất bại sau đó. Vì vậy mà  hành chánh trung ương  cần ủy quyền thích hợp trong lãnh vực bổ nhiệm viên chức cũng như phân phối cơ sở và phương tiện sử dụng  cho cấp chỉ huy hành chánh địa phương, để kịp thời giải quyết nhu cầu. Điều này cần được quan tâm đặc biệt, vì có thể có kết quả trái ngược nếu như viên chức được ủy qyền có tư tưởng phe nhóm hay cục bộ địa phương mà không đặt đúng tiêu chuẩn chọn lọc nhân viên viên chức để trao trách nhiệm thích hợp với khả năng. 

Cơ Quan Hành Chánh Miền Bắc là tổ chức cấp Miền duy nhất, cần tổ chức ngay để điều hành công tác tổ chức và phối trí các cơ quan hành chánh địa phương xa trung ương. Vì không có một tổ chức hay một thành phần nòng cốt nào, cho nên phải tổ chức một hệ thống hành chánh trên căn bản giải thể hành chánh cộng sản. 

Ranh giới các tỉnh, tạm thời giữ nguyên đến khi kế hoạch điều chỉnh ban hành.

Viên chức. Sử dụng có chọn lọc trong số đang tại chức (bộ máy sụp đổ) và số viên chức cũ (của Việt Nam Cộng Hòa) trong nước lẫn hải ngoại trở về. Trường hợp thật sự cần thiết, tuyển dụng cấp thời những chuyên viên thích hợp. Viên chức đứng đầu tỉnh, thành phố, quận, xã, gọi là Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng, Quận Trưởng, Xã Trưởng, Phường Trưởng. Trong thời gian chuyển tiếp, các chức vụ này do phân quyền bổ nhiệm.

Giải thế các thành phố trực thuộc tỉnh.

Lực lượng cảnh sát trực thuộc Bộ Nội Vụ.

Tiếp thu và quản trị toàn bộ tài sản các ngành trong hệ thống hành chánh và cấp phát theo đúng nhu cầu.

Để tiết kiệm tài nguyên nhân lực tài lực, vật lực, và thời gian, mỗi tỉnh hay thành phố có một "bảng cấp số và trang bị". Trong bảng cấp số qui định: Nhiệm vụ, tổ chức, chức vụ, trang bị phương tiện.  

Thông cáo gọi tất cả công nhân viên chức (của chế độ sụp đổ) đến nhiệm sở ghi danh và tiếp tục công tác.

Thông cáo gọi tất cả viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ -nếu chưa quá 60 tuổi cho nam và 55 tuổi cho nữ và có sức khỏe tốt- đến ghi danh tại cơ quan hành chánh địa phương cư ngụ để được bổ nhậm công tác

Nghị định của chánh phủ giải thể bộ máy hành chánh cũ, cùng lúc với văn kiện thành lập nền hành chánh mới trên căn bản tái sử dụng nhân viên và phương tiện hiện có, theo đề nghị của Bộ Nội Vụ. 

Nghị định của chánh phủ giải thể các thành phố trực thuộc tỉnh, và đặt vào hệ thống tỉnh liên hệ, theo đề nghị của Bộ Nội vụ.

Nghị định của chánh phủ bổ nhiệm các Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng, Đặc Khu Trưởng hành chánh (nếu có), theo đề nghị của Đại Biểu Chánh Phủ liên hệ, và của Bộ Nội vụ. Các vị này căn cứ vào "bảng cấp số khung" và căn cứ vào nét đặc thù địa phương, đề nghị bổ túc hoặc sửa đổi chi tiết trong bảng cấp số -nếu có- để Bộ có yếu tố cứu xét hoàn chỉnh.

Nghị định của chánh phủ giải thể lực lượng "Cảnh Sát Công An Nhân Dân", cùng lúc thành lập "Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia".

Nghị định của chánh phủ bổ nhiệm vị đứng đầu lực lượng Cảnh Sát, theo đề nghị của Bộ Nội vụ. Vị này có trách nhiệm thành lập bộ tham mưu, để thành lập lực lượng cảnh sát trên căn bản tái sử dụng nhân viên và phương tiện hiện có.

Văn kiện hủy bỏ tất cả những chứng tích cộng sản, gồm: Tượng đài, hình ảnh nơi công cộng, những tên cơ quan, những khẩu hiệu, cờ đỏ sao vàng, bảng hiệu cơ sở quốc doanh, ..v..v..

Văn kiện xóa bỏ tên Hồ Chí Minh và trở lại tên Sài Gòn cho thành phố thủ đô. Tất cả con đường trên toàn quốc đã bị cộng sản đổi tên, nay trở lại tên cũ. Đồng thời đặt tên cho những con đường mới kiến tạo sau năm 1975. Riêng trên lãnh thổ miền Bắc, Cơ Quan Hành Chánh Miền Bắc phụ trách.  

Văn kiện xóa bỏ tất cả tiêu đề trên các công văn, đồng thời thay vào đó bằng các tiêu đề mới. 

Theo đề nghị của Tỉnh, Đại Biểu Chánh Phủ được ủy nhiệm của chánh phủ, bổ nhiệm chức vụ Quận Trưởng và Phó Tỉnh Trưởng trong phạm vi trách nhiệm.

Theo đề nghị của Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng bổ nhiệm chức vụ Xã Trưởng. Thị Trưởng bổ nhiệm chức vụ Phường Trưởng. 

Các giới chức đứng đầu hành chánh tỉnh, thành phố, quận, xã, phường, trách nhiệm kiểm kê và báo cáo lên cấp trên trực tiếp, đồng thời tạm sử dụng số nhân viên, động sản, bất động sản hiện có tại địa phương (ngoại trừ tài sản thuộc quyền quản trị của Bộ Quốc phòng).

Vì công việc ngổn ngang trong thời gian chưa ổn định, Tỉnh Trưởng Thị Trưởng, ngoài chức vụ Phó trong tổ chức chánh thức, được trợ giúp bởi các chức Phó do Đại Biểu Chánh Phủ bổ nhiệm, đặc trách: Kinh tế tài chánh, Văn hoá xã hội, và An ninh trật tự. Quận Trưởng, Xã Trưởng, Phường Trưởng, ngoài chức vụ Phó trong tổ chức chánh thức, được trợ giúp bởi chức Phó do Tỉnh Trưởng Thị Trưởng bổ nhiệm, đặc trách an ninh trật tự.

Điện toán hóa công tác quản trị hành chánh, bao gồm: tổ chức, thực hiện và trang bị, tuyển chọn và huấn luyện, bổ nhiệm và sử dụng.

Đào tạo cho nhu cầu trước mắt về nhân viên cấp dưới và trung cấp. Tiếp đến, đào tạo viên chức tham mưu hành chánh chuyên nghiệp trong mục tiêu dài hạn. Một "Học Viện Hành Chánh" đào tạo viên chức cao cấp, sẽ được thành lập sau đó.      

f. Huấn thị chung.

