4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết

Tổng Hội Cựu SVSQTB/TÐ/HN
Ủy Ban Thường Trực
Số 05/UBTT/NQ

Bảng tổng hợp
"Trận Chiến Nhân Quyền"

* * *

  • Căn cứ Quyết Nghị của Hội Ðồng Ðại Biểu kỳ 5 ngày 2/7/2006.
  • Căn cứ Kế Hoạch Công tác nhiệm kỳ 2006-2008.
"Trận Chiến Nhân Quyền" tại Việt Nam, dưới nét nhìn từ những quốc gia cũng như những tổ chức theo dõi Nhân Quyền trên thế giới, được trích dẫn và tổng hợp theo thứ tự thời gian. Bảng tổng hợp này gồm hai phần:

- Phần một là những vi phạm Nhân Quyền.

- Phần hai là những Tượng Ðài Thuyền Nhân và Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân.

Phần một. Vi phạm nhân quyền.

1. Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế.

Một "Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế" được thành lập trong Quốc Hội Hoa Kỳ, với nhiệm vụ thu thập những quốc gia vi phạm Nhân Quyền, đặc biệt là lãnh vực tự do tôn giáo, và công bố bản báo cáo hằng năm. Trường hợp quốc gia nào vi phạm Nhân Quyền trầm trọng, sẽ bị ghi vào một danh sách có tên "Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Ðặc Biệt", Anh ngữ là "Countries Particular Concern", gọi tắt là CPC. Nếu trong thời gian 6 tháng mà quốc gia đó không có sự tiến bộ đáng kể rõ rệt, Hoa Kỳ sẽ có những biện pháp trừng phạt buộc quốc gia đó phải cải thiện nếu muốn được xóa tên trong danh sách nói trên.

2. Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam.

Ngày 11 tháng 5 năm 1990, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, một trong những người tù lương tâm trên quê hương Việt Nam, dưới danh nghĩa Cao Trào Nhân Bản, đã phổ biến trong nước và hải ngoại Lời Kêu Gọi đòi tự do và nhân quyền cho Việt Nam.

Ngày 11 tháng 5 năm 1994, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Nghị Quyết SJ 168, chọn ngày 11 tháng 5 hằng năm là Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam. Và ngày này trở nên mạnh mẽ hơn khi Tổng Thống Bill Clinton ban hành Ðạo Luật 103-258 ngay trong tháng đó (tháng 5 năm 1994). Từ năm 1995, Cộng Ðồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản tại hải ngoại đã cùng phối hợp tổ chức Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ.

Kỷ niệm năm thứ 12 được tổ chức vào ngày 11 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Thượng Viện Hoa Kỳ, do Nghị Sĩ George Allen bảo trợ. Với sự tham dự của một số Nghị Sĩ Dân Biểu, nhiều vị đại diện của Bộ Ngoại Giao, Tổng Liên Ðoàn Lao Công, Freedom Now, Human Rights Watch, chánh phủ Miến Ðiện lưu vong, Phong Trào Dân Chủ Lào, ông Charles Goolsby, luật sư Pháp với tư cách cá nhân, đại diện nhiều tổ chức của Cộng Ðồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và từ Âu Châu đến. Một buổi hội luận với chủ đề "Quyền Công Nhân & Sự Tự Do Thành Lập Các Nghiệp Ðoàn Ðộc Lập Tại Việt Nam" được thực hiện trong buổi chiều cùng ngày.

3. Việt Nam trong danh sách CPC 2004.

Ngày 15 tháng 9 năm 2004, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bị liệt vào danh sách "Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Ðặc Biệt". Nhưng khi sắp đến hạn bị trừng phạt (15 tháng 3 năm 2005) thì hành pháp Hoa Kỳ chấp nhận gia hạn, bà Preeta D. Bansai, Chủ Tịch Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã mạnh mẽ chỉ trích Hành Pháp Hoa Kỳ: "Sự kiện hoãn trừng phạt này cho thấy Hành Pháp Hoa Kỳ không thi hành luật, chẳng khác nào cỗ súy các quốc gia khác không tôn trọng tự do tôn giáo cũng như các quyền tự do căn bản khác của con người".

4. Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Ngày 28 tháng 9 năm 2004, ông Micheal W. Marine, Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong bài phát biểu đầu tiên với các thành viên Phòng Thương Mại Hoa Kỳ tại Hà Nội. Theo đó, "Ông hài lòng về tiến bộ kinh tế và chính trị từ khi hai nước thiết lập bang giao năm 1995. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ mối quan ngại về những hạn chế mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam áp đặt đối với tự do tôn giáo và những người bất đồng chính kiến. Thực sự là có một con số đáng kể các công dân Việt Nam không được tự do tín ngưỡng và hành đạo theo ý muốn. Ðây là điều mà Hoa Kỳ không thể làm ngơ. Ông cũng nói rằng, tới đây, cùng lúc với cố gắng tìm cách đẩy mạnh phát triển kinh tế thương mại, ông sẽ tiếp tục thúc đẩy lãnh đạo cộng sản Việt Nam tiến bộ một cách cụ thể trong các lãnh vực nhân quyền và nhất là tự do tôn giáo, đặc biệt là ông sẽ nhấn mạnh về những lãnh vực cần phải cải thiện nhiều hơn nữa."

5. Phóng Viên Không Biên Giới.

Ngày 26 tháng 10 năm 2004, Phóng Viên Không Biên Giới đã công bố "Bảng Xếp Hạng Thế Giới Kỳ 3 Về Sự Tôn Trọng Quyền Tự Do Báo Chí" của 167 quốc gia. Giống như năm 2003, tiønh trạng các quốc gia Châu Á bị coi là tồi tệ nhất với 9 trong số 15 quốc gia đứng cuối bảng. Nước Cam Bốt hạng 109, nước Lào hạng 153, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của ông Nông Ðức Mạnh đứng hạng 161, nước cộng sản Bắc Hàn đội sổ với hạng 167. Bảng xếp hạng này nhấn mạnh rằng, từ sau khi các quốc gia cộng sản Ðông Âu sụp đổ, ba quốc gia cộng sản Trung Hoa, Việt Nam, và Cuba, là ba nhà tù lớn nhất đối với giới cầm bút tại các quốc gia đó.

Với bảng xếp hạng trên đây cho thấy, sau khi khối cộng sản Liên Sô - Ðông Âu sụp đổ, trên thế giới chỉ còn lại các nước Bắc Hàn, Cu Ba, Trung Hoa, Việt Nam, vẫn bám giữ chủ nghĩa cộng sản với chế độ độc tài. Và các quốc gia này tranh nhau độc quyền chiếm hữu thành tích hủy diệt Nhân Quyền, bao gồm truyền thông báo chí và tự do tôn giáo.

