Bảng
tổng hợp
"Trận
Chiến Nhân Quyền"
* * *
-
Căn cứ Quyết Nghị của
Hội Ðồng Ðại Biểu kỳ 5 ngày 2/7/2006.
-
Căn cứ Kế Hoạch Công
tác nhiệm kỳ 2006-2008.
"Trận Chiến Nhân Quyền"
tại Việt Nam, dưới nét nhìn từ những quốc gia cũng như
những tổ chức theo dõi Nhân Quyền trên thế giới, được
trích dẫn và tổng hợp theo thứ tự thời gian. Bảng tổng
hợp này gồm hai phần:
- Phần một là những
vi phạm Nhân Quyền.
- Phần hai là những
Tượng Ðài Thuyền Nhân và Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân.
Phần một. Vi phạm
nhân quyền.
1. Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo
Quốc Tế.
Một "Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo
Quốc Tế" được thành lập trong Quốc Hội Hoa Kỳ, với nhiệm
vụ thu thập những quốc gia vi phạm Nhân Quyền, đặc biệt
là lãnh vực tự do tôn giáo, và công bố bản báo cáo hằng
năm. Trường hợp quốc gia nào vi phạm Nhân Quyền trầm trọng,
sẽ bị ghi vào một danh sách có tên "Các Quốc Gia Cần Quan
Tâm Ðặc Biệt", Anh ngữ là "Countries Particular Concern", gọi
tắt là CPC. Nếu trong thời gian 6 tháng mà quốc gia đó không
có sự tiến bộ đáng kể rõ rệt, Hoa Kỳ sẽ có những biện
pháp trừng phạt buộc quốc gia đó phải cải thiện nếu
muốn được xóa tên trong danh sách nói trên.
2. Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam.
Ngày 11 tháng 5 năm 1990,
Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, một trong những người tù lương
tâm trên quê hương Việt Nam, dưới danh nghĩa Cao Trào Nhân
Bản, đã phổ biến trong nước và hải ngoại Lời Kêu
Gọi đòi tự do và nhân quyền cho Việt Nam.
Ngày 11 tháng 5 năm 1994,
Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Nghị Quyết SJ 168, chọn ngày
11 tháng 5 hằng năm là Ngày Nhân Quyền Cho Việt
Nam. Và ngày này trở nên mạnh mẽ hơn khi Tổng
Thống Bill Clinton ban hành Ðạo Luật 103-258 ngay trong tháng
đó (tháng 5 năm 1994). Từ năm 1995, Cộng Ðồng Việt Nam Tị
Nạn cộng sản tại hải ngoại đã cùng phối hợp tổ chức
Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ.
Kỷ niệm năm thứ 12
được tổ chức vào ngày 11 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở
Thượng Viện Hoa Kỳ, do Nghị Sĩ George Allen bảo trợ. Với
sự tham dự của một số Nghị Sĩ Dân Biểu, nhiều vị đại
diện của Bộ Ngoại Giao, Tổng Liên Ðoàn Lao Công, Freedom
Now, Human Rights Watch, chánh phủ Miến Ðiện lưu vong, Phong Trào
Dân Chủ Lào, ông Charles Goolsby, luật sư Pháp với tư cách
cá nhân, đại diện nhiều tổ chức của Cộng Ðồng Việt
Nam tại Hoa Kỳ và từ Âu Châu đến. Một buổi hội luận
với chủ đề "Quyền Công Nhân & Sự Tự Do Thành Lập
Các Nghiệp Ðoàn Ðộc Lập Tại Việt Nam" được thực hiện
trong buổi chiều cùng ngày.
3. Việt Nam trong danh sách CPC 2004.
Ngày 15 tháng 9 năm 2004,
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bị liệt vào
danh sách "Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Ðặc Biệt". Nhưng khi
sắp đến hạn bị trừng phạt (15 tháng 3 năm 2005) thì hành
pháp Hoa Kỳ chấp nhận gia hạn, bà Preeta D. Bansai, Chủ Tịch
Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã mạnh mẽ chỉ trích
Hành Pháp Hoa Kỳ: "Sự kiện hoãn trừng phạt này cho thấy
Hành Pháp Hoa Kỳ không thi hành luật, chẳng khác nào cỗ súy
các quốc gia khác không tôn trọng tự do tôn giáo cũng như
các quyền tự do căn bản khác của con người".
4. Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt
Nam.
Ngày 28 tháng 9 năm 2004,
ông Micheal W. Marine, Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong bài
phát biểu đầu tiên với các thành viên Phòng Thương Mại
Hoa Kỳ tại Hà Nội. Theo đó, "Ông hài lòng về tiến bộ
kinh tế và chính trị từ khi hai nước thiết lập bang giao
năm 1995. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ mối quan ngại về những
hạn chế mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam áp đặt đối
với tự do tôn giáo và những người bất đồng chính kiến.
Thực sự là có một con số đáng kể các công dân Việt Nam
không được tự do tín ngưỡng và hành đạo theo ý muốn.
Ðây là điều mà Hoa Kỳ không thể làm ngơ. Ông cũng nói
rằng, tới đây, cùng lúc với cố gắng tìm cách đẩy mạnh
phát triển kinh tế thương mại, ông sẽ tiếp tục thúc đẩy
lãnh đạo cộng sản Việt Nam tiến bộ một cách cụ thể
trong các lãnh vực nhân quyền và nhất là tự do tôn giáo,
đặc biệt là ông sẽ nhấn mạnh về những lãnh vực cần
phải cải thiện nhiều hơn nữa."
5. Phóng Viên Không Biên Giới.
Ngày 26 tháng 10 năm 2004,
Phóng Viên Không Biên Giới đã công bố "Bảng Xếp Hạng Thế
Giới Kỳ 3 Về Sự Tôn Trọng Quyền Tự Do Báo Chí" của 167
quốc gia. Giống như năm 2003, tiønh trạng các quốc gia Châu
Á bị coi là tồi tệ nhất với 9 trong số 15 quốc gia đứng
cuối bảng. Nước Cam Bốt hạng 109, nước Lào hạng 153, nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của ông Nông Ðức Mạnh
đứng hạng 161, nước cộng sản Bắc Hàn đội sổ với hạng
167. Bảng xếp hạng này nhấn mạnh rằng, từ sau khi các quốc
gia cộng sản Ðông Âu sụp đổ, ba quốc gia cộng sản Trung
Hoa, Việt Nam, và Cuba, là ba nhà tù lớn nhất đối với giới
cầm
bút tại các quốc gia đó.
Với bảng xếp hạng
trên đây cho thấy, sau khi khối cộng sản Liên Sô - Ðông
Âu sụp đổ, trên thế giới chỉ còn lại các nước Bắc
Hàn, Cu Ba, Trung Hoa, Việt Nam, vẫn bám giữ chủ nghĩa cộng
sản với chế độ độc tài. Và các quốc gia này tranh nhau
độc quyền chiếm hữu thành tích hủy diệt Nhân Quyền, bao
gồm truyền thông báo chí và tự do tôn giáo.