Ngoại trừ nhóm đảng viên cộng sản trong Bộ Chính Trị tất cả các nhiệm kỳ, những người đảng viên cộng sản khác, tuy là người Việt Nam trước kia thù địch, từ nay cùng với dân tộc chung sức chung lòng phục vụ nguyện vọng người dân, xây dựng quê hương phú cường, xã hội thịnh vượng.    

Cấm mọi lời nói, thái độ, hay hành động, biểu thị sự kỳ thị với các thành phần  viên chức, về khuynh hướng chính trị (Việt Nam Cộng Hòa cũ hay chế độ vừa sụp đổ), về quê quán (Nam, Trung, Bắc), về nơi sinh sống (hải ngoại hay trong nước), hay về kiến thức chuyên môn vì đây là vấn đề ở cấp thẩm quyền.

Các cơ quan hành chánh vừa tái tổ chức vừa điều hành công tác.

Nhân sự là vấn đề khó khăn hơn bất cứ những khó khăn nào khác. Vị đứng đầu cơ quan hành chánh mới được bổ nhiệm là viên chức đang tại chức, hoặc đang phục vụ nơi đây với một chức vụ nào đó, có thể ít gặp khó khăn hơn là viên chức từ trung ương hay địa phương khác đến nhận chức. Vấn đề tuyển chọn và tái sử dụng nhân viên, đặt trên căn bản bình đẳng và khả năng thích hợp với nhiệm vụ giao phó.    

Về các bảng cấp số hành chánh tỉnh, thành phố, quận, có thể chưa quen với soạn thảo "bảng cấp số", nhưng dần dần sẽ thấy sự ích lợi rất lớn với tài liệu tham mưu này. Trước kia trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, sĩ quan tham mưu Phòng 1, Phòng 3, và Phòng 4, phối hợp soạn thảo. Bảng cấp số là một văn kiện tham mưu rất cần thiết cho các tổ chức của chánh phủ, nhằm qui định rõ ràng trong một hệ thống tổ chức, gồm: nhiệm vụ, tổ chức, trang bị vật dụng và máy móc văn phòng, đúng và đủ cho mỗi viên chức. Vì diện tích, dân số, và kinh tế của từng vùng từng tỉnh khác nhau, nên bảng cấp số của tỉnh hay thành phố dự liệu có các loại A, B, C, D, E, để đáp ứng nhu cầu của từng tỉnh từng thành phố . Loại A là tỉnh có dân số ít nhất, dần dần đến bảng cấp số loại E là tỉnh có dân số đông nhất.  

Tất cả các viên chức trước khi nhận chức tại cấp tỉnh, thành phố, quận, xã, phường, phải qua một lớp học cấp tốc về nhiệm vụ chính trị trong một tình hình đòi hỏi thu phục lòng người bất luận là người dân bình thường hay người dân là cựu đảng viên cộng sản. Không loại trừ giả thuyết sẽ có những đảng viên cũ lợi dụng chính sách đó mà gây mất trật tự. Vì vậy, giữ gìn thái độ và tư cách của chức vụ đứng đầu cơ quan hành chánh, phải hiểu là một trách nhiệm, hơn thế nữa là một người lãnh đạo. Có nghĩa là, nếu thái độ và tư cách không đúng đắn, không xứng đáng là người nắm giữ trách nhiệm đó, sẽ bị đánh giá là không hoàn thành trách nhiệm và sẽ bị những biện pháp thích ứng.  

4. HÀNH CHÁNH & TIẾP VẬN.

a. Hành chánh.

Mỗi nhân viên trong cơ cấu hành chánh sụp đổ được tái sử dụng, phải dùng thời gian sau giờ làm việc, viết lại những công tác mà mình trách nhiệm lâu nay và nộp cho văn phòng vị đứng đầu cơ quan hành chánh. Tài liệu này không phải là loại kiểm soát công tác của viên chức cũ, mà là giúp nhóm tham mưu đặc trách hoàn chỉnh bản công tác, có nét nhìn rõ hơn về chức năng của toàn bộ nhân viên trong cơ quan cho đến trước ngày sụp đổ. Những gì không cần thì loại bỏ, cần mà thiếu thì bổ túc, cần mà có đúng thì sử dụng. Tài liệu tham mưu này, có khả năng tiến đến soạn thảo một “Huấn Lệnh Điều Hành Căn Bản" cho cơ quan hành chánh các cấp. Một tài liệu như vậy, sẽ giúp rất nhiều cho nhân viên -nhất là những nhân viên mới- hiểu biết những công tác căn bản của mình, cũng là giúp cấp chỉ huy, trong một mức độ nào đó, hiểu được khả năng của nhân viên trực thuộc mà sử dụng đúng chỗ.

Tất cả viên chức trong các ngành sinh hoạt quốc gia: Một, phải được trang bị một quan niệm “Người dân với viên chức là mối tương quan chặt chẻ giữa nhu cầu với trách nhiệm”. Hai, phải được trang bị một kiến thức tham mưu hành chánh căn bản từ "trường hành chánh". Ba, phải được trang bị kiến thức chuyên môn của ngành liên hệ.

Qui chế viên chức hành chánh, cần được soạn thảo và ban hành trong khoảng 2 năm đầu của thời gian chuyển tiếp, để sớm hoàn chỉnh một nền hành chánh lành mạnh. 

Nhân viên tham mưu hành chánh phải hiểu rằng: "Ở cấp quốc gia, nhiệm vụ của chánh phủ là thực hiện nguyện vọng toàn dân. Ở cấp địa phương, nhiệm vụ của mọi viên chức hành chánh là giải quyết đúng mức những quyền lợi pháp định theo nhu cầu chính đáng của người dân trong phạm vi trách nhiệm".

b. Tiếp vận.

Trách nhiệm tài sản do kiểm kê tại chỗ. 

Vật dụng trang bị cho các cơ quan trực thuộc. Đúng nhu cầu, trang bị thực thụ. Không đúng nhu cầu, trang bị tạm thời và sẽ điều chỉnh sau. 

Động sản (xe các loại) cấp phát cho viên chức có ghi trong bảng cấp số. Số còn lại thặng dư (không ghi trong bảng cấp số), tập trung vào "công quản" của cơ quan để sử dụng chung mỗi khi có nhu cầu. 

Bất động sản. Ưu tiên cấp cho các cơ quan sử dụng làm văn phòng. Tùy từng trường hợp, xét cấp cho các giới chức của cơ quan làm nhà ở. Rất cần một số cơ sở làm nơi ở cho những viên chức độc thân hay tạm thời độc thân chưa có nơi cư ngụ tại địa phương.

Những bất động sản nguyên gốc của tư nhân hợp pháp do cộng sản tịch thu bất luận dưới hình thức nào, phải được niêm phong chờ lệnh của "Cơ Quan Hoàn Trả Tài Sản Tư Nhân" trung ương. Nếu có người hay cơ quan chiếm ngụ bất luận dưới hình thức nào, phải qui định thời hạn hoàn trả trong tình trạng trống, nhưng thời hạn tối đa không quá một năm kể từ ngày hoàn tất kiểm kê. 