"Phóng Viên Không Biên Giới" đề cập đến số phận của rất đông ký giả bị cầm tù, và quả quyết rằng, Trung Hoa với Cu Ba là hai quốc gia cộng sản thân thiết của cộng sản Việt Nam, và là những nhà tù lớn nhất thế giới đối với những người hoạt động trong ngành thông tin báo chí.

Nhớ lại hồi đầu năm 2004 này, trong kỳ "Ðại Hội Mạng Lưới Pháp Thoại" (nói tiếng Pháp), Phóng Viên Không Biên Giới đã xếp hạng "Cai tù" về số tù nhân bị bắt chỉ vì phát biểu quan điểm dân chủ trên Net, Trung Hoa cộng sản "chiếm giải nhất" và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam "đoạt giải nhì", một loại giải thưởng vào hạng bại liệt trước sức năng động của ngành truyền thông hiện đại trên hoàn vũ.

6. Việt Nam trong danh sách CPC năm 2005.

Năm 2005, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố danh sách "Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Ðặc Biệt", và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vẫn còn nguyên trong danh sách đó. Sự kiện này được hiểu là tại Việt Nam, tình trạng vi phạm nhân quyền không có bước cải thiện nào đáng kể.

7. Thư của 43 nhà Lập Pháp Hoa Kỳ.

Ngày 6 tháng 6 năm 2005, 43 vị Dân Biểu và Nghị Sĩ Hoa Kỳ đã đồng ký tên vào lá thư gởi Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush, về những vi phạm tự do và vi phạm nhân quyền tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trước khi Tổng Thống tiếp ông Phan Văn Khải, Thủ Tướng cộng sản Việt Nam đến Hoa Kỳ trong những ngày hạ tuần tháng 6 năm 2005.

Sự kiện này được hiểu như là một cử chỉ của một số vị dân cử liên bang, vừa cảnh giác vừa thúc ép Tổng Thống quan tâm đến vấn đề tự do và nhân quyền tại Việt Nam khi tiếp Thủ Tướng cộng sản Việt Nam.

8. Ông Thủ Hiến tiểu bang Nam Australia.

Chiều ngày 12 tháng 8 năm 2005, một buổi tiếp tân trọng thể do ông Michael Atkinson, Bộ Trưởng Nội Vụ, Bộ Trưởng Ða Văn Hoá và Sắc Tộc tiểu bang Nam Úc, tổ chức tại phòng khánh tiết trong tòa nhà Quốc Hội tiểu bang, để "Vinh Danh Cộng Ðồng Việt Nam 30 Năm Tị Nạn tại tiểu bang Nam Úc". Buổi lễ do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Hằng trăm quan khách Việt Nam và Úc Ðại Lợi, trong số đó có nhiều viên chức của cơ quan lập pháp lẫn hành pháp tiểu bang, tham dự. Thủ Hiến Mike Rann, đã đọc một bài diễn văn thật xúc động mà Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn tại Nam Úc không thể nào quên được. Bài diễn văn được trích dẫn những đoạn sau đây:

Chúng ta không bao giờ được quên những người đã bỏ mình trong cuộc vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam trong thập niên 70. Chúng ta phải vinh danh Họ, và chúng tôi phải vinh danh quí vị, là những người đã sống sót để thuật lại câu chuyện như một chiến thắng vinh quang của mình, một câu chuyện về vô số người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản ác ôn áp bức từ năm 1975. Cuộc trốn chạy can trường của người Việt Nam, đã làm cho cả thế giới nói chung, và nước Úc nói riêng, phải kinh ngạc!

… Quí vị phải đương đầu với bão tố và hải tặc, với niềm hy vọng trông thấy một dãi đất nhân hậu bên kia chân trời để bắt đầu cho cuộc sống mới. … Sự đóng góp của quí vị đã tạo ra của cải cho tiểu bang Nam Úc, không chỉ về phương diện kinh tế, mà còn cả về phương diện xã hội và văn hoá nữa.

.. Tên của những người Úc gốc Việt trẻ tuổi học hành tận tụy, đã chiếm nhiều hàng tít lớn trên báo chí vào tháng Giêng hằng năm, khi mà kết quả các kỳ thi được công bố với số điểm tối ưu hoặc rất cao. Các em đó cũng học hành xuất sắc như thế ở bậc đại học. Thật ra, tuổi trẻ Việt Nam đã được đứng vững trên đôi vai phi thường của các bậc phụ huynh vĩ đại …"

…Cộng Ðồng người Việt cũng đã tiến hành những cuộc tranh đấu đòi hỏi những quyền căn bản cho mọi người dân đang sống tại Việt Nam. Ðó là những quyền mà mỗi con người đương nhiên được hưởng, như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do đi lại, quyền không bị ngược đãi bằng bất cứ hình thức nào, ..v..v..

… Chánh phủ do tôi lãnh đạo, và cá nhân tôi, đứng về phía quí vị trong cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ, nhằm mang lại tự do và những quyền căn bản cho mỗi con người Việt Nam trên quê hương của quí vị. Vì vậy, trong khi chúng ta tán dương những thành tựu của Cộng Ðồng người Việt tại đây, chúng ta cũng công nhận sự nghiệp đấu tranh cho người Việt tại Việt Nam."

9. Nghị Quyết của Quốc Hội Âu Châu.

Ngày 1 tháng 12 năm 2005, tại trụ sở Quốc Hội Âu Châu ở Brussels, 730 Dân Biểu của 25 quốc gia thuộc các khu vực Ðông Âu, Tây Âu, và Bắc Âu, thành viên của Liên Hiệp Âu Châu, bao gồm nhiều đảng phái chính trị với những khuynh hướng khác nhau, đã đồng thuận khi biểu quyết một Nghị Quyết, đòi lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải thực hiện không chậm trễ, việc trả tự do cho các nhân vật bất đồng chính kiến, đặc biệt là đòi Việt Nam phải tổ chức bầu cử tự do trên căn bản đa đảng. Ðồng thời, thực hiện quyền tự do báo chí.

Sự kiện đáng quan tâm là trong số 25 quốc gia thành viên, có đến 10 quốc gia cộng sản cũ thuộc khu vực Ðông Âu, nhưng hoàn toàn đồng thuận một quan điểm về vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, quốc gia mà trước kia là "đồng chí" của họ.