"Phóng Viên Không Biên
Giới" đề cập đến số phận của rất đông ký giả bị
cầm tù, và quả quyết rằng, Trung Hoa với Cu Ba là hai quốc
gia cộng sản thân thiết của cộng sản Việt Nam, và là những
nhà tù lớn nhất thế giới đối với những người hoạt
động trong ngành thông tin báo chí.
Nhớ lại hồi đầu
năm 2004 này, trong kỳ "Ðại Hội Mạng Lưới Pháp Thoại"
(nói tiếng Pháp), Phóng Viên Không Biên Giới đã xếp hạng
"Cai tù" về số tù nhân bị bắt chỉ vì phát biểu quan điểm
dân chủ trên Net, Trung Hoa cộng sản "chiếm giải nhất" và
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam "đoạt giải nhì",
một loại giải thưởng vào hạng bại liệt trước sức năng
động của ngành truyền thông hiện đại trên hoàn vũ.
6. Việt Nam trong danh sách CPC năm
2005.
Năm 2005, Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ công bố danh sách "Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Ðặc
Biệt", và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vẫn
còn nguyên trong danh sách đó. Sự kiện này được hiểu là
tại Việt Nam, tình trạng vi phạm nhân quyền không có bước
cải thiện nào đáng kể.
7. Thư của 43 nhà Lập Pháp Hoa
Kỳ.
Ngày 6 tháng 6 năm 2005,
43 vị Dân Biểu và Nghị Sĩ Hoa Kỳ đã đồng ký tên vào
lá thư gởi Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush, về những vi
phạm tự do và vi phạm nhân quyền tại nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trước khi Tổng Thống tiếp ông
Phan Văn Khải, Thủ Tướng cộng sản Việt Nam đến Hoa Kỳ
trong những ngày hạ tuần tháng 6 năm 2005.
Sự kiện này được
hiểu như là một cử chỉ của một số vị dân cử liên
bang, vừa cảnh giác vừa thúc ép Tổng Thống quan tâm đến
vấn đề tự do và nhân quyền tại Việt Nam khi tiếp Thủ
Tướng cộng sản Việt Nam.
8. Ông Thủ Hiến tiểu bang Nam
Australia.
Chiều ngày 12 tháng 8
năm 2005, một buổi tiếp tân trọng thể do ông Michael Atkinson,
Bộ Trưởng Nội Vụ, Bộ Trưởng Ða Văn Hoá và Sắc Tộc
tiểu bang Nam Úc, tổ chức tại phòng khánh tiết trong tòa
nhà Quốc Hội tiểu bang, để "Vinh Danh Cộng Ðồng Việt
Nam 30 Năm Tị Nạn tại tiểu bang Nam Úc". Buổi lễ do ông
Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Hằng trăm quan
khách Việt Nam và Úc Ðại Lợi, trong số đó có nhiều viên
chức của cơ quan lập pháp lẫn hành pháp tiểu bang, tham dự.
Thủ Hiến Mike Rann, đã đọc một bài diễn văn thật xúc
động mà Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn tại Nam Úc không
thể nào quên được. Bài diễn văn được trích dẫn những
đoạn sau đây:
… Chúng ta không bao
giờ được quên những người đã bỏ mình trong cuộc vượt
thoát chế độ cộng sản Việt Nam trong thập niên 70. Chúng
ta phải vinh danh Họ, và chúng tôi phải vinh danh quí vị, là
những người đã sống sót để thuật lại câu chuyện như
một chiến thắng vinh quang của mình, một câu chuyện về
vô số người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản
ác ôn áp bức từ năm 1975. Cuộc trốn chạy can trường của
người Việt Nam, đã làm cho cả thế giới nói chung, và nước
Úc nói riêng, phải kinh ngạc!
… Quí vị phải đương đầu
với bão tố và hải tặc, với niềm hy vọng trông thấy một
dãi đất nhân hậu bên kia chân trời để bắt đầu cho cuộc
sống mới. … Sự đóng góp của quí vị đã tạo ra của
cải cho tiểu bang Nam Úc, không chỉ về phương diện kinh tế,
mà còn cả về phương diện xã hội và văn hoá nữa.
.. Tên của những người Úc gốc
Việt trẻ tuổi học hành tận tụy, đã chiếm nhiều hàng
tít lớn trên báo chí vào tháng Giêng hằng năm, khi mà kết
quả các kỳ thi được công bố với số điểm tối ưu hoặc
rất cao. Các em đó cũng học hành xuất sắc như thế ở bậc
đại học. Thật ra, tuổi trẻ Việt Nam đã được đứng
vững trên đôi vai phi thường của các bậc phụ huynh vĩ đại
…"
…Cộng Ðồng người Việt cũng
đã tiến hành những cuộc tranh đấu đòi hỏi những quyền
căn bản cho mọi người dân đang sống tại Việt Nam. Ðó
là những quyền mà mỗi con người đương nhiên được hưởng,
như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền
tự do đi lại, quyền không bị ngược đãi bằng bất cứ
hình thức nào, ..v..v..
… Chánh phủ do tôi lãnh đạo,
và cá nhân tôi, đứng về phía quí vị trong cuộc đấu tranh
không ngưng nghỉ, nhằm mang lại tự do và những quyền căn
bản cho mỗi con người Việt Nam trên quê hương của quí vị.
Vì vậy, trong khi chúng ta tán dương những thành tựu của
Cộng Ðồng người Việt tại đây, chúng ta cũng công nhận
sự nghiệp đấu tranh cho người Việt tại Việt Nam."
9. Nghị Quyết của Quốc Hội
Âu Châu.
Ngày 1 tháng 12 năm 2005,
tại trụ sở Quốc Hội Âu Châu ở Brussels, 730 Dân Biểu của
25 quốc gia thuộc các khu vực Ðông Âu, Tây Âu, và Bắc Âu,
thành viên của Liên Hiệp Âu Châu, bao gồm nhiều đảng phái
chính trị với những khuynh hướng khác nhau, đã đồng thuận
khi biểu quyết một Nghị Quyết, đòi lãnh đạo cộng sản
Việt Nam phải thực hiện không chậm trễ, việc trả tự
do cho các nhân vật bất đồng chính kiến, đặc biệt là
đòi Việt Nam phải tổ chức bầu cử tự do trên căn bản
đa đảng. Ðồng thời, thực hiện quyền tự do báo chí.