Vũ khí đạn dược, nói chung là dụng cụ chiến tranh. Trang bị cho Cảnh Sát theo bảng cấp số. Số thừa, ký gởi vào kho Cảnh Sát hay kho Quân Đội tại địa phương. 

Tài chánh, sử dụng trong số hiện có. Nếu thiếu, xin trung ương. Nếu thừa, báo cáo trung ương chờ lệnh. - Những sắc thuế do địa phương trước đây tùy tiện đặt ra, phải cứu xét cẩn thận, tường trình và đề nghị trung ương, hủy bỏ nếu không phù hợp chính sách thuế lành mạnh, hoặc duy trì nếu phù hợp chính sách mới. 

Trong thời gian đầu, trung ương chỉ xét cấp theo nhu cầu thật sự quan trọng và cấp thiết. Thật sự quan trọng và cấp thiết, được hiểu là nếu không được cấp phát sẽ ảnh hưởng đến tình hình địa phương.

Tổ chức Quận là cơ quan trung gian giữa Tỉnh với Xã, nên không có ngân sách riêng (thuộc ngân sách Tỉnh).

Khi tình hình ổn định ở mức chấp nhận, Hội Đồng Đại Diện Xã, Xã Trưởng, Hội Đồng Đại Diện Tỉnh, và Tỉnh Trưởng, sẽ do dân bầu.   

5. TRÁCH NHIỆM.

a. Liên lạc phối hợp. 

Phối hợp thường xuyên giữa các cấp liên hệ là điều cần thiết, nên áp dụng hình thức “họp tham mưu” để thảo luận vấn đề đến rốt ráo, sau đó mới cần đến những buổi họp cấp thẩm quyền quyết định.

Nên qui định họp thường kỳ, để giải quyết những vấn đề quan trọng mà những buổi họp tham mưu giữa các cơ quan không đủ thẩm quyền. 

b. Trách nhiệm.

Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng, Đặc Khu Trưởng hành chánh (nếu có), Quận Trưởng, Xã Trưởng, Phường Trưởng, trách nhiệm vừa tổ chức cơ quan tham mưu hành chánh vừa thi hành nhiệm vụ tại địa phương.

Hiện nay chưa hình thành “Ban Tham Mưu Phối Hợp”, Ủy Ban Thường Trực tạm thời trách nhiệm phối hợp công tác.

Trong công tác nghiên cứu tham mưu này, không có vấn đề chỉ huy mà chỉ có liên lạc phối hợp, bởi Tổng Hội chỉ là một tổ chức vừa ái hữu vừa thể hiện ý thức chính trị của những Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại, muốn được đóng góp “quan niệm một sách lược quốc gia” bằng công trình nghiên cứu tham mưu với quí vị lãnh đạo lâm thời, trong thời kỳ chuyến tiếp từ chế độ cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, góp phần xây dựng quê hương Việt Nam phát triển, mọi người được sống trong một xã hội dân chủ pháp trị với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân. 

Houston, ngày 17 tháng 7 năm 2007. 
Nhật tu ngày 20 tháng 10 năm 2008. 
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực
 
Alpha Phạm Bá Hoa (khóa 5)


Kế hoạch khung phác thảo tổ chức Cảnh Sát 


Giả định rằng, ngay sau khi chế độ độc tài sụp đổ, một chánh phủ lâm thời được thành lập, đã ra tuyên cáo trước đồng bào và thế giới “Việt Nam theo chế độ dân chủ tự do và tôn trọng các quyền căn bản của toàn dân”. Chánh phủ tôn trọng quốc kỳ, quốc ca, và quốc huy Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 4/1975 về trước, trong khi chờ đợi Quốc Hội dân cử quyết định. Chánh phủ hội họp liên tục để giao trách nhiệm cho các Bộ gấp rút thực hiện những vấn đề cấp thiết. Theo đó, một trong những kế hoạch mà Bộ Nội Vụ phải ban hành trong thời gian sớm nhất là tổ chức lực lượng Cảnh Sát, với những qui định về cấp hiệu, huy hiệu. Đây là kế hoạch phác thảo để cung cấp cho nhóm nghiên cứu một kế hoạch khung, dùng tham khảo trong công tác soạn thảo kế hoạch thực hiện. 

Cũng giả định rằng, Bộ Nội Vụ chỉ thị nhóm nghiên cứu soạn thảo kế hoạch với các điểm chính sau đây:

Tổ chức một lực lượng Cảnh Sát với nhân số khoảng 240.000 người (0.3% dân số) trên căn bản giải thể ngành Công An cộng sản cũ, và khoảng 24.000 nhân viên dân sự (10% lực lượng Cảnh Sát). 

Tạm thời sử dụng vũ khí đạn dược của Công An cộng sản, nói chung là dụng cụ trang bị cho Cảnh Sát.  

Vừa tổ chức lực lượng vừa thi hành trách nhiệm bảo vệ an ninh trật tự xã hội. 

Đây là bản phác thảo “kế hoạch khung” sử dụng nghiên cứu soạn thảo “kế hoạch tổ chức lực lượng Cảnh Sát”.  

1. NHẬN ĐỊNH.

a. Công An cộng sản.

Lực lượng Công An được xem là thành phần trung thành với lãnh đạo của họ hơn tất cả các ngành khác. Ngoài thành phần Công An trách nhiệm an ninh khu phố và trật tự xã hội tại tất cả các cơ quan hành chánh địa phương và trung ương, lực lượng này có nhiều bộ phận khác nhau mà hầu hết là tình báo và phản tình báo hoạt động trong tất cả các lãnh vực sinh hoạt xã hội, kể cả trường học các cấp. Tình báo cộng sản cũng có mặt tại hải ngoại, cộng với những tên tay sai và những tổ chức tay sai của chúng chen lẫn trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản.

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, Công An là những hung thần, những con mắt tàn bạo, những bàn tay đẫm máu, thực hiện chính sách bịt mắt, bịt tai, bịt miệng tất cả mọi người bao gồm đảng viên của họ, đồng thời đày đọa vào các trại tập trung khắc nghiệt bất cứ ai có ý kiến trái ngược với độc tài. Công An còn là những bức màn che giấu mọi thối nát của hàng lãnh đạo các cấp đối với dư luận trong nước lẫn ngoài nước, qua hành động thực hiện những bức tường lửa ngăn chận mọi trao đổi truyền thông trên mạng lưới thông tin toàn cầu.