Ông Ian Pearson, Bộ Trưởng Thương Mại & Ðặc Trách Nhân Quyền Bộ Ngoại Giao Anh quốc, đang là Chủ Tịch luân phiên của Liên Hiệp Âu Châu, phát biểu sau khi Nghị Quyết được thông qua: "Tôi chào mừng sự quan tâm của Quốc Hội Âu Châu trên vấn đề hôm nay. Ðặc biệt là cuộc điều trần quan trọng ngày 12 tháng 9 năm 2005 dẫn đến Nghị Quyết này. Tôi biết rất rõ về tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng tại ba nước Việt Nam, Cam Bốt, và Lào. Ví dụ như tại Bộ Ngoại Giao, trong năm nay đã nhận được 100 thư khiếu nại của các Dân Biểu Anh quốc về những vụ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Tôi mừng rằng, sau cuộc điều trần nói trên, nhà cầm quyền Việt Nam đã để cho Liên Âu gặp thăm Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Tôi sẽ nêu vấn đề này và đưa ra một danh sách tù nhân phải được trả tự do, trong cuộc gặp gỡ và đối thoại về nhân quyền với phái đoàn nhà cầm quyền Việt Nam vào ngày 12 tháng 12 sắp tới (2005)".

Trích dẫn câu trả lời của vài vị Dân Biểu Âu Châu trong cuộc phỏng vấn của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris:

- Dân Biểu Charles Tannock: "Trên căn bản một Quốc Hội từ nhiều đảng chính trị của nhiều quốc gia, người ta thấy rõ tầm quan trọng về sự kiện lên án tình trạng nhân quyền tồi tệ tại 3 nước Ðông Dương cũ, nhất là tại Việt Nam đối với các tôn giáo, Tôi đã nhân danh đảng Biønh Dân Âu Châu và đảng Dân Chủ Âu Châu, là hai đảng chiếm đa số tại Quốc Hội Âu Châu, đã thảo luận và tất cả đều đồng tiønh với Nghị Quyết này".

- Dân Biểu Graham Watson: "Chúng tôi cảm nhận sự cạn kiệt nỗ lực nhưng vẫn không thể cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, nên Quốc Hội Âu Châu chúng tôi chứng tỏ quyết tâm nhằm thuyết phục lãnh đạo cộng sản Việt Nam, phải cải thiện và làm thăng tiến sự tự do của con người tại đó. Chúng tôi tiếp tục gây sức ép cho sự đổi thay này. Việt Nam phải nhận rõ là ý thức hệ cộng sản không có khả năng đáp ứng được giø cho một xã hội muốn vươn lên. Tuy chậm so với nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng sự nối kết hằng trăm hằng ngàn hành động cá nhân dũng cảm, tổ chức dũng cảm, chắc chắn quí vị sẽ thiết lập được nền dân chủ đa nguyên cho quí vị và dân tộc của quí vị".

10. Dân Biểu Hoa Kỳ Christopher Smith.

Ngày 3 tháng 12 năm 2005, ông Christopher Smith, Dân Biểu Hạ Viện Hoa Kỳ trong chuyến sang Việt Nam, đã tiếp xúc trực tiếp với Linh mục Phan Văn Lợi tại nhà riêng của Linh mục ở Huế. Ðây cũng là nơi mà Linh mục đã và đang bị giam lỏng mà Công An cộng sản gọi là "quản chế tại gia". Cùng đi với Dân Biểu Smith, có bà Eleanor Nagy phụ tá của Dân Biểu, và ông Robert Silberstein, chuyên viên chính trị tại tòa Tổng lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn.

Linh mục Lợi rất thẳng thắn khi trình bày quan điểm của mình, dù biết là viên chức cộng sản tuy ngồi ở nhà dưới nhưng cái máy thu băng của hắn đặt bên cạnh Linh mục. Quan điểm đấu tranh của Linh mục rất rõ ràng:

- Tự do tôn giáo là sự độc lập của tôn giáo với nhà cầm quyền để thực hiện chức năng của hàng giáo phẩm, đồng thời phụng sự xã hội bằng mọi phương tiện, kể cả truyền thông.

- Xóa bỏ Pháp Lệnh Tôn Giáo ban hành tháng 11 năm 2004, và Pháp Lệnh ban hành tháng 3 năm 2005.

- Xóa bỏ Ðiều 4 trong Hiến Pháp.

- Ðòi hỏi bầu cử đa đảng.

- Và phúc lợi lớn lao mà Hoa Kỳ có khả năng giúp cho nhân dân Việt Nam là dân chủ hóa chính trị, hơn là tư bản hóa xã hội.

Sau một tiếng đồng hồ hỏi và trả lời, trước khi từ giả, Dân Biểu Smith nói rằng: "Chúng ta nên bất tử hóa giây phút lịch sử này" (We must immortalize this historic moment). Và ông đề nghị chụp vài tấm ảnh kỷ niệm giây phút ấy.

Khi trở về Hoa Kỳ, Dân Biểu Christopher Smith tuyên bố chánh thức rằng: "Chính sách đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội là không thể chấp nhận được. Hành Pháp Hoa Kỳ phải ràng buộc Việt Nam cam kết thật sự tôn trọng nhân quyền, dân quyền, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do bầu cử, ..v..v.. khi thương thảo vấn đề xét cho Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc tế (WTO).

11. Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới

Ngày 7 tháng 12 năm 2005, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đã công bố danh sách trao giải thưởng năm 2005 cho các tổ chức và những cá nhân, được đánh giá là đã dũng cảm bày tỏ thái độ hay lập trường, biểu thị một quyết tâm mạnh mẽ đối với quyền tự do ngôn luận. Trong danh sách trao giải dự khuyết có Bác sĩ Phạm Hồng Sơn.

Xin nhắc lại rằng, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ vì dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ một tài liệu phổ biến trên NET của tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ về "Dân Chủ Là Gì", mà bị tòa tuyên án 5 năm tù giam và 3 năm quản chế tại nhà.

12. Ủy Ban Nhân Quyền Australia - Việt Nam.

Theo thông cáo báo chí ngày 16 tháng 3 năm 2006 của Ủy ban Nhân Quyền Australia-Việt Nam (Cộng Ðồng tị nạn tại Australia), Dân Biểu Luke Donnellan, tiểu bang Victoria, đã sang Việt Nam ngày 11 tháng 3 năm 2006 và lần lượt tiếp xúc với một số công nhân trong số hằng chục ngàn công nhân tham gia đình công, và Kỹ sư Ðỗ Nam Hải tại Sài Gòn. Ông cũng tiếp xúc được với Linh mục Nguyễn Văn Lý và Linh mục Phan Văn Lợi tại Huế.

Ông đến Việt Nam với tư cách du lịch, vì lãnh đạo cộng sản Việt Nam không cấp chiếu khán nhập cảnh cho ông với tư cách Dân Biểu. Có thể họ nghi ngờ ông đến Việt Nam liên quan đến vấn đề Nhân Quyền, nhưng Dân Biểu Luke vẫn đến được Việt Nam và tiếp xúc với các vị mà ông cần gặp.