Sự kiện đáng quan tâm
là trong số 25 quốc gia thành viên, có đến 10 quốc gia cộng
sản cũ thuộc khu vực Ðông Âu, nhưng hoàn toàn đồng thuận
một quan điểm về vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, quốc
gia mà trước kia là "đồng chí" của họ.
Ông Ian Pearson, Bộ Trưởng
Thương Mại & Ðặc Trách Nhân Quyền Bộ Ngoại Giao Anh
quốc, đang là Chủ Tịch luân phiên của Liên Hiệp Âu Châu,
phát biểu sau khi Nghị Quyết được thông qua: "Tôi chào
mừng sự quan tâm của Quốc Hội Âu Châu trên vấn đề hôm
nay. Ðặc biệt là cuộc điều trần quan trọng ngày 12 tháng
9 năm 2005 dẫn đến Nghị Quyết này. Tôi biết rất rõ về
tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng tại ba nước Việt
Nam, Cam Bốt, và Lào. Ví dụ như tại Bộ Ngoại Giao, trong
năm nay đã nhận được 100 thư khiếu nại của các Dân Biểu
Anh quốc về những vụ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.
Tôi mừng rằng, sau cuộc điều trần nói trên, nhà cầm quyền
Việt Nam đã để cho Liên Âu gặp thăm Hòa Thượng Thích Quảng
Ðộ. Tôi sẽ nêu vấn đề này và đưa ra một danh sách tù
nhân phải được trả tự do, trong cuộc gặp gỡ và đối
thoại về nhân quyền với phái đoàn nhà cầm quyền Việt
Nam vào ngày 12 tháng 12 sắp tới (2005)".
Trích dẫn câu trả lời
của vài vị Dân Biểu Âu Châu trong cuộc phỏng vấn của
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris:
- Dân Biểu Charles Tannock:
"Trên căn bản một Quốc Hội từ nhiều đảng chính trị
của nhiều quốc gia, người ta thấy rõ tầm quan trọng về
sự kiện lên án tình trạng nhân quyền tồi tệ tại 3 nước
Ðông Dương cũ, nhất là tại Việt Nam đối với các tôn
giáo, Tôi đã nhân danh đảng Biønh Dân Âu Châu và đảng Dân
Chủ Âu Châu, là hai đảng chiếm đa số tại Quốc Hội Âu
Châu, đã thảo luận và tất cả đều đồng tiønh với Nghị
Quyết này".
- Dân Biểu Graham Watson:
"Chúng tôi cảm nhận sự cạn kiệt nỗ lực nhưng vẫn
không thể cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam,
nên Quốc Hội Âu Châu chúng tôi chứng tỏ quyết tâm nhằm
thuyết phục lãnh đạo cộng sản Việt Nam, phải cải thiện
và làm thăng tiến sự tự do của con người tại đó. Chúng
tôi tiếp tục gây sức ép cho sự đổi thay này. Việt Nam
phải nhận rõ là ý thức hệ cộng sản không có khả năng
đáp ứng được giø cho một xã hội muốn vươn lên. Tuy chậm
so với nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng sự nối kết
hằng trăm hằng ngàn hành động cá nhân dũng cảm, tổ chức
dũng cảm, chắc chắn quí vị sẽ thiết lập được nền
dân chủ đa nguyên cho quí vị và dân tộc của quí vị".
10. Dân Biểu Hoa Kỳ Christopher
Smith.
Ngày 3 tháng 12 năm 2005,
ông Christopher Smith, Dân Biểu Hạ Viện Hoa Kỳ trong chuyến
sang Việt Nam, đã tiếp xúc trực tiếp với Linh mục Phan Văn
Lợi tại nhà riêng của Linh mục ở Huế. Ðây cũng là nơi
mà Linh mục đã và đang bị giam lỏng mà Công An cộng sản
gọi là "quản chế tại gia". Cùng đi với Dân Biểu Smith,
có bà Eleanor Nagy phụ tá của Dân Biểu, và ông Robert Silberstein,
chuyên viên chính trị tại tòa Tổng lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài
Gòn.
Linh mục Lợi rất thẳng
thắn khi trình bày quan điểm của mình, dù biết là viên chức
cộng sản tuy ngồi ở nhà dưới nhưng cái máy thu băng của
hắn đặt bên cạnh Linh mục. Quan điểm đấu tranh của Linh
mục rất rõ ràng:
- Tự do tôn giáo là
sự độc lập của tôn giáo với nhà cầm quyền để thực
hiện chức năng của hàng giáo phẩm, đồng thời phụng sự
xã hội bằng mọi phương tiện, kể cả truyền thông.
- Xóa bỏ Pháp Lệnh
Tôn Giáo ban hành tháng 11 năm 2004, và Pháp Lệnh ban hành tháng
3 năm 2005.
- Xóa bỏ Ðiều 4
trong Hiến Pháp.
- Ðòi hỏi bầu
cử đa đảng.
- Và phúc lợi lớn
lao mà Hoa Kỳ có khả năng giúp cho nhân dân Việt Nam là dân
chủ hóa chính trị, hơn là tư bản hóa xã hội.
Sau một tiếng đồng
hồ hỏi và trả lời, trước khi từ giả, Dân Biểu Smith
nói rằng: "Chúng ta nên bất tử hóa giây phút lịch sử
này" (We must immortalize this historic moment). Và ông đề nghị
chụp vài tấm ảnh kỷ niệm giây phút ấy.
Khi trở về Hoa Kỳ,
Dân Biểu Christopher Smith tuyên bố chánh thức rằng: "Chính
sách đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội là không
thể chấp nhận được. Hành Pháp Hoa Kỳ phải ràng buộc
Việt Nam cam kết thật sự tôn trọng nhân quyền, dân quyền,
tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do bầu cử, ..v..v..
khi thương thảo vấn đề xét cho Việt Nam gia nhập Tổ Chức
Thương Mại Quốc tế (WTO).
11. Tổ Chức Phóng Viên Không
Biên Giới
Ngày 7 tháng 12 năm 2005,
tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đã công bố danh sách
trao giải thưởng năm 2005 cho các tổ chức và những cá nhân,
được đánh giá là đã dũng cảm bày tỏ thái độ hay lập
trường, biểu thị một quyết tâm mạnh mẽ đối với quyền
tự do ngôn luận. Trong danh sách trao giải dự khuyết có Bác
sĩ Phạm Hồng Sơn.
Xin nhắc lại rằng,
Bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ vì dịch từ Anh ngữ sang Việt
ngữ một tài liệu phổ biến trên NET của tòa Ðại Sứ Hoa
Kỳ về "Dân Chủ Là Gì", mà bị tòa tuyên án 5 năm tù giam
và 3 năm quản chế tại nhà.
12. Ủy Ban Nhân Quyền Australia
- Việt Nam.