Ngay khi chế độ cộng sản độc tài sụp đổ, không loại trừ một thành phần sợ trả thù vì họ biết họ đã có những hành động tội ác với người dân nên họ sẽ chống phá chế độ mới, ít nhất là trong thời gian đầu do tính ngoan cố cố hữu của người cộng sản cực đoan, suy đoán sự chống phá hay khủng bố khoảng một hay hai năm. Cũng không loại trừ giả thuyết một số cá nhân vẫn giấu vũ khí trở thành kẻ cướp.   

Trong những năm gần đây, với bối cảnh quốc tế rất quan tâm đến nhân quyền, kết hợp với bối cảnh Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại ngày càng quyết liệt đòi lại quyền chính trị của 85 triệu dân trong nước, cộng với nhóm đấu tranh dân chủ, cùng với công nhân bị ức hiếp bọc lột, khối dân oan đông đảo đứng lên biểu tình liên tục trên toàn cõi Việt Nam, cộng với giới công nhân trong 6 tháng đầu năm 2008 đã có 330 cuộc đình công đòi quyền sống, chứng tỏ ngày nay người dân xã hội chủ nghĩa không còn sợ hãi như những năm về trước nữa, cho dù Công An vẫn là hình ảnh hung thần tuy có phần suy giảm. Sự suy giảm này không do chính sách của chế độ mà do sức ép của quốc tế. 

Với bối cảnh đó, và dựa trên nhận thức “không phải tất cả Công An đều là hung thần”, không loại trừ khả năng có một số cá nhân hoặc tổ chức Công An sẽ ủng hộ chế độ mới bằng cách đứng lên chống lại đồng đội của họ trước giờ thứ 25 của tiến trình sụp đổ.

b. Khả năng của ta.

Nhóm lãnh đạo lâm thời không có một lực lượng Cảnh sát nào trong tay khi cộng sản sụp đổ, nhưng có một khối lượng đáng kể cán bộ các cấp có kiến thức tổng quát, có khả năng chuyên môn cũ nay cần cập nhật trong thời gian ngắn, và nhất là có một tinh thần trách nhiệm với người dân sau mấy chục năm học được bài học đắng cay từ phía cộng sản ngang qua Công An của họ gây ra.     

c. Khả năng viện trợ. 

Với công cuộc xây dựng chế độ dân chủ tự do và tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam, tự nó có sức thuyết phục nhiều quốc gia trên thế giới -nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á- nhanh chóng trở thành đồng minh của chúng ta. Từ đó, dẫn đến những viện trợ cần thiết cho lực lượng Cảnh Sát Việt Nam trong bước đầu, và sau đó. Trường hợp này, chánh phủ mới cần tránh lệ thuộc hoàn toàn vào một quốc gia để không rơi vào tình trạng thụ động đối với những vấn đề quốc tế. Đây là vấn đề khả năng và bản lãnh lãnh đạo của chánh phủ lâm thời trong mục đích xây dựng nền nếp ngoại giao căn bản cho những vị lãnh đạo kế tiếp.      

d. Tin tức cần sưu tầm.

Những tin tức về "Cộng An cộng sản" cần được sưu tầm, để nhóm trách nhiệm có những thông tin mới nhất trong  nghiên cứu soạn thảo kế hoạch tổ chức quân đội sát với thực trạng, như: (1) Tổng số nhân số ngành Công An? (2) Hệ thống tổ chức ngành Công An cấp trung ương, chú trọng đến các cơ cấu tình báo & phản tình báo, gián điệp & phản gián điệp? (3) Các Tổng Cục liên quan đến an ninh, tình báo, gián điệp, … chú trọng đến tổ chức, nhân sự, điều hành, và những hoạt động thuộc loại tội ác của Tổng Cục 2 Tình Báo đặc biệt? (4) Trong hàng lãnh đạo ngành Công An từ trung ương xuống đến cấp tỉnh/thành phố, danh tánh những ai có hành động thuộc loại tội ác với những người không cùng chính kiến? (5) Trại tập trung nào khắc nghiệt nhất? Cấp bậc và tên của trại trưởng? (6) Và ..v..v…

2. NHIỆM VỤ.

Tổ chức một lực lượng Cảnh Sát với nhân số khoảng 240.000 người (0.3% dân số) trên căn bản giải thể ngành Công An cộng sản cũ, và khoảng 24.000 nhân viên dân sự (10% lực lượng Cảnh Sát). Tạm thời sử dụng vũ khí đạn dược và dụng cụ trang bị của Công An cộng sản. Vừa tổ chức lực lượng vừa thi hành trách nhiệm bảo vệ an ninh trật tự xã hội, góp phần sớm ổn định sinh hoạt quốc gia, đồng thời tạo điều kiện cho những mục tiêu phát triển sau đó. 

3. THỰC HIỆN.

a. Quan niệm tổ chức.  

Tổ chức một lực lượng Cảnh Sát trên căn bản giải thể cảnh sát Công An cộng sản. Tái sử dụng thành phần Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa cũ, tái sử dụng Công An vừa giải thể sau khi chọn lọc cẩn thận, và tuyển mộ đào tạo cấp thời. 

Tổ chức Cảnh Sát gồm 3 thành phần: (a) Cảnh Sát đồng phục, trách nhiệm an ninh trật tự xã hội. (b) Cảnh Sát không đồng phục, trách nhiệm an ninh chính trị. (c) Cảnh Sát dã chiến, trách nhiệm lưu động ngăn chận hoặc tái lập an ninh trật tự tại các điểm nóng.  

Nhân số cộng chung khoảng 260 ngàn, ước tính phân phối tổng quát như sau: Cơ quan tham mưu hành chánh, huấn luyện, tiếp vận, và các bộ phận yểm trợ 20%. Cảnh Sát đồng phục 55%. Cảnh Sát không đồng phục 15%. Và Cảnh Sát dã chiến 10%. 

Cơ cấu tổ chức gồm: (a) Bộ chỉ huy trung ương cùng các cơ quan đơn vị yểm trợ. (b) Cơ quan Cảnh Sát thủ đô. (c) Cảnh Sát miền Bắc. (d) Cảnh Sát miền Trung. (e) Cảnh Sát tỉnh/thành phố, xuống đến quận, xã/phường.          

Trường Cảnh Sát, đào tạo sĩ quan và Hạ sĩ quan Cảnh Sát căn bản và chuyên môn các ngành. Đồng thời nghiên cứu các hành vi tội phạm và cách đối phó trong thực tế, để cải tiến nội dung chương trình huấn luyện.

Học Viện Cảnh Sát, đào tạo sĩ quan Cảnh Sát cao cấp. Nghiên cứu tình báo & phản tình báo, gián điệp & phản gián, cải tiến nội dung chương trình giảng dạy, đồng thời cung cấp cho cơ quan liên hệ trong ngành.   

b. Quan niệm nhân sự.

Nhân sự là vấn đề quan trọng bậc nhất, những quyết định cùng thái độ cư xử của cấp chỉ huy tại các cơ quan đơn vị trong giai đoạn này, góp phần đánh giá sự thành công hay thất bại. 