Sau năm ngày trên đất Việt Nam, Dân Biểu Luke Donnellan nhận xét rằng: "Cộng sản Việt Nam đã có thành tích vi phạm những quyền căn bản của người dân, bao gồm các quyền tự do tôn giáo, tự do phát biểu, và tự do hội họp. Những tổ chức nhân quyền quốc tế như Ân Xá Quốc tế, Human Rights Watch, Ủy Ban Bảo Vệ Các Phóng Viên Báo Chí, gần như đồng loạt lên án những hành vi bạo ngược của nhà nước cộng sản Việt Nam".

Khi được biết nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tịch thu máy computer của Kỹ sư Ðỗ Nam Hải ngày 7 tháng 4 năm 2006, Dân Biểu Luke Donnellan liền gởi tặng chiếc computer mới. Hành động này chứng tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa chính trị Việt Nam nói chung, và nhà tranh đấu trẻ Phương Nam Ðỗ Nam Hải nói riêng.

13. Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006.

Ngày 8 tháng 4 năm 2006, bản "Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006" do những nhà đấu tranh dân chủ trong nước phổ biến tại Việt Nam và tại hải ngoại bằng nhiều phương tiện khác nhau, mà phương tiện thông dụng nhất là mạng lưới thông tin toàn cầu (NET). Bản Tuyên Ngôn này có 118 chữ ký gồm những thành phần khác nhau trong xã hội, và cư ngụ tại nhiều địa phương khác nhau từ Nam ra Bắc. Chỉ một tháng sau -ngày 8 tháng 5 năm 2006- số vị ký tên vào Bản Tuyên Ngôn lên đến 424 người. Theo thông cáo của Khối 8406 tính đến ngày 8/8/2006, số người ký tên ủng hộ lên đến 3.857 người (1.839 người trong nước và 2.018 người tị nạn tại hải ngoại).

Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ dài năm trang giấy, đòi hỏi một hệ thống chính trị đa nguyên đa đảng, đòi hỏi tự do thông tin, tự do chính kiến, tự do tôn giáo, tự do tham gia vào các công đoàn lao động độc lập, tự do hội họp, tự do thành lập các hội đoàn, tự do thành lập đảng chính trị, và tự do tham gia ứng cử.

Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ phổ biến ngày 8 tháng 4 năm 2006, còn gọi là "Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006", hay gọi ngắn gọn là "Khối 8406".

14. Ủng hộ Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006.

Từ địa chỉ e-mail vietsi2002@yahoo.com. Ngày 11 tháng 5 năm 2006, Tổ Chức Nhân Quyền Quốc Tế -Human Rights Watch- có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, đã công bố lời kêu gọi ủng hộ bản "Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006".

Mở đầu bản văn với đòi hỏi: "Chính quyền Việt Nam phải chấm dứt ngay việc đàn áp các thành viên của Phong Trào Dân Chủ & Nhân Quyền vừa hình thành".

Ông Brad Adams, Giám Ðốc Human Rights Watch tuyên bố: "Thực rất đáng kể, khi hằng trăm công dân khắp nước Việt Nam đã bạo dạn bày tỏ bằng thỉnh nguyện đơn về sự ủng hộ của họ cho việc thay đổi chính trị. Tại Việt Nam, hành động ký các văn bản như thế, thường sẽ dẫn đến việc bị Cảnh sát điều tra, bắt giam, và tù tội".

Cũng theo lời ông Brad Adams: "Việt Nam không thể hy vọng đạt được tính cách hợp pháp quốc tế, nếu còn tiếp tục trấn áp những lời kêu gọi nhân quyền, đa nguyên chính trị, và tự do tôn giáo".

Ðối với sự thay đổi những nhân vật già nua bằng những nhân vật trẻ trong đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10 hồi tháng 4 vừa qua, ông Brad Adams nêu câu hỏi: "Liệu thế hệ trẻ này có phóng khoáng hơn đối với sự bất đồng chính kiến và chủ thuyết đa nguyên, hay họ cũng sẽ tiếp tục đàn áp những quyền dân sự và chính trị căn bản?"

15. Ủng hộ Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006.

Ngày 23 tháng 5 năm 2006, tại Praha, thủ đô Tiệp Khắc, 51 nhân sĩ trong nhóm "Hiến Chương 77" đồng ký tên vào lá thư gởi các thành viên Phong Trào Dân Chủ Tự Do Cho Việt Nam, để bày tỏ sự ủng hộ của nhóm này. Trích dẫn:

"Chúng tôi đã đọc bản "Tuyên Ngôn Dân Chủ Tự Do cho Việt Nam 2006" của các bạn. Chúng tôi rất trân trọng tinh thần can đảm của các bạn trong hoàn cảnh chính trị tương tự như ở nước chúng tôi năm 1977, khi văn bản đầu tiên của "Hiến Chương 77" được công bố. Chúng tôi biết rằng, các bạn đang phải hứng chịu nguy cơ bị các cơ quan chính quyền truy nã, và chúng tôi tin rằng mỗi biểu hiện đoàn kết sẽ tăng cường sức mạnh cho các bạn".

"Việt Nam không phải là đất nước xa lạ với chúng tôi… Ðã có nhiều công dân Việt Nam đến làm việc, học tập, và nay họ trở thành một bộ phận của xã hội chúng tôi... Chúng tôi không thờ ơ trước vận mệnh đất nước Việt Nam".

"Chúng tôi tin rằng, tiếng nói của các bạn sẽ không bị bóp nghẹt. Cho dù về mặt hình thức thì Hiến Chương 77 đã ngừng hoạt động sau tháng 11 năm 1989, nhưng chúng tôi rất lấy làm vui mừng được bày tỏ sự ủng hộ đối với các bạn qua tư cách cá nhân. Chúng tôi xin chúc cho nỗ lực của các bạn, sẽ dẫn đến việc thiết lập nền tự do trong khoảng thời gian ngắn hơn là chúng tôi đã đạt được trong phong trào Hiến Chương 77".

16. Ủng hộ Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006.

Ngày 30 tháng 5 năm 2006, 50 vị Dân Biểu Hoa Kỳ đã ký tên chúng vào bức thư gởi các công dân Việt Nam đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006. Vị ký tên thứ nhất là Dân Biểu Loretta Sanchez và vị ký tên thứ 50 là Dân Biểu Ed Royce. Trích dẫn:

"Chúng tôi xin chân thành bày tỏ sự hỗ trợ, khích lệ, và kính trọng đối với 116 công dân Việt Nam đã ký tên ngày 6 tháng 4 năm 2006 vào Lời kêu Gọi Cho Quyền Thành Lập Và Hoạt Ðộng Ðảng Phái Tại Việt Nam, và 118 công dân Việt Nam đã ký tên ngày 8 tháng 4 năm 2006 vào Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam…."