Theo thông cáo báo chí
ngày 16 tháng 3 năm 2006 của Ủy ban Nhân Quyền Australia-Việt
Nam (Cộng Ðồng tị nạn tại Australia), Dân Biểu Luke Donnellan,
tiểu bang Victoria, đã sang Việt Nam ngày 11 tháng 3 năm 2006
và lần lượt tiếp xúc với một số công nhân trong số hằng
chục ngàn công nhân tham gia đình công, và Kỹ sư Ðỗ Nam
Hải tại Sài Gòn. Ông cũng tiếp xúc được với Linh mục
Nguyễn Văn Lý và Linh mục Phan Văn Lợi tại Huế.
Ông đến Việt Nam với
tư cách du lịch, vì lãnh đạo cộng sản Việt Nam không cấp
chiếu khán nhập cảnh cho ông với tư cách Dân Biểu. Có thể
họ nghi ngờ ông đến Việt Nam liên quan đến vấn đề Nhân
Quyền, nhưng Dân Biểu Luke vẫn đến được Việt Nam và tiếp
xúc với các vị mà ông cần gặp.
Sau năm ngày trên đất
Việt Nam, Dân Biểu Luke Donnellan nhận xét rằng: "Cộng sản
Việt Nam đã có thành tích vi phạm những quyền căn bản của
người dân, bao gồm các quyền tự do tôn giáo, tự do phát
biểu, và tự do hội họp. Những tổ chức nhân quyền quốc
tế như Ân Xá Quốc tế, Human Rights Watch, Ủy Ban Bảo Vệ
Các Phóng Viên Báo Chí, gần như đồng loạt lên án những
hành vi bạo ngược của nhà nước cộng sản Việt Nam".
Khi được biết nhà
cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tịch thu máy computer của
Kỹ sư Ðỗ Nam Hải ngày 7 tháng 4 năm 2006, Dân Biểu Luke Donnellan
liền gởi tặng chiếc computer mới. Hành động này chứng
tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa chính trị
Việt Nam nói chung, và nhà tranh đấu trẻ Phương Nam Ðỗ Nam
Hải nói riêng.
13. Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006.
Ngày 8 tháng 4 năm 2006,
bản "Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006" do những nhà đấu tranh dân
chủ trong nước phổ biến tại Việt Nam và tại hải ngoại
bằng nhiều phương tiện khác nhau, mà phương tiện thông dụng
nhất là mạng lưới thông tin toàn cầu (NET). Bản Tuyên Ngôn
này có 118 chữ ký gồm những thành phần khác nhau trong xã
hội, và cư ngụ tại nhiều địa phương khác nhau từ Nam
ra Bắc. Chỉ một tháng sau -ngày 8 tháng 5 năm 2006- số vị
ký tên vào Bản Tuyên Ngôn lên đến 424 người. Theo thông
cáo của Khối 8406 tính đến ngày 8/8/2006, số người ký tên
ủng hộ lên đến 3.857 người (1.839 người trong nước
và 2.018 người tị nạn tại hải ngoại).
Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ
dài năm trang giấy, đòi hỏi một hệ thống chính trị đa
nguyên đa đảng, đòi hỏi tự do thông tin, tự do chính kiến,
tự do tôn giáo, tự do tham gia vào các công đoàn lao động
độc lập, tự do hội họp, tự do thành lập các hội đoàn,
tự do thành lập đảng chính trị, và tự do tham gia ứng cử.
Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ
phổ biến ngày 8 tháng 4 năm 2006, còn gọi là "Tuyên Ngôn Dân
Chủ 2006", hay gọi ngắn gọn là "Khối 8406".
14. Ủng hộ Tuyên Ngôn Dân Chủ
2006.
Từ địa chỉ e-mail
vietsi2002@yahoo.com.
Ngày 11 tháng 5 năm 2006, Tổ Chức Nhân Quyền Quốc Tế -Human
Rights Watch- có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, đã công bố
lời kêu gọi ủng hộ bản "Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006".
Mở đầu bản văn với
đòi hỏi: "Chính quyền Việt Nam phải chấm dứt ngay việc
đàn áp các thành viên của Phong Trào Dân Chủ & Nhân Quyền
vừa hình thành".
Ông Brad Adams, Giám Ðốc
Human Rights Watch tuyên bố: "Thực rất đáng kể, khi hằng
trăm công dân khắp nước Việt Nam đã bạo dạn bày tỏ bằng
thỉnh nguyện đơn về sự ủng hộ của họ cho việc thay
đổi chính trị. Tại Việt Nam, hành động ký các văn bản
như thế, thường sẽ dẫn đến việc bị Cảnh sát điều
tra, bắt giam, và tù tội".
Cũng theo lời ông Brad
Adams: "Việt Nam không thể hy vọng đạt được tính cách
hợp pháp quốc tế, nếu còn tiếp tục trấn áp những lời
kêu gọi nhân quyền, đa nguyên chính trị, và tự do tôn giáo".
Ðối với sự thay đổi
những nhân vật già nua bằng những nhân vật trẻ trong đại
hội đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10 hồi tháng 4 vừa
qua, ông Brad Adams nêu câu hỏi: "Liệu thế hệ trẻ này
có phóng khoáng hơn đối với sự bất đồng chính kiến và
chủ thuyết đa nguyên, hay họ cũng sẽ tiếp tục đàn áp
những quyền dân sự và chính trị căn bản?"
15. Ủng hộ Tuyên Ngôn Dân Chủ
2006.
Ngày 23 tháng 5 năm 2006,
tại Praha, thủ đô Tiệp Khắc, 51 nhân sĩ trong nhóm "Hiến
Chương 77" đồng ký tên vào lá thư gởi các thành viên Phong
Trào Dân Chủ Tự Do Cho Việt Nam, để bày tỏ sự ủng hộ
của nhóm này. Trích dẫn:
"Chúng tôi đã đọc
bản "Tuyên Ngôn Dân Chủ Tự Do cho Việt Nam 2006" của các
bạn. Chúng tôi rất trân trọng tinh thần can đảm của các
bạn trong hoàn cảnh chính trị tương tự như ở nước chúng
tôi năm 1977, khi văn bản đầu tiên của "Hiến Chương 77"
được công bố. Chúng tôi biết rằng, các bạn đang phải
hứng chịu nguy cơ bị các cơ quan chính quyền truy nã, và
chúng tôi tin rằng mỗi biểu hiện đoàn kết sẽ tăng cường
sức mạnh cho các bạn".
"Việt Nam không phải
là đất nước xa lạ với chúng tôi… Ðã có nhiều công
dân Việt Nam đến làm việc, học tập, và nay họ trở thành
một bộ phận của xã hội chúng tôi... Chúng tôi không thờ
ơ trước vận mệnh đất nước Việt Nam".