Với chế độ dân chủ tự do và tôn trọng nhân quyền, tự nó có khả năng thuyết phục đáng kể, vì người cộng sản cũ được bình đẳng lòng xã hội giữa những thành phần khác nhau. Nhưng không loại trừ một số cá nhân bởi bản chất của cộng sản là luôn luôn ngờ vực vì họ là thành phần được xem là trung thành với lãnh đạo của họ, trong khi thời gian chưa đủ giúp họ tin tưởng để hòa nhập vào chế độ dân chủ tự do, một chế độ gần như hoàn toàn xa lạ với họ. Do đó, thận trọng trong chọn lọc theo khả năng chưa đủ, cần chú trọng đến huynh hướng chính trị.      

Nhân viên viên chức Cảnh Sát, không tham gia các tổ chức chính trị.

c. Quan niệm trang bị.

Ưu tiên sử dụng trang cụ và vật liệu do Hoa Kỳ sản xuất, để công tác quản trị tránh được những khó khăn nếu sử dụng dụng cụ thuộc nhiều chủng loại từ nhiều quốc gia khác nhau. Không sử dụng những động sản hay bất động sản của tư nhân bị cộng sản chiếm đoạt bất cứ bằng hình thức nào, nhưng có trách nhiệm gìn giữ để chuyển giao cơ quan liên hệ nghiên cứu ứng dụng.

d.  Quan niệm thực hiện.

Kiểm kê, chọn lọc, và sử dụng trong số nhân viên viên chức Công An cộng sản cũ, nếu chưa quá tuổi phục vụ, đủ sức k hỏe, và nhất là khả năng thích hợp với nhiệm vụ được giao.

Kiểm kê, chọn lọc, và sử dụng nhân viên viên chức Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa cũ còn trong nước hay trở về từ hải ngoại, nếu chưa quá tuổi phục vụ, đủ sức khoẻ, và khả năng thích hợp với nhiệm vụ được giao.

Tuyển mộ và đào tạo cấp thời, nếu còn thiếu.

Lệnh giải thể Công An cộng sản, cùng lúc với lệnh thành lập Cảnh Sát quốc gia. Một danh sách viên chức bổ nhậm vào các chức vụ đứng đầu cơ quan đơn vị cần được thực hiện ngay,  để nắm vững tình hình ngay từ đầu vì kế hoạch tổ chức được thực hiện qua từng giai đoạn. Cùng lúc, phải thay đổi toàn bộ tên các cơ quan đơn vị mang tên cộng sản hay liên quan đến cộng sản, dù lúc bấy giờ đang trong giai đoạn tổ chức hay chờ đợi tổ chức. 

Tổ chức đến đâu giải thể hẳn đến đó. Cơ quan đơn vị chưa đến giai đoạn tổ chức, tạm thời giữ nguyên tổ chức nhưng sử dụng danh xưng mới, phiên hiệu mới. Trong khi vừa kiểm kê, vừa tổ chức, vừa trang bị, vừa thi hành nhiệm vụ, nên công tác tiến hành tổ chức qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1, trong6 tháng thứ nhất: Vừa tổ chức các cơ quan đơn vị từ trung ương đến hạ tầng cơ sở, vừa thực hiện trách nhiệm bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội. Cùng lúc, đổi tên các cơ quan mang tên liên quan đến cộng sản, thay đổi các tiêu đề trên văn thư, qui định các chức vụ đứng đầu cơ quan, ..v..v…   

Giai đoạn 2, trong 6 tháng thứ nhì: Tiếp tục những công tác trong giai đoạn 1, đồng thời hoàn chỉnh dần dần các cơ quan đơn vị, về tổ chức, phối trí nhân sự, và phương thức điều hành.

Giai đoạn 3, trong 6 tháng thứ ba: Tiếp tục những công tác trong 2 giai đoạn trước. Thành lập Trường Cảnh Sát Sài Gòn, Huế, Hà Nội, đào tạo Hạ Sĩ Quan Cảnh Sát trở xuống, và những lớp chuyên môn. Nghiên cứu các hành vi phạm pháp để cải tiến nội dung chương trình giảng dạy trên nền tảng một xã hội dân chủ pháp trị.    

Cần soạn thảo các kế hoạch cùng các văn kiện liên quan: (1) Kế hoạch ngăn chận và trừng trị mọi hành vi phá hoại trộm cắp cướp giật tài sản tư nhân, tài sản quốc gia, và tài sản của ngoại giao đoàn. (2) Kế hoạch ngăn chận và trừng trị những hành động trả thù từ phía nhân dân với viên chức hành chánh, Công An, hay giữa người dân với nhau do thù hằn trước. (3) Kế hoạch bảo vệ an ninh chính trị. (4) Kế hoạch bảo vệ trật tự xã hội. (5) Kế hoạch ổn định các tệ nạn xã hội. (6) Kế hoạch điện toán hóa công tác quản trị nhân viên và tài sản của ngành. (7) Các “Huấn Thị Điều hành Căn Bản” giúp nhân viên trong các cơ quan đơn vị am hiểu phần hành của mỗi bộ phận, vì trước đó tổ chức và điều hành của Công An theo chế độ độc tài, bnỗg chốc chuyển sang tổ chức và điều hành theo chế độ dân chủ tự do, gần như xa lạ với nhân viên viên chức vẫn được tiếp tục phục vụ trong chế độ mới. Nội dung Huấn Thị Điều Hành Căn Bản có khả năng giúp họ có khái niệm để từng bước hòa nhập vào phương thức và cung cách phục vụ mới. (8) Các mẫu kiểm kê nhân viên viên chức, kiểm kê động sản, bất động sản, kiểm kê các phương tiện trang bị văn phòng, nhà kho, cơ sở in ấn, .. v...v.        

Giai đoạn 4, trong 6 tháng thứ tư: Tiếp tục những công tác của giai đoạn trước. Hoàn chỉnh phần căn bản kế hoạch tổ chức, trang bị, phương thức điều hành, và ổn định bước đầu an ninh chính trị và trật tự xã hội.   

Thành lập các Trường Cảnh Sát tại Sài Gòn, Huế, Hà Nội.

Thành lập Học Viện Cảnh Sát.

Soạn thảo các “Bảng Cấp Số” mẫu cho từng cơ quan đơn vị và từng cấp tổ chức. Bảng Cấp Số có khả năng giúp tránh những bối rối không cần thiết khi thực hiện tổ chức và trang bị, cũng là tránh những phí phạm tài sản vì trang bị đúng theo nhu cầu ghi trong Bảng Cấp Số. Tùy thực trạng tổ chức và địa phương, lúc bấy giờ cần thay đổi thích hợp nhờ có khung mẫu.

e. Huấn thị chung. 

Ngoại trừ nhóm đảng viên cộng sản trong Bộ Chính Trị tất cả các nhiệm kỳ, những người đảng viên cộng sản khác, tuy là người Việt Nam trước kia thù địch, từ nay cùng với dân tộc chung sức chung lòng phục vụ nguyện vọng người dân, xây dựng quê hương phú cường, xã hội thịnh vượng.     