"…Những văn kiện này đã cho thấy rõ, mặc dầu tình trạng tự do mỗi nơi còn khác biệt, nhưng khát vọng tự do thì ở đâu cũng như nhau.

"Chúng tôi hy vọng lá thư này sẽ nhắc nhở cho những ai có ý đồ muốn bóp nghẹt những tiếng nói đòi tự do hoặc toan tính đe dọa hay đàn áp những người dân bày tỏ quan điểm của họ một cách bất bạo động là một sự vi phạm nhân quyền, và mâu thuẫn với mọi hình ảnh ổn định và tiến bộ…Ðây là điều mà toàn thế giới đang theo dõi"

"Với tất cả những ai đang sống tại Việt Nam đã ký tên vào những văn kiện lịch sử này, sự can đảm và quyết tâm của quí vị để bảo vệ tư do của con ngưởi bằng những phương tiện bất bạo động, là tấm gương sáng cho đồng bào cả nước, cho chính chúng tôi, và cho toàn thế giới. Chúng tôi cam kết sẽ sát cánh cùng quí vị trong cuộc tranh đấu này".

17. Tham gia Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006.

Ngày 4 tháng 6 năm 2006, 50 công dân Việt Nam tại tỉnh Thái Bình đã cùng ký tên vào lá thư gởi ông Hoàng Minh Chính, Linh mục Nguyễn Văn Ký, Linh mục Phan Văn Lợi, Giáo sư Trần Khuê, Kỹ sư Ðỗ Nam Hải, Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, và Giáo sư Nguyễn Chính Kết. Lá thư cũng đề gởi dư luận nhân dân trong nước, đồng bào hải ngoại, và nhân dân yêu chuộng tự do trên thế giới. Những vị ký tên có ghi địa chỉ rõ ràng, có hình chụp kèm theo cho thấy là những người bằng xương bằng thịt. Vị ký tên thứ 1 là ông Hoàng Hữu Cam ở huyện Thái Thụy, và vị ký tên thứ 50 là ông Bùi Gia Trạch ở huyện Quỳnh Phụ. Dưới đây là trích dẫn và tóm tắt:

"Chúng tôi là những đảng viên cộng sản, những cựu chiến binh thương binh, những cán bộ, và những gia điønh liệt sĩ đang nghỉ hưu, cùng với những thường dân. Ðược biết những vị đấu tranh cho dân chủ tự do, bất chấp hiểm nguy từ phía bạo quyền cộng sản, đã phổ biến bản Tuyên Ngôn Dân Chủ ngày 8 tháng 4 năm 2006, với 118 chữ ký thuộc mọi thành phần trong xã hội. Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006 đã được sự ủng hộ rộng rãi của dư luận Hoa Kỳ, Úc Châu, Âu Châu, và đồng bào hải ngoại. Từ lâu nay, những người cầm quyền chỉ đại diện cho một nhóm tầng lớp cai trị áp bức độc đoán độc tài tham nhũng và bảo thủ, chớ không đại diện cho các tầng lớp nhân dân nói chung, và tầng lớp nông dân nói riêng".

"Văn kiện lịch sử quan trọng này đã phản ảnh đúng mong muốn nóng bỏng của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi tự nguyện tự giác xin được ký tên vào bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006. Sự tham gia này là một vinh dự cho chúng tôi, mặc dầu chúng tôi vẫn biết là sẽ bị Công An tìm mọi cách trù dập hãm hại mọi bề. Chúng tôi mong dư luận trong nước và hải ngoại, hãy quan tâm sát sao và kịp thời bảo vệ những công dân ký tên trong bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006".

18. Quyết Nghị của Văn Bút Quốc Tế.

Ðại Hội Ðại Biểu Văn Bút Quốc Tế lần thứ 72 tại thành phố Berlin, Cộng Hòa Liên Bang Ðức, từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 5 năm 2006, với sự tham dự của Ðại Biểu từ 100 Trung Tâm Văn Bút, trong số 141 Trung Tâm Văn Bút thuộc 101 quốc gia. Trong phiên họp khoáng đại ngày 27/5/2006, dự thảo Quyết Nghị về nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo, được sự ủng hộ của các Trung Tâm Văn Bút Algérie, Anh quốc, Arménia, Ba Lan, Bỉ Pháp thoại, Bồ Ðào Nha, Catalan, Gia Nã Ðại, Guatemala, Hoa Kỳ, Hòa Lan, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Macédoine, Mễ Tây Cơ, Pháp quốc, Québec, San Miguel de Allende, Slovaquie, Slovénie, Sydney, Tân Tây Lan, Thái Lan, Thụy Sĩ Ðức thoại, Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-Romanche, Triều Tiên (Nam Hàn), Ðài Loan, Việt Nam hải ngoại, Ý Ðại Lợi, và Zambie.

Tất cả Ðại Biểu Ðại Hội đã đồng thanh chấp thuận Quyết Nghị:

"Lên án mạnh mẽ áp lực của các cán bộ an ninh và cai ngục đối với các tù nhân và thân quyến để lấy bản tự phê tự kiểm của họ. Lên án riêng biệt những "buổi làm việc" (thẩm vấn kéo dài vô tận) tại các Sở Công An, và những "buổi nghe dân tố cáo" do nhà cầm quyền tổ chức, để phê bình và khiển trách các nhà văn và nhà báo độc lập bị coi như "những kẻ phản bội và kẻ thù công cộng".

"Ðòi chánh phủ nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, phóng thích tức khắc và vô điều kiện tất cả những người vì đã hành sử quyền tự do phát biểu của họ, còn bị giam nhốt, trong đó có các ông Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình,Vũ Ðiønh Thụy, hoặc còn bị quản chế hay câu lưu hành chánh và quản thúc tại nhà, trong đó có Hòa Thượng Thích Huyền Quang 89 tuổi, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ 78 tuổi, ông Lê Chí Quang, ông Nguyễn Ðiønh Huy, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, ông Nguyễn Ðan Quế, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, và ông Nguyễn Khắc Toàn".

"Chấm dứt tất cả những hành vi sách nhiễu, hăm he và làm nhục, những vụ bắt giữ độc đoán và truy tố ra tòa, những biện pháp trừng phạt về kinh tế và tài chánh đối với những nhà văn và nhà báo độc lập, như trường hợp ông Hoàng Minh Chính, Kỹ Sư Ðỗ Nam Hải, nhà thơ Hà Sĩ Phu".

"Cải thiện chế độ lao tù và cho phép những tù nhân đau yếu được vào bệnh viện, được săn sóc điều trị thích hợp, và được gia điønh thân nhân thăm nom".

"Bải bỏ kiểm duyệt và điønh chỉ mọi hạn chế đối với quyền tự do phát biểu, tự do báo chí, tự do sáng tạo và xuất bản".