"Chúng tôi tin rằng,
tiếng nói của các bạn sẽ không bị bóp nghẹt. Cho dù về
mặt hình thức thì Hiến Chương 77 đã ngừng hoạt động
sau tháng 11 năm 1989, nhưng chúng tôi rất lấy làm vui mừng
được bày tỏ sự ủng hộ đối với các bạn qua tư cách
cá nhân. Chúng tôi xin chúc cho nỗ lực của các bạn, sẽ
dẫn đến việc thiết lập nền tự do trong khoảng thời gian
ngắn hơn là chúng tôi đã đạt được trong phong trào Hiến
Chương 77".
16. Ủng hộ Tuyên Ngôn Dân Chủ
2006.
Ngày 30 tháng 5 năm 2006,
50 vị Dân Biểu Hoa Kỳ đã ký tên chúng vào bức thư gởi
các công dân Việt Nam đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn Dân Chủ
2006. Vị ký tên thứ nhất là Dân Biểu Loretta Sanchez và vị
ký tên thứ 50 là Dân Biểu Ed Royce. Trích dẫn:
"Chúng tôi xin chân
thành bày tỏ sự hỗ trợ, khích lệ, và kính trọng đối
với 116 công dân Việt Nam đã ký tên ngày 6 tháng 4 năm 2006
vào Lời kêu Gọi Cho Quyền Thành Lập Và Hoạt Ðộng Ðảng
Phái Tại Việt Nam, và 118 công dân Việt Nam đã ký tên ngày
8 tháng 4 năm 2006 vào Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam…."
"…Những văn kiện
này đã cho thấy rõ, mặc dầu tình trạng tự do mỗi nơi
còn khác biệt, nhưng khát vọng tự do thì ở đâu cũng như
nhau.
"Chúng tôi hy vọng
lá thư này sẽ nhắc nhở cho những ai có ý đồ muốn bóp
nghẹt những tiếng nói đòi tự do hoặc toan tính đe dọa
hay đàn áp những người dân bày tỏ quan điểm của họ một
cách bất bạo động là một sự vi phạm nhân quyền, và mâu
thuẫn với mọi hình ảnh ổn định và tiến bộ…Ðây là
điều mà toàn thế giới đang theo dõi"
"Với tất cả những
ai đang sống tại Việt Nam đã ký tên vào những văn kiện
lịch sử này, sự can đảm và quyết tâm của quí vị để
bảo vệ tư do của con ngưởi bằng những phương tiện bất
bạo động, là tấm gương sáng cho đồng bào cả nước, cho
chính chúng tôi, và cho toàn thế giới. Chúng tôi cam kết sẽ
sát cánh cùng quí vị trong cuộc tranh đấu này".
17. Tham gia Tuyên Ngôn Dân Chủ
2006.
Ngày 4 tháng 6 năm 2006,
50 công dân Việt Nam tại tỉnh Thái Bình đã cùng ký tên vào
lá thư gởi ông Hoàng Minh Chính, Linh mục Nguyễn Văn Ký, Linh
mục Phan Văn Lợi, Giáo sư Trần Khuê, Kỹ sư Ðỗ Nam Hải,
Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, và Giáo sư Nguyễn Chính Kết. Lá
thư cũng đề gởi dư luận nhân dân trong nước, đồng bào
hải ngoại, và nhân dân yêu chuộng tự do trên thế giới.
Những vị ký tên có ghi địa chỉ rõ ràng, có hình chụp
kèm theo cho thấy là những người bằng xương bằng thịt.
Vị ký tên thứ 1 là ông Hoàng Hữu Cam ở huyện Thái Thụy,
và vị ký tên thứ 50 là ông Bùi Gia Trạch ở huyện Quỳnh
Phụ. Dưới đây là trích dẫn và tóm tắt:
"Chúng tôi là những
đảng viên cộng sản, những cựu chiến binh thương binh, những
cán bộ, và những gia điønh liệt sĩ đang nghỉ hưu, cùng
với những thường dân. Ðược biết những vị đấu tranh
cho dân chủ tự do, bất chấp hiểm nguy từ phía bạo quyền
cộng sản, đã phổ biến bản Tuyên Ngôn Dân Chủ ngày 8 tháng
4 năm 2006, với 118 chữ ký thuộc mọi thành phần trong xã
hội. Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006 đã được sự ủng hộ
rộng rãi của dư luận Hoa Kỳ, Úc Châu, Âu Châu, và đồng
bào hải ngoại. Từ lâu nay, những người cầm quyền chỉ
đại diện cho một nhóm tầng lớp cai trị áp bức độc đoán
độc tài tham nhũng và bảo thủ, chớ không đại diện cho
các tầng lớp nhân dân nói chung, và tầng lớp nông dân nói
riêng".
"Văn kiện lịch sử
quan trọng này đã phản ảnh đúng mong muốn nóng bỏng của
mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có chúng tôi. Vì vậy, chúng
tôi tự nguyện tự giác xin được ký tên vào bản Tuyên Ngôn
Dân Chủ 2006. Sự tham gia này là một vinh dự cho chúng tôi,
mặc dầu chúng tôi vẫn biết là sẽ bị Công An tìm mọi
cách trù dập hãm hại mọi bề. Chúng tôi mong dư luận trong
nước và hải ngoại, hãy quan tâm sát sao và kịp thời bảo
vệ những công dân ký tên trong bản Tuyên Ngôn Dân Chủ 2006".
18. Quyết Nghị của Văn Bút Quốc
Tế.
Ðại Hội Ðại Biểu
Văn Bút Quốc Tế lần thứ 72 tại thành phố Berlin, Cộng
Hòa Liên Bang Ðức, từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 5 năm 2006,
với sự tham dự của Ðại Biểu từ 100 Trung Tâm Văn Bút,
trong số 141 Trung Tâm Văn Bút thuộc 101 quốc gia. Trong phiên
họp khoáng đại ngày 27/5/2006, dự thảo Quyết Nghị về nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do Trung Tâm Văn Bút Thụy
Sĩ Pháp thoại soạn thảo, được sự ủng hộ của các Trung
Tâm Văn Bút Algérie, Anh quốc, Arménia, Ba Lan, Bỉ Pháp thoại,
Bồ Ðào Nha, Catalan, Gia Nã Ðại, Guatemala, Hoa Kỳ, Hòa Lan,
Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Macédoine, Mễ Tây Cơ, Pháp quốc, Québec,
San Miguel de Allende, Slovaquie, Slovénie, Sydney, Tân Tây Lan, Thái
Lan, Thụy Sĩ Ðức thoại, Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-Romanche,
Triều Tiên (Nam Hàn), Ðài Loan, Việt Nam hải ngoại, Ý Ðại
Lợi, và Zambie.