Cấm mọi lời nói, thái độ, hay hành động, biểu thị sự kỳ thị với các thành phần  viên chức, về khuynh hướng chính trị (Việt Nam Cộng Hòa cũ hay chế độ vừa sụp đổ), về quê quán (Nam, Trung, Bắc), về nơi sinh sống (hải ngoại hay trong nước), hay về kiến thức chuyên môn vì đây là vấn đề ở cấp thẩm quyền.

Tất cả các viên chức trước khi nhận chức tại các cơ quan đơn vị, phải qua một lớp học cấp tốc về nhiệm vụ chính trị trong một tình hình đòi hỏi thu phục lòng người bất luận là người dân bình thường hay người dân là cựu đảng viên cộng sản. Không loại trừ giả thuyết sẽ có những đảng viên cũ lợi dụng chính sách đó mà gây mất trật tự. Vì vậy, giữ gìn thái độ và tư cách của chức vụ đứng đầu cơ quan đơn vị Cảnh Sát, còn là một trách nhiệm chính trị. Nếu tháí độ và tư cách không đúng đắn, không xứng đáng là người nắm giữ trách nhiệm đó, sẽ bị đánh giá là không hoàn thành trách nhiệm và sẽ bị những biện pháp thích ứng.  

Và ..v..v..

4. HÀNH CHÁNH & TIẾP VẬN.

a. Hành chánh.

Mỗi nhân viên viên chức Công An được tái sử dụng, phải dùng thời gian sau giờ làm việc, viết lại những công tác mà mình trách nhiệm lâu nay và nộp cho văn phòng vị đứng đầu cơ quan hành chánh. Tài liệu này không phải là một loại kiểm soát công tác của viên chức cũ, mà là giúp nhóm tham mưu đặc trách hoàn chỉnh bản công tác, có nét nhìn rõ hơn về chức năng của toàn bộ nhân viên trong cơ quan đơn vị cho đến trước ngày sụp đổ. Những gì không cần thì loại bỏ, cần mà thiếu thì bổ túc, cần mà có đúng thì sử dụng. Tài liệu tham mưu này, có khả năng tiến đến soạn thảo một “Huấn Lệnh Điều Hành Căn Bản" cho các cơ quan đơn vị. Một tài liệu như vậy, sẽ giúp rất nhiều cho nhân viên -nhất là những nhân viên mới- hiểu biết những công tác căn bản của mình, cũng là giúp cấp chỉ huy trong một mức độ nào đó, hiểu được khả năng của nhân viên trực thuộc mà sử dụng đúng chỗ.

Qui chế Cảnh Sát, cần được soạn thảo và ban hành trong khoảng 2 năm đầu của thời gian chuyển tiếp, để sớm hoàn chỉnh một lực lượng Cảnh Sát lành mạnh. 

Nhân viên tham mưu ngành Cảnh Sát phải hiểu rằng: "Ở cấp quốc gia, nhiệm vụ của chánh phủ là thực hiện nguyện vọng toàn dân. Ở cấp trung ương lẫn địa phương, nhiệm vụ của mọi viên chức Cảnh Sát trong phạm vi trách nhiệm, thi hành đứng mức những qui định từ trong những văn kiện pháp lý.

b. Tiếp vận.

Trách nhiệm tài sản do kiểm kê tại chỗ. (1) Vật dụng, trang bị cho các cơ quan trực thuộc. Đúng nhu cầu, trang bị thực thụ. Không đúng nhu cầu, trang bị tạm thời và sẽ điều chỉnh sau. (2) Động sản (xe các loại) cấp phát cho viên chức có ghi trong bảng cấp số. Số còn lại thặng dư (không ghi trong bảng cấp số), tập trung vào "công quản" của cơ quan để sử dụng chung mỗi khi có nhu cầu. (3) Bất động sản. Ưu tiên cấp cho các cơ quan sử dụng làm văn phòng. Tùy từng trường hợp, xét cấp tạm thời cho những viên chức độc thân hay tạm thời độc thân chưa có nơi cư ngụ tại địa phương.

Những bất động sản nguyên gốc của tư nhân hợp pháp do cộng sản tịch thu bất luận dưới hình thức nào, phải được niêm phong chờ lệnh của "Cơ Quan Hoàn Trả Tài Sản Tư Nhân" trung ương. Nếu có người hay cơ quan chiếm ngụ bất luận dưới hình thức nào, phải qui định thời hạn hoàn trả trong tình trạng trống, nhưng thời hạn tối đa không quá một năm kể từ ngày hoàn tất kiểm kê.

5. TRÁCH NHIỆM.

a. Liên lạc phối hợp. 

Phối hợp thường xuyên giữa các cấp liên hệ là điều cần thiết, nên áp dụng hình thức “họp tham mưu” để thảo luận vấn đề đến rốt ráo, sau đó mới cần đến những buổi họp cấp thẩm quyền quyết định.

Nên qui định họp thường kỳ, để giải quyết những vấn đề quan trọng mà những buổi họp tham mưu giữa các cơ quan không đủ thẩm quyền. 

b. Trách nhiệm.

Hiện nay chưa hình thành “Ban Tham Mưu Phối Hợp”, Ủy Ban Thường Trực tạm thời trách nhiệm phối hợp công tác.

Trong công tác nghiên cứu tham mưu này, không có vấn đề chỉ huy mà chỉ có liên lạc phối hợp, bởi Tổng Hội chỉ là một tổ chức vừa ái hữu vừa thể hiện ý thức chính trị của những Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại, muốn được đóng góp “quan niệm một sách lược quốc gia” bằng công trình nghiên cứu tham mưu với quí vị lãnh đạo lâm thời, trong thời kỳ chuyến tiếp từ chế độ cộng sản độc tài sang chế độ dân chủ tự do, góp phần xây dựng quê hương Việt Nam phát triển, mọi người được sống trong một xã hội dân chủ pháp trị với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân. 

Tài liệu của vị nào, Tổng Hội sẽ giới thiệu vị đó với nhóm lãnh đạo lâm thời khi trao tặng tài liệu. Còn quí vị lãnh đạo lâm thời có sử dụng hay không là tùy quí vị ấy, nhưng ít ra, nỗi đau chưa tròn bổn phận công dân của chúng ta, nhất là mỗi Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại cũng vơi nhẹ đôi phần. . 