19. Nạn buôn người tại Việt Nam.

Ngày 5 tháng 6 năm 2006, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình về tệ nạn buôn người trên thế giới. Việt Nam vẫn nằm trong "nhóm cấp 2", tức là nạn buôn bán phụ nữ dưới hình thức "những cô dâu" sang các nước Ðông Á và Ðông Nam Á. Bản phúc trình cũng đề cập đến tình hình xuất cảng lao động của Việt Nam không được giám sát thích đáng.

Phần hai. Bia tưởng niệm và tượng đài Thuyền Nhân.

Bia Tưởng Niệm, Tượng Ðài Tưởng Niệm, và Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân, là những biểu tượng góp phần lưu giữ chứng tích tội ác của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, từ sau khi vi phạm trầm trọng Thỏa Ước Hòa Bình ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, thủ đô Pháp quốc, xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Bia tưởng niệm.

1. Bia tưởng niệm trên đảo Bidon và đảo Galang.

Nhớ lại hồi tháng 3 năm 2005, vào khoảng 150 đồng hương trong Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn cộng sản từ Australia, Canada, Hoa Kỳ, và Thụy Sĩ, cùng hội ngộ tại Malaysia và Indonesia để thăm lại những ngôi mộ của những thân nhân hoặc bạn đồng hành đã vượt thoát chế độ cộng sản độc tài trên hành trình tìm tự do, nhưng đã nằm lại trong lòng đất nơi đây, xứ lạ quê người! Cũng là cơ hội cùng nhau dựng "Bia Tưởng Niệm" trên đảo Bidong (của Malaysia) và đảo Pulau Galang (của Indonesia). Bia có kích cở, ngang 1 thước và cao 3 thước, do công ty Bold Express của Singapore làm trung gian với công ty Bida cung cấp.

Theo báo Jakarta Post ấn hành ngày 20 tháng 6 năm 2005 tại thủ đô Indonesia, ông Trần Ðức Lương, Chủ Tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã yêu cầu Tổng Thống Indonesia (ông Susilo) khẩn cấp phá bỏ bia tưởng niệm trên đảo Pulau Galang vì đã xúc phạm đến Việt Nam. Nhân viên bảo trì công viên, ông Mursidi nói với phóng viên rằng: "Lệnh phá bỏ bia tưởng niệm phải thực hiện ngay tức khắc, đến mức phải dựng mái lều dưới cơn mưa trong đêm tối, để làm công việc đục bỏ phần có những hàng chữ trên bia." Còn Anne Oh, người điều hợp công ty Bold Express cho biết: "Chánh phủ cộng sản Việt Nam không chỉ đòi phá bỏ bia tưởng niệm tại Galang, mà họ còn đòi phá bỏ bia trên đảo Bidong bên Malaysia nữa".

Hành động của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, chứng tỏ là họ rất sợ những chứng tích nói lên tội ác của họ, dù chứng tích đó thể hiện qua những vật thể nào ở bất cứ nơi đâu, là họ sử dụng mọi loại phương cách để phá bỏ nó. Nhưng cả cái Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam, không bao giờ và cũng không thể nào phá bỏ được những chứng tích tội ác của họ trong mỗi người Việt Nam không cộng sản. Hơn thế nữa, nó còn là dấu ấn sâu đậm trong mỗi người Việt Nam tị nạn cộng sản!

2. Thư phản đối của Dân Biểu Loretta Sanchez.

Sau khi chánh phủ Malaysia và Indonesia thỏa thuận lời yêu cầu của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, đã ra lệnh khẩn cấp đục bỏ những dòng chữ trên hai bia đá "Tưởng Niệm Thuyền Nhân" tại đảo Bidong của Malaysia và đảo Galang của Indonesia, nữ Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez, ngày 22 tháng 6 năm 2005, đã gởi thư cho ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Malaysia. Trong thư có đoạn:

"… Là đại diện của địa hạt 47 (Nam Caifornia) thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ, nơi cư trú đông đảo nhất của người Việt Nam tại hải ngoại. Tôi viết thư này để bày tỏ sự quan tâm của cư dân địa hạt 47 về hành động phá hủy đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân trên đảo Pulau Bidong.

Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân, là để ghi nhớ hằng trăm ngàn người Việt Nam đã bỏ mình nơi biển cả trên đường tìm tự do. Ðồng thời cũng là biểu dấu lòng tri ân của Cộng đồng Người Việt tị nạn tại hải ngoại đối với nhân dân Malaysia, Hội Malaysian Red Cresent Society, và chánh phủ Malaysia, đã cưu mang những thuyền nhân Việt Nam.

Quyết định phá hủy Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân đã gây kinh ngạc cho rất nhiều cư dân của chúng tôi, vì chúng tôi tin rằng Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân có chức năng tích cực, cũng là biểu tượng thiêng liêng của Tự Do.

Tôi xin cam kết sự ủng hộ của tôi trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Malaysia, và hy vọng là chánh quyền Malaysia sẽ tái xét quyết định phá hủy Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân".

3. Bia tưởng niệm tại Genève, Thụy Sĩ.

Nguồn tin từ e-mail Diễn Ðàn Nước Việt do Thanh Thảo tường trình. Ngày 9 tháng 2 năm 2006, Cộng Ðồng Viêt Nam ở Thụy Sĩ đã tập trung về thành phố Grand Saconnex, Genève, dự lễ khánh thành Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Buổi lễ dưới quyền chủ tọa của bà Elizabeth Boehler, Thị Trưởng thành phố Grand Saconnex, và là Phó Chủ Tịch đảng Parti Radical thành phố Genève. Bia Tưởng Niệm đặt trong khuôn viên Campagne du Château Pictet, một khung cảnh thanh tịnh, yên lành.

Nhà báo Thierry Oppikofer, Chủ Tịch Ủy Ban Thụy Sĩ - Việt Nam, đã ca ngợi sự hỗ trợ mạnh mẽ của ông Michel Rossetti cựu Thị Trưởng thành phố Genève, và ông Pierre Marti, cựu Chủ Tịch Hội Ðồng thành phố Genève. Ông Trần Hữu Kinh, Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam cộng Hòa, thay mặt Cộng Ðồng Việt Nam cảm tạ chánh quyền thành phố Genève đã nhiệt tình giúp đỡ Thuyền Nhân Việt Nam tị nạn cộng sản. Sự kiện đặt Bia Tưởng Niệm hôm nay, thể hiện lòng nhân ái của chánh quyền và nhân dân Thụy Sĩ đối với Cộng Ðồng Việt Nam. Bà Thị Trưởng Elizabeth Boehler, bày tỏ lòng ngưỡng mộ những sự hi sinh của những người Việt Nam can đảm trên đường tìm tự do.