Tất cả Ðại Biểu
Ðại Hội đã đồng thanh chấp thuận Quyết Nghị:
"Lên án mạnh mẽ
áp lực của các cán bộ an ninh và cai ngục đối với các
tù nhân và thân quyến để lấy bản tự phê tự kiểm của
họ. Lên án riêng biệt những "buổi làm việc" (thẩm vấn
kéo dài vô tận) tại các Sở Công An, và những "buổi nghe
dân tố cáo" do nhà cầm quyền tổ chức, để phê bình và
khiển trách các nhà văn và nhà báo độc lập bị coi như
"những kẻ phản bội và kẻ thù công cộng".
"Ðòi chánh phủ nước
Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, phóng thích tức khắc
và vô điều kiện tất cả những người vì đã hành sử
quyền tự do phát biểu của họ, còn bị giam nhốt,
trong đó có các ông Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình,Vũ Ðiønh
Thụy, hoặc còn bị quản chế hay câu lưu hành chánh và quản
thúc tại nhà, trong đó có Hòa Thượng Thích Huyền Quang 89
tuổi, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ 78 tuổi, ông Lê Chí Quang,
ông Nguyễn Ðiønh Huy, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, ông Nguyễn
Ðan Quế, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, và ông Nguyễn Khắc Toàn".
"Chấm dứt tất cả
những hành vi sách nhiễu, hăm he và làm nhục, những vụ bắt
giữ độc đoán và truy tố ra tòa, những biện pháp trừng
phạt về kinh tế và tài chánh đối với những nhà văn và
nhà báo độc lập, như trường hợp ông Hoàng Minh Chính, Kỹ
Sư Ðỗ Nam Hải, nhà thơ Hà Sĩ Phu".
"Cải thiện chế độ
lao tù và cho phép những tù nhân đau yếu được vào bệnh
viện, được săn sóc điều trị thích hợp, và được gia
điønh thân nhân thăm nom".
"Bải bỏ kiểm duyệt
và điønh chỉ mọi hạn chế đối với quyền tự do phát
biểu, tự do báo chí, tự do sáng tạo và xuất bản".
19. Nạn buôn người tại Việt
Nam.
Ngày 5 tháng 6 năm 2006,
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình về tệ nạn
buôn người trên thế giới. Việt Nam vẫn nằm trong "nhóm
cấp 2", tức là nạn buôn bán phụ nữ dưới hình thức "những
cô dâu" sang các nước Ðông Á và Ðông Nam Á. Bản phúc trình
cũng đề cập đến tình hình xuất cảng lao động của Việt
Nam không được giám sát thích đáng.
Phần hai. Bia
tưởng niệm và tượng đài Thuyền
Nhân.
Bia Tưởng Niệm, Tượng
Ðài Tưởng Niệm, và Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân, là những
biểu tượng góp phần lưu giữ chứng tích tội ác của lãnh
đạo cộng sản Việt Nam, từ sau khi vi phạm trầm trọng Thỏa
Ước Hòa Bình ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, thủ đô
Pháp quốc, xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Việt
Nam Cộng Hòa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Bia tưởng niệm.
1. Bia tưởng niệm trên đảo
Bidon và đảo Galang.
Nhớ lại hồi tháng
3 năm 2005, vào khoảng 150 đồng hương trong Cộng Ðồng Việt
Nam tị nạn cộng sản từ Australia, Canada, Hoa Kỳ, và Thụy
Sĩ, cùng hội ngộ tại Malaysia và Indonesia để thăm lại những
ngôi mộ của những thân nhân hoặc bạn đồng hành đã vượt
thoát chế độ cộng sản độc tài trên hành trình tìm tự
do, nhưng đã nằm lại trong lòng đất nơi đây, xứ lạ quê
người! Cũng là cơ hội cùng nhau dựng "Bia Tưởng
Niệm" trên đảo Bidong (của Malaysia) và đảo
Pulau Galang (của Indonesia). Bia có kích cở, ngang 1 thước và
cao 3 thước, do công ty Bold Express của Singapore làm trung gian
với công ty Bida cung cấp.
Theo báo Jakarta Post ấn
hành ngày 20 tháng 6 năm 2005 tại thủ đô Indonesia, ông Trần
Ðức Lương, Chủ Tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam, đã yêu cầu Tổng Thống Indonesia (ông Susilo) khẩn
cấp phá bỏ bia tưởng niệm trên đảo Pulau Galang vì đã
xúc phạm đến Việt Nam. Nhân viên bảo trì công viên, ông
Mursidi nói với phóng viên rằng: "Lệnh phá bỏ bia tưởng
niệm phải thực hiện ngay tức khắc, đến mức phải dựng
mái lều dưới cơn mưa trong đêm tối, để làm công việc
đục bỏ phần có những hàng chữ trên bia." Còn Anne Oh,
người điều hợp công ty Bold Express cho biết: "Chánh phủ
cộng sản Việt Nam không chỉ đòi phá bỏ bia tưởng niệm
tại Galang, mà họ còn đòi phá bỏ bia trên đảo Bidong bên
Malaysia nữa".
Hành động của lãnh
đạo cộng sản Việt Nam, chứng tỏ là họ rất sợ những
chứng tích nói lên tội ác của họ, dù chứng tích đó thể
hiện qua những vật thể nào ở bất cứ nơi đâu, là họ
sử dụng mọi loại phương cách để phá bỏ nó. Nhưng cả
cái Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam, không bao giờ và cũng
không thể nào phá bỏ được những chứng tích tội ác của
họ trong mỗi người Việt Nam không cộng sản. Hơn thế nữa,
nó còn là dấu ấn sâu đậm trong mỗi người Việt Nam tị
nạn cộng sản!
2. Thư phản đối của Dân Biểu
Loretta Sanchez.
Sau khi chánh phủ Malaysia và Indonesia
thỏa thuận lời yêu cầu của lãnh đạo cộng sản Việt
Nam, đã ra lệnh khẩn cấp đục bỏ những dòng chữ trên
hai bia đá "Tưởng Niệm Thuyền Nhân" tại đảo Bidong của
Malaysia và đảo Galang của Indonesia, nữ Dân Biểu Liên Bang
Loretta Sanchez, ngày 22 tháng 6 năm 2005, đã gởi thư cho ông
Bộ Trưởng Ngoại Giao Malaysia. Trong thư có đoạn:
"… Là đại diện của địa
hạt 47 (Nam Caifornia) thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ, nơi cư trú đông
đảo nhất của người Việt Nam tại hải ngoại. Tôi viết
thư này để bày tỏ sự quan tâm của cư dân địa hạt 47
về hành động phá hủy đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân trên
đảo Pulau Bidong.
Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân,
là để ghi nhớ hằng trăm ngàn người Việt Nam đã bỏ mình
nơi
biển cả trên đường tìm tự do. Ðồng thời cũng là biểu
dấu lòng tri ân của Cộng đồng Người Việt tị nạn tại
hải ngoại đối với nhân dân Malaysia, Hội Malaysian Red Cresent
Society, và chánh phủ Malaysia, đã cưu mang những thuyền nhân
Việt Nam.