Houston, ngày 22 tháng 7 năm 2007.
Nhật tu ngày 20 tháng 10 năm 2008.
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực
 
Alpha Phạm Bá Hoa (khóa 5)


Kế hoạch khung phác thảo tổ chức giáo dục


Giả định rằng, ngay trước hoặc sau khi chế độc độc tài sụp đổ, một chánh phủ lâm thời được thành lập, đã ra tuyên cáo trước đồng bào và thế giới “Việt Nam theo chế độ dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền”. Quốc kỳ, quốc ca, và quốc huy tạm thời, đã được chánh phủ ban hành. Chánh phủ hội họp liên tục để giao trách nhiệm cho các Bộ gấp rút thực hiện những vấn đề cấp thiết. Theo đó, kế hoạch mà Bộ Giáo Dục phải ban hành trong thời gian sớm nhất là tổ chức hệ thống giáo dục trên căn bản giải thể hệ thống giáo dục của chế độ sụp đổ, và nhanh chóng tái tổ chức để giảm thiểu thời gian gián đoạn năm học, đồng thời giải quyết những vấn đề cấp thiết liên quan. 

Bản phác thảo “khung kế hoạch” này giúp nhóm tham mưu nghiên cứu soạn thảo “kế hoạch tổ chức giáo dục”. 

1. NHẬN ĐỊNH.    

a. Giáo dục cộng sản.

Tài liệu của Tiến sĩ Bửu Sao (trong nước), năm học 2003-2004 tại Việt Nam, như sau:

Giáo dục bậc tiểu học, gồm cả vườn trẻ và mẫu giáo, có 22.600.00 (22 triệu 600 ngàn)  học sinh trong hơn 10.000 cơ sở giáo dục. Trở ngại lớn nhất ở bậc tiểu học là thiếu giáo viên, trong khi số giáo viên đang giảng dạy cũng không đạt tiêu chuẩn. Cơ sở phòng học cũng như dụng cụ hỗ trợ giảng dạy cũng thiếu thốn.Riêng số lượng học sinh mẫu giáo chiếm 90% trên tổng số trẻ em trong độ tuổi đi học”. 

Tỷ lệ số học sinh học xong lớp mẫu giáo ở những vùng khó khăn là thấp. (Theo cách dùng chữ trong tài liệu, được hiểu là các cháu 5 tuổi cũng chưa học hết mẫu giáo là đáng kể). 

Giáo dục bậc trung học, gồm cả hai bậc, có 17.600.000 (17 triệu 600 ngàn) học sinh. Đa số trong số hơn 17 triệu học sinh này có trình độ rất thấp về kiến thức xã hội, kỹ năng thực hành, và vận dụng kiến thức trong tinh thần sáng tạo. Đội ngũ giáo viên giáo sư trong tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa, thiếu về số lượng và thừa vì trình độ thấp nên không sử dụng được bao nhiêu.    

Giáo dục trung học chuyên nghiệp, có 1.500.000 (1 triệu 500 ngàn) học sinh. Kiến thức chuyên nghiệp không cao so với đòi hỏi của thị trường lao động. Trong hằng chục năm qua đã đào tạo được khoảng 1.500.000 chuyên viên, nhưng khả năng của họ không thích ứng với nhu cầu việc làm, đã dẫn đến tình trạng “thầy không phải thầy mà thợ cũng chưa phải thợ”, họ đành phải làm những công việc không phải là những gì mà họ đã học mấy năm trong trường.   

Giáo dục bậc đại học, có 1 triệu lẻ 30 ngàn (1.030.000) sinh viên. Số lượng giáo sư vào khoảng 40.000 nhưng trình độ còn thấp, chỉ khoảng 45% có trình độ thạc sĩ mà đa số trong số này đều cao tuổi. Cơ sở vật chất nghèo nàn, phẩm chất mà trong nước gọi là “chất lượng” giáo dục thấp. Tình trạng “học thì giả mà bằng thì thật” khá phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Trong mấy chục năm qua, lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước xem Giáo sư với Phó Giáo sư đại học là “học hàm” do nhà nước phong, chớ không phải tước vị của người giảng dạy có trình độ đại học trở lên. Muốn được nhà nước phong chức “học hàm” này, cho dù có mấy cái bằng đại học đi nữa mà không có bằng chính trị do Học Viện Chính 

Hiện nay có khoảng 6.384 Giáo sư và Phó Giáo sư, mà một số đáng kể trong số này không đọc được một tờ báo ngoại ngữ. Thêm nữa, có khoảng 75% trong số đó lại không giảng dạy trong ngành giáo dục, trong khi ngành này không bao giờ đủ giáo sư. Có khoảng 20.000 thạc sĩ, và dự tính đến năm 2010 sẽ tăng lên 38.000 thạc sĩ và 15.000 tiến sĩ. Xem ra bằng cấp đại học và trên đại học khá nhiều, nhưng thực chất là trình độ của đa số những người có tên trên bằng cấp là không tương xứng, vì đó là những bằng cấp giả, hoặc những bằng cấp loại nâng đỡ, cần vài năm đại học Việt Nam là có bằng tiến sĩ. Giáo sư Cao Xuân Hạo (hay Hảo), khi làm biện chứng cho một luận án tiến sĩ ngôn ngữ học dài 380 trang, trong tờ trình lên Bộ Giáo Dục, có đoạn ông viết: “Là tiến sĩ phải hơn một học sinh trung học. Nghiên cứu sinh này không bằng một học sinh lớp 3 thì làm sao trở thành một tiến sĩ?” Thế nhưng Bộ Giáo Dục vẫn cho nghiên cứu sinh này bảo vệ luận án, và Bộ cử 3 vị gọi là trong làng “ngôn ngữ học” vào Hội Đồng, với trách nhiệm chính là phải bằng mọi giá giúp thí sinh đó bảo vệ tốt luận án tiến sĩ! 

Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, giảng dạy tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội, mỉa mai rằng: “Thật ngược đời, khi có những người không có trình độ về chuyên môn lẫn đạo đức mà được cử vào Hội Đồng này”.  

Về cấu trúc giáo dục. Trên trang Web “Vietnam Education” năm 1997, Việt Nam cộng sản dự trù tái cấu trúc hệ thống giáo dục Việt Nam từ năm 2000 như sau: Sau lớp Mẫu Giáo là bậc Tiểu Học từ lớp 1 đến lớp 5. Tiếp đến là Trung Học có 2 bậc: từ lớp 6 đến lớp 9 là trung học cơ sở, từ lớp 10 đến lớp 12 là trung học phổ thông. Song song với Trung Học Phổ Thông là Trung Học Chuyên Nghiệp với 2 năm học, và sau Trung Học Phổ Thông là Đại Học Cộng Đồng với 3 năm học. Đến bậc Đại Học với 4 năm tốt nghiệp cử nhân hay kỹ sư, nếu tiếp tục thêm 2 năm nữa sẽ là tiến sĩ. 