Sau phần nghi lễ, bà Thị Trưởng cùng ông Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam, kéo tấm màn phủ tấm Bia Tưởng Niệm. Do sự kiện Bia Tưởng Niệm tại Insonesia và Malaysia bị phá bỏ theo yêu cầu của cộng sản Việt Nam, nên Bia Tưởng Niệm này giữ theo hình thức của hai bia đó. Bia tưởng niệm và cây tùng được đặt trên một khung sỏi theo hình chiếc ghe. Những viên sỏi lớn tượng trưng cho sóng biển, tấm bia tượng trưng cho cánh buồm, cây tùng tượng trưng cho cột buồm. Cây tùng còn tượng trưng cho những người trẻ Việt Nam và Thụy Sĩ có gốc rễ ở nước này, sẽ mãi mãi không quên những người đã chết vì lý tưởng tự do, và thảm trạng này là khởi điểm của sự hình thành Cộng Ðồng Việt Nam tại Thụy Sĩ.

Bia làm bằng đá cẩm thạch đen, một bên là Anh ngữ "In memory of the exodus of the Boat People through out the world 1975 - 2005. The Vietnamese refugees are grateful to Switzerland and to the host countries. We are happy to live in a space of peace, freedom, and democracy. Vietnam, land of our ancestors, will forever be in our heart". Và một bên là Pháp ngữ "En souvenir de l’ exode des boat-people dans la monde 1975-2005. Les réfugie’s Vietnamiens remercient là Suisse et les pays d’accueil. Nous sommes heureux de vivre dans cet espace de paix, de liberté, et démocratie. Le Vietnam, pays de nos ancêtres, restera à jamais dans nos coeurs".Ðược dịch ra Việt ngữ như sau: "Tưởng niệm cuộc ra đi của những Thuyền Nhân trên thế giới 1975 - 2005. Người Việt tị nạn chân thành cám ơn Thụy Sĩ và các nước tiếp cư, đã giúp cho chúng tôi được sống hạnh phúc trong hòa bình, tự do, và dân chủ. Chúng tôi sẽ mãi mãi không quên quê hương Việt Nam, mãnh đất ngàn đời của Tổ Tiên để lại".

Viên chức tòa lãnh sự cộng sản Việt Nam tại đây đã can thiệp với chánh quyền Thụy Sĩ và thành phố Genève, nhưng tất cả sự can thiệp đều thất bại. Bia Tưởng Niệm này cách tòa lãnh sự của chúng chỉ 2 cây số, là cái gai trước mắt chúng nhưng chúng bó tay.

Sau lễ khánh thành, Bia Tưởng Niệm là món quà của Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn tặng cho thành phố Genève, và do Hội Ðồng thành phố quản trị.

4. Bia tưởng niệm tại Liège, Bỉ.

Nguồn tin từ e-mail của <Nguyen le Nhan Quyen>. Ngày 30 tháng 6 năm 2006, Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn tại Bỉ đã tập trung tại Công Viên D’Avroy, thành phố Liège, tham dự lễ khánh thành Bia Ðá Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Công Viên D’ Avroy là nơi có "Monument de la Résistance" kỷ niệm những người Tây Ban Nha tị nạn Franco. Buổi lễ do thành phố Liège và Cộng Ðồng Việt Nam tại Bỉ phối hợp tổ chức. Sau phần nghi lễ, ông Michel Firket Phó Thị Trưởng thành phố Liège, và ông Lê Hữu Ðào Chủ Tịch Cộng Ðồng Việt Nam, cùng kéo quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ phủ tấm Bia Tưởng Niệm.

Tổng quát thì Bia Tưởng Niệm này tương tự như Bia Tưởng Niệm ở thành phố Genève (Thụy Sĩ) đã khánh thành ngày 9 tháng năm 2006. Trên bia đá là chiếc thuyền đầy ấp người đang chông chênh trên sóng biển, với dòng chữ Pháp như sau: "En souvenir de l’ exode des boat-people dans la monde 1975-2006. Les réfugie’s Vietnamiens remercient Liège, la Belgique, et les pays d’accueil. Nous sommes heureux de vivre dans cet espace de paix, de liberté, et démocratie. Le Vietnam, pays de nos ancêtres, restera à jamais dans nos coeurs". Sau đó, ông Paul Allard, thuyền trưởng tàu dầu Maaskroon, đã xúc động khi tường thuật sự kiện ông và thủ thủy đoàn đã vớt được 61 "Thuyền Nhân Việt Nam" trên chiếc tàu mong manh.

Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam do Hội Ðồng thành phố Liège bảo quản.

Cũng như những nơi khác, cơ quan ngoại giao của cộng sản Việt Nam tại Bỉ đã can thiệp với Bộ Ngoại Giao và thành phố Liège, nhưng họ đã thất bại như đã thất bại tại Genève (Thụy Sĩ), tại Ottawa (Canada), tại Westminster (California, Hoa Kỳ), ..v..v…

Tượng Ðài Thuyền Nhân.

5. Tượng đài tại Ottawa, Canada.

Ngày 30 tháng 4 năm 1995, Liên Hội Người Việt Tị Nạn tại Ottawa, thủ đô Canada, đã long trọng khánh thành Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam, với sự tham dự của rất đông đồng hương và nhiều nhân vật chánh quyền tại thủ đô Ottawa. Ngay sau bức tượng đồng Người Mẹ Bế Con Thơ đang chạy trốn cộng sản, là những dòng chữ tưởng niệm, với bản đồ Việt Nam được bao tròn bởi nền vàng với ba sọc đỏ.

Viên đại sứ cộng sản Việt Nam tại Canada, đã phản đối mạnh mẽ ngay từ lúc Liên Hội Người Việt Canada bắt đầu. Ðến những ngày trước khi Tượng Ðài được khánh thành, họ vẫn liên tục vận động với Liên Hội Người Việt và Uỷ Ban Thực Hiện Tượng Ðài, để xóa bỏ hình bản đồ Việt Nam được bao tròn bởi nền vàng với ba sọc đỏ, đến những dòng chữ tưởng niệm, nhưng khi tiến sĩ Lê Duy Cấn yêu cầu viết thành văn những yêu cầu đó thì ông mới có yếu tố thảo luận, thì họ im lặng. Nghĩa là những viên chức trong tòa đại sứ cộng sản Việt Nam chỉ nói miệng chớ không dám dùng văn bản. Phía Ủy Ban Thực Hiện hoàn toàn giữ nguyên tất cả những gì ghi trong dự án. Liên Hội Người Việt và Ủy Ban Thực Hiện Tượng Ðài, đã thắng một cách vẻ vang. Vì vậy mà cộng sản Việt Nam không thành công trong cuộc vận động với chánh phủ Canada, và sự kiện này đã dẫn đến tình trạng lạnh nhạt trong bang giao giữa Canada với cộng sản Việt Nam một thời gian.