Quyết định phá hủy Ðài Tưởng
Niệm Thuyền Nhân đã gây kinh ngạc cho rất nhiều cư dân
của chúng tôi, vì chúng tôi tin rằng Ðài Tưởng Niệm Thuyền
Nhân có chức năng tích cực, cũng là biểu tượng thiêng liêng
của Tự Do.
Tôi xin cam kết sự ủng hộ của
tôi trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Malaysia, và hy vọng
là chánh quyền Malaysia sẽ tái xét quyết định phá hủy Ðài
Tưởng Niệm Thuyền Nhân".
3. Bia tưởng niệm tại Genève,
Thụy Sĩ.
Nguồn tin từ e-mail Diễn
Ðàn Nước Việt do Thanh Thảo tường trình.
Ngày 9 tháng 2 năm 2006, Cộng Ðồng Viêt Nam ở Thụy Sĩ đã
tập trung về thành phố Grand Saconnex, Genève, dự lễ khánh
thành Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Buổi lễ dưới
quyền chủ tọa của bà Elizabeth Boehler, Thị Trưởng thành
phố Grand Saconnex, và là Phó Chủ Tịch đảng Parti Radical thành
phố Genève. Bia Tưởng Niệm đặt trong khuôn viên Campagne du
Château Pictet, một khung cảnh thanh tịnh, yên lành.
Nhà báo Thierry Oppikofer,
Chủ Tịch Ủy Ban Thụy Sĩ - Việt Nam, đã ca ngợi sự hỗ
trợ mạnh mẽ của ông Michel Rossetti cựu Thị Trưởng thành
phố Genève, và ông Pierre Marti, cựu Chủ Tịch Hội Ðồng
thành phố Genève. Ông Trần Hữu Kinh, Chủ Tịch Hội Cựu
Quân Nhân Việt Nam cộng Hòa, thay mặt Cộng Ðồng Việt Nam
cảm tạ chánh quyền thành phố Genève đã nhiệt tình giúp
đỡ Thuyền Nhân Việt Nam tị nạn cộng sản. Sự kiện đặt
Bia Tưởng Niệm hôm nay, thể hiện lòng nhân ái của chánh
quyền và nhân dân Thụy Sĩ đối với Cộng Ðồng Việt Nam.
Bà Thị Trưởng Elizabeth Boehler, bày tỏ lòng ngưỡng mộ những
sự hi sinh của những người Việt Nam can đảm trên đường
tìm tự do.
Sau phần nghi lễ, bà
Thị Trưởng cùng ông Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Việt
Nam, kéo tấm màn phủ tấm Bia Tưởng Niệm. Do sự kiện Bia
Tưởng Niệm tại Insonesia và Malaysia bị phá bỏ theo yêu cầu
của cộng sản Việt Nam, nên Bia Tưởng Niệm này giữ theo
hình thức của hai bia đó. Bia tưởng niệm và cây tùng
được
đặt trên một khung sỏi theo hình chiếc ghe. Những
viên sỏi lớn tượng trưng cho sóng biển, tấm bia tượng
trưng cho cánh buồm, cây tùng tượng trưng cho cột buồm. Cây
tùng còn tượng trưng cho những người trẻ Việt Nam và Thụy
Sĩ có gốc rễ ở nước này, sẽ mãi mãi không quên những
người đã chết vì lý tưởng tự do, và thảm trạng này
là khởi điểm của sự hình thành Cộng Ðồng Việt Nam tại
Thụy Sĩ.
Bia làm bằng đá cẩm
thạch đen, một bên là
Anh ngữ "In memory
of the exodus of the Boat People through out the world 1975 - 2005. The
Vietnamese refugees are grateful to Switzerland and to the host countries.
We are happy to live in a space of peace, freedom, and democracy. Vietnam,
land of our ancestors, will forever be in our heart". Và một
bên là Pháp ngữ "En souvenir
de l’ exode des boat-people dans la monde 1975-2005. Les réfugie’s
Vietnamiens remercient là Suisse et les pays d’accueil. Nous sommes
heureux de vivre dans cet espace de paix, de liberté, et démocratie.
Le Vietnam, pays de nos ancêtres, restera à jamais dans nos coeurs".Ðược
dịch
ra Việt ngữ như sau: "Tưởng niệm cuộc ra đi của những
Thuyền Nhân trên thế giới 1975 - 2005. Người Việt tị nạn
chân thành cám ơn Thụy Sĩ và các nước tiếp cư, đã giúp
cho chúng tôi được sống hạnh phúc trong hòa bình, tự do,
và dân chủ. Chúng tôi sẽ mãi mãi không quên quê hương Việt
Nam, mãnh đất ngàn đời của Tổ Tiên để lại".
Viên chức tòa lãnh sự
cộng sản Việt Nam tại đây đã can thiệp với chánh quyền
Thụy Sĩ và thành phố Genève, nhưng tất cả sự can thiệp
đều thất bại. Bia Tưởng Niệm này cách tòa lãnh sự của
chúng chỉ 2 cây số, là cái gai trước mắt chúng nhưng chúng
bó tay.
Sau lễ khánh thành, Bia
Tưởng Niệm là món quà của Cộng Ðồng Việt Nam tị nạn
tặng cho thành phố Genève, và do Hội Ðồng thành phố quản
trị.
4. Bia tưởng niệm tại Liège,
Bỉ.
Nguồn tin từ e-mail của
<Nguyen le Nhan Quyen>. Ngày 30 tháng 6 năm 2006, Cộng Ðồng
Việt Nam tị nạn tại Bỉ đã tập trung tại Công Viên D’Avroy,
thành phố Liège, tham dự lễ khánh thành Bia Ðá Tưởng Niệm
Thuyền Nhân Việt Nam. Công Viên D’ Avroy là nơi có "Monument
de la Résistance" kỷ niệm những người Tây Ban Nha tị nạn
Franco. Buổi lễ do thành phố Liège và Cộng Ðồng Việt Nam
tại Bỉ phối hợp tổ chức. Sau phần nghi lễ, ông Michel
Firket Phó Thị Trưởng thành phố Liège, và ông Lê Hữu Ðào
Chủ Tịch Cộng Ðồng Việt Nam, cùng kéo quốc kỳ Việt Nam
nền vàng ba sọc đỏ phủ tấm Bia Tưởng Niệm.