Chiều sâu của đại học Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu xa của đại học Liên Xô cũ, dù đất nước đó đã thay đổi chế độ và thay đổi nền giáo dục đến tận gốc rễ từ hơn chục năm qua. Giáo dục nước Nga ngày nay dựa theo kinh nghiệm giáo dục Châu Âu Châu Mỹ. Cái tai hại nặng nhất của giáo dục Việt Nam là trong Pháp Quy Giáo Dục, tại điều 52 có ghi rằng: “Tổ chức đảng cộng sản Việt Nam trong các trường tư thục, ở vị trí lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo Đoàn Thanh Niên cộng sản, lãnh đạo Đội Thiếu Niên Tiền Phong, và Sao Nhi Đồng. Mọi hoạt động phải theo quyết định của Bộ Giáo Dục và điều lệ của tổ chức liên hệ. Nghĩa là, dù là học sinh sinh viên theo học tại các trường tư thục, vẫn không thoát khỏi sự kềm kẹp của đảng cộng sản!

Về thời lượng giảng dạy. Theo giáo sư Nguyễn Đình Trí, giảng dạy tại Đại Học Bách Khoa Hà Nội: “Công tác đào tạo có gia tăng nhưng cơ sở cũng như mọi phương tiện giáo dục chẳng những không tăng mà cũng không cải tiến gì mới. Thời lượng trung bình là 1.177 giờ trong một năm học. Đó là số giờ chánh thức, các giáo sư còn phải chạy đua dạy kèm để có thêm lợi tức cho cuộc sống. Trong nhiều hoàn cảnh đối với giáo sư, lợi tức dạy kèm là chánh, dạy học tại trường lớp trở thành phụ. Tiến sĩ Bửu Sao lấy tin từ Nghiệp Đoàn Giáo Dục Sài Gòn, lương tháng của Giáo Viên gần 1.000.000 đồng Việt Nam, tương đương khoảng 60 mỹ kim. Giáo viên mới ra trường sư phạm, lương tháng khoảng 516.000 đồng Việt Nam, tương đương 35 mỹ kim. Chính đồng lương như vậy đã thúc giục giáo viên giáo sư, phải dạy kèm mới có thể đương đầu với giá sinh hoạt”. 

Theo Giáo sư Thạch Trung Giá (Nha Trang): “… Giáo dục phải đào tạo cái hồn, từ người lãnh đạo cao nhất đến những chuyên viên các ngành các cấp, đến toàn thể dân tộc, tất cả phải được trang bị một ý thức lành mạnh về cộng đồng. Nếu một nền giáo dục mô phỏng  thiếu linh động, sẽ đào tạo một xã hội lệch lạc, và dân tộc chuẩn bị đưa nhau xuống vực thẳm”.  Ông mượn lời của sử gia Guizotia (người Pháp) để chỉ tình trạng giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Trí dục không đi đôi với đức dục, sẽ là nguồn gốc của tính kiêu ngạo, bất phục tùng, ích kỷ, và rất nguy hiểm cho xã hội”. 

Đúng vậy, vì xã hội Việt Nam trong mấy chục năm trở lại đây, đã cung cấp hằng ngàn hằng vạn trường hợp điển hình về hệ quả của nền giáo dục sai lầm. Rõ ràng là nền giáo dục sai lầm đã dẫn đến xã hội đổ vỡ về giá trị đạo lý, thậm chí là đổ vỡ nền văn hoá dân tộc.      

Theo Giáo Sư Hoàng Tụy, nhóm nghiên cứu giáo dục Hà Nội cho biết: “Chương trình giáo dục Việt Nam trong bao nhiêu năm qua vẫn trong tình trạng lạc hậu, thi cử nặng nề mà phẩm chất rất kém. Sách giáo khoa cũng không thích ứng với hoàn cảnh đất nước, nghĩa là những cải cách trước đây không đạt được hiệu quả so với nhu cầu đất nước. Những sự kiện gian dối trong giáo dục cũng như trong thi cử, làm xói mòn niềm tin của tuổi trẻ lẫn của phụ huynh mà thành phần này luôn kỳ vọng vào nền giáo dục nước nhà, đã dẫn đến tình trạng ngày càng trở nên trầm trọng, thậm chí nó đánh mất niềm tin của mọi người trong xã hội”.

Cũng theo nhóm nghiên cứu giáo dục Hà Nội, ngày 23/2/2004, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ban hành Quyết Định, bắt buộc sinh viên đại học toàn quốc phải học và thi tốt nghiệp các môn học chính trị, bao gồm triết học Mác-Lê, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử đảng, và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 9/3/2004, và tất cả sinh viên không có quyền chọn lựa mà phải học theo giáo trình chọn sẳn. Các môn học bắt buộc này chiếm đến 203 giờ, bằng 9% toàn bộ chương trình đại học”.  

Theo ông Quốc Việt,một chuyên viên giáo dục tại Hà Nội nhận định: “Việc Bộ Giáo Dục bắt buộc sinh viên phải học các môn vô bổ này là một quyết định phản khoa học, không phù hợp với chuẩn mực giáo dục quốc tế. Đồng thời lãng phí thời gian học, lãng phí tiền thuế của đồng bào đóng góp cho ngân sách quốc gia, nhất là tước bỏ quyền chọn lựa môn học thích hợp của sinh viên”.  

Trong hội thảo tại Hà Nội hồi tháng 7 năm 2004 tổng kết sau thời gian cải cách giáo dục, với số đại biểu trong ngành giáo dục tham dự lên đến gần 1.000 người do Thủ Tướng chủ tọa, cho thấy tầm quan trọng của ngành này. Ông Trần Hồng Quân, Bộ Trưởng Giáo Dục trình bày diễn tiến và kết quả. Ông kết luận: “…Cuộc cải cách giáo dục trong thời gian qua là hoàn toàn thất bại. Vì cải cách theo quan niệm chắp vá chớ không cải cách toàn diện…”. Dựa theo kết luận đó, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu sử dụng câu nói của ông Phan Hiền để châm biếm cải cách giáo dục: “Sai đâu (thì) sửa đấy, sai đấy (nhưng) sửa (ở) đâu, (mà) sửa đâu (thì) sai đấy”.   

Tiến sĩ Trần Văn Hiển, giáo sư trường đại học Houston tại Clear Lake, ông thường được cử về Việt Nam giảng dạy khoa kinh tế tài chánh, đồng thời phụ trách chương trình giúp sinh viên Việt Nam du học Hoa Kỳ về khoa kinh tế. Theo giáo sư Hiển trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do (RFA): “Trên bảng xếp hạng về giáo dục năm 2005, Việt Nam ở thứ hạng 90/135 quốc gia. Nếu Việt Nam không thay đổi chương trình giáo dục và khoa giảng dạy, người Việt Nam sẽ mãi mãi làm những công việc gia công cho ngoại quốc mà thôi”.   

Với bảng xếp hạng năm 2004 trong danh sách 500 trường đại học nỗi tiếng trên thế giới, Việt Nam không có trường nào cả, trong khi Đài Loan nhỏ bé có đến 3 trường. Sự kiện này đủ nói lên trình độ thấp kém của nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tương xứng với nền kinh tế gia công hơn 20 năm qua kể từ năm 1987.   

Tất cả những hệ quả tóm tắt trên đây, đến nay là năm 2008 vẫn còn giá trị một phần hoặc nguyên vẹn.