6. Tượng đài tại Nam California, Hoa Kỳ.

Theo bài viết của ký giả Nguyễn Hương Nhân do trainamky@aol.com chuyển trên NET, "Tượng Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân" là một công trình khởi xướng từ năm 1997 do nhà thơ nhà báo Thái Tú Hạp & Ái Cầm, cùng với ca nhạc sĩ Việt Dũng, ông bà Bác sĩ Lê Hồng Sơn & Thu Thủy, Chí Thiện & Minh Phượng, Giám Ðốc đài phát thanh Radio Bolsa, Luật sư Từ Huy Hoàng, Kiến trúc sư Bạch Hồng, Bác sĩ Ngô Phùng Hỷ, Ký giả Khúc Minh, Kỹ sư Tâm Ðan, nhà Ðiêu khắc Vi Vi, ..v..v.. , dẫn đến hình thành một "Ủy Ban Thực Hiện Dự Án Thuyền Nhân". Sau thời gian phối hợp nghiên cứu, và trải qua những khó khăn khi tiến hành các thủ tục, tượng đài được Thượng Tọa Thích Quảng Thanh, Viện Chủ chùa Bảo Quang, nhiệt tình hỗ trợ địa điểm lẫn tài chánh và công sức.

Trong khuôn viên chùa Bảo Quang mà người tổng hợp được trông thấy trên màn ảnh nhỏ đài SBTN đầu tháng 5/2006, một hồ nước tượng trưng biển cả, với hệ thống điện tử tạo sóng nhấp nhô, giữa hồ là chiếc thuyền mong manh. Trên thuyền là một tổ hợp pho tượng của một gia điønh nghèo gồm vợ chồng, đứa con nhỏ, và mẹ già, đang chới với trong cảnh hãi hùng của biển khơi! Một hệ thống ánh sáng, góp phần làm nổi bật những góc cạnh của một tượng đài thuyền nhân, vừa bi thương vừa hùng tráng!

Ðến đầu năm 2006, Tượng Ðài đã hoàn thành khoảng 70%. Mồng Một Tết Bính Tuất (đầu năm 2006) và sau đó, hằng ngàn đồng hương khi cầm nén nhang quyện khói đứng trước Tượng Ðài Thuyền Nhân, tưởng nhớ đến người thân đã bỏ mình đâu đó trên Biển Ðông hay Vịnh Thái Lan, đã không cầm được nước mắt!

Cũng đến đầu năm 2006, đã có khoảng 5.000 phương danh gởi đến Ủy Ban để khắc vào những bia đá đen đặt quanh Tượng đài. Theo ông Thái Tú Hạp và bà Thu Thủy, Ủy Ban Thực Hiện Dự Án Tượng Ðài Thuyền Nhân, dự trù sau lễ khánh thành Tượng Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân, Ủy Ban sẽ bàn giao Tượng Ðài cho Trung Tâm Văn Hoá Phật Giáo Việt Mỹ Phụng Sự Xã Hội quản trị, trước khi Ủy Ban giải tán. Thượng Tọa Thích Quảng Thanh, Viện Chủ chùa Bảo Quang, kiêm Giám Ðốc Trung Tâm Văn Hoá này.

Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân.

7. Dự án Viện Bảo Tàng tại Hoa Kỳ.

Theo bản tin Thời Sự Dân Sinh tháng 3 năm 2006 tại San Jose, ngày 14 tháng 3 năm 2006, nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, Giám Ðốc IRCC, và ông Phạm Phú Nam, Phụ Tá Ðiều Hành, tham dự buổi họp của Hội Ðồng Quản Trị Khu Vườn Lịch Sử Kelly (Kelly Historical Park) tại San Jose, tiểu bang California. Trước đó, ông David, Giám Ðốc Kelly Historical Park và Bà Phó Giám Ðốc, đến thăm cơ sở tạm thời của Viện Bảo Tàng Việt Nam trên đường Park, thành phố San Jose. Trong buổi họp, ông David công nhận những vật chứng trong khu trưng bày tạm thời, đã tạo một ấn tượng mạnh mẽ và rất xúc động.

Sau phần trình bày dự án và nhấn mạnh đến quyết tâm thực hiện của phía Việt Nam, toàn thể 18 thành viên Hội Ðồng Quản Trị đã bỏ phiếu thuận 100%, cung cấp cho phía Việt Nam ngôi nhà 2 tầng hiện có trong Khu Vườn Lịch Sử, để phía Việt Nam nới rộng, chỉnh trang, và tạo cảnh trí thích hợp cho một "Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân & Việt Nam Cộng Hòa". Bản thỏa ước được ký kết tại chỗ với thời hạn 30 năm trong điều kiện được tái tục vô thời hạn.

Một đề nghị tài trợ 400.000 mỹ kim đang được tiểu bang California cứu xét, song song với chương triønh gây quỹ 400.000 mỹ kim do IRCC phụ trách, để hoàn thành những bước đầu của dự án trong năm 2006 - 2007.

Những vật chứng trong khu trưng bày tạm thời ở San Jose, đã được mang đến trưng bày nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 4 năm 2006 tại Nam California, và đông đảo đồng hương đến thưởng lãm, đã công nhận là rất xúc động!

8. Dự án Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân tại Canada.

Theo tin cung cấp bởi Tiến Sĩ Lê Duy Cấn, Liên Hội Người Việt Canada, từ tháng 12 năm 2005, Liên Hội Người Việt Canada bắt đầu vận động gây quỹ cho dự án "Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân" tại Ottawa, thủ đô Canada, với mục đích trưng bày những vật chứng cùng những dữ kiện dân tộc Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản đi tiøm tự do, vĩ đại nhất và bi thảm nhất trong lịch sử nhân loại. Mẫu vẽ Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân là tòa nhà 2 tầng đối diện với Tượng Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân đã khánh thành ngày 30 tháng 4 năm 1995. Ngân khoản dự trù vào khoảng 2.000.000 Gia kim (tiền Canada), và dự trù thực hiện trong năm 2008-2010. Dự án này được hỗ trợ từ nhiều giới chức công quyền và đồng hương tại Ottawa. Rất mong được sự hưởng ứng và ủng hộ của đồng hương nhiều nơi trên thế giới. Xin liên lạc với Tiến sĩ Lê Duy Cấn, đại diện Ban Tổ Chức tại địa chỉ e-mail <hg_yen@yahoo.com>.

*****

Trân trọng cám ơn quí Ðồng Môn, quí vị và quí bạn trẻ, đã cung cấp những tài liệu góp phần hình thành bảng tổng hợp này./. 

Houston, 4 tháng 8 năm 2006.
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực
Alfa Phạm Bá Hoa (khóa 5)