Tổng quát thì Bia Tưởng
Niệm này tương tự như Bia Tưởng Niệm ở thành phố Genève
(Thụy Sĩ) đã khánh thành ngày 9 tháng năm 2006. Trên bia đá
là chiếc thuyền đầy ấp người đang chông chênh trên sóng
biển, với dòng chữ Pháp như sau: "En souvenir de l’ exode
des boat-people dans la monde 1975-2006. Les réfugie’s Vietnamiens remercient
Liège, la Belgique, et les pays d’accueil. Nous sommes heureux de vivre
dans cet espace de paix, de liberté, et démocratie. Le Vietnam, pays
de nos ancêtres, restera à jamais dans nos coeurs". Sau đó, ông
Paul Allard, thuyền trưởng tàu dầu Maaskroon, đã xúc động
khi tường thuật sự kiện ông và thủ thủy đoàn đã vớt
được 61 "Thuyền Nhân Việt Nam" trên chiếc tàu mong manh.
Bia Tưởng Niệm Thuyền
Nhân Việt Nam do Hội Ðồng thành phố Liège bảo quản.
Cũng như những nơi khác,
cơ quan ngoại giao của cộng sản Việt Nam tại Bỉ đã can
thiệp với Bộ Ngoại Giao và thành phố Liège, nhưng họ đã
thất bại như đã thất bại tại Genève (Thụy Sĩ), tại Ottawa
(Canada), tại Westminster (California, Hoa Kỳ), ..v..v…
Tượng Ðài Thuyền Nhân.
5. Tượng đài tại Ottawa, Canada.
Ngày 30 tháng 4 năm 1995,
Liên Hội Người Việt Tị Nạn tại Ottawa, thủ đô Canada,
đã long trọng khánh thành Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân
Việt Nam, với sự tham dự của rất đông đồng hương
và nhiều nhân vật chánh quyền tại thủ đô Ottawa. Ngay sau
bức tượng đồng Người Mẹ Bế Con Thơ đang chạy trốn
cộng sản, là những dòng chữ tưởng niệm, với bản đồ
Việt Nam được bao tròn bởi nền vàng với ba sọc đỏ.
Viên đại sứ cộng
sản Việt Nam tại Canada, đã phản đối mạnh mẽ ngay từ
lúc Liên Hội Người Việt Canada bắt đầu. Ðến những ngày
trước khi Tượng Ðài được khánh thành, họ vẫn liên tục
vận động với Liên Hội Người Việt và Uỷ Ban Thực Hiện
Tượng Ðài, để xóa bỏ hình bản đồ Việt Nam được bao
tròn bởi nền vàng với ba sọc đỏ, đến những dòng chữ
tưởng niệm, nhưng khi tiến sĩ Lê Duy Cấn yêu cầu viết
thành văn những yêu cầu đó thì ông mới có yếu tố thảo
luận, thì họ im lặng. Nghĩa là những viên chức trong tòa
đại sứ cộng sản Việt Nam chỉ nói miệng chớ không dám
dùng văn bản. Phía Ủy Ban Thực Hiện hoàn toàn giữ nguyên
tất cả những gì ghi trong dự án. Liên Hội Người Việt
và Ủy Ban Thực Hiện Tượng Ðài, đã thắng một cách vẻ
vang. Vì vậy mà cộng sản Việt Nam không thành công trong cuộc
vận động với chánh phủ Canada, và sự kiện này đã dẫn
đến tình trạng lạnh nhạt trong bang giao giữa Canada với
cộng sản Việt Nam một thời gian.
6. Tượng đài tại Nam California,
Hoa Kỳ.
Theo bài viết của ký
giả Nguyễn Hương Nhân do trainamky@aol.com
chuyển trên NET, "Tượng Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân"
là
một công trình khởi xướng từ năm 1997 do nhà thơ nhà báo
Thái Tú Hạp & Ái Cầm, cùng với ca nhạc sĩ Việt Dũng,
ông bà Bác sĩ Lê Hồng Sơn & Thu Thủy, Chí Thiện &
Minh Phượng, Giám Ðốc đài phát thanh Radio Bolsa, Luật sư
Từ Huy Hoàng, Kiến trúc sư Bạch Hồng, Bác sĩ Ngô Phùng Hỷ,
Ký giả Khúc Minh, Kỹ sư Tâm Ðan, nhà Ðiêu khắc Vi Vi, ..v..v..
, dẫn đến hình thành một "Ủy Ban Thực Hiện Dự Án Thuyền
Nhân". Sau thời gian phối hợp nghiên cứu, và trải qua
những khó khăn khi tiến hành các thủ tục, tượng đài được
Thượng Tọa Thích Quảng Thanh, Viện Chủ chùa Bảo Quang, nhiệt
tình hỗ trợ địa điểm lẫn tài chánh và công sức.
Trong khuôn viên chùa
Bảo Quang mà người tổng hợp được trông thấy trên màn
ảnh nhỏ đài SBTN đầu tháng 5/2006, một hồ nước tượng
trưng biển cả, với hệ thống điện tử tạo sóng nhấp
nhô, giữa hồ là chiếc thuyền mong manh. Trên thuyền là một
tổ hợp pho tượng của một gia điønh nghèo gồm vợ chồng,
đứa con nhỏ, và mẹ già, đang chới với trong cảnh hãi hùng
của biển khơi! Một hệ thống ánh sáng, góp phần làm nổi
bật những góc cạnh của một tượng đài thuyền nhân, vừa
bi thương vừa hùng tráng!
Ðến đầu năm 2006,
Tượng Ðài đã hoàn thành khoảng 70%. Mồng Một Tết Bính
Tuất (đầu năm 2006) và sau đó, hằng ngàn đồng hương khi
cầm nén nhang quyện khói đứng trước Tượng Ðài Thuyền
Nhân, tưởng nhớ đến người thân đã bỏ mình đâu đó
trên Biển Ðông hay Vịnh Thái Lan, đã không cầm được nước
mắt!
Cũng đến đầu năm
2006, đã có khoảng 5.000 phương danh gởi đến Ủy Ban để
khắc vào những bia đá đen đặt quanh Tượng đài. Theo ông
Thái Tú Hạp và bà Thu Thủy, Ủy Ban Thực Hiện Dự Án Tượng
Ðài Thuyền Nhân, dự trù sau lễ khánh thành Tượng Ðài
Tưởng Niệm Thuyền Nhân,
Ủy Ban sẽ bàn giao Tượng Ðài
cho Trung Tâm Văn Hoá Phật Giáo Việt Mỹ Phụng Sự Xã Hội
quản trị, trước khi Ủy Ban giải tán. Thượng Tọa Thích
Quảng Thanh, Viện Chủ chùa Bảo Quang, kiêm Giám Ðốc Trung
Tâm Văn Hoá này.
Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân.
7. Dự án Viện Bảo Tàng tại
Hoa Kỳ.
Theo bản tin Thời Sự
Dân Sinh tháng 3 năm 2006 tại San Jose, ngày 14 tháng 3 năm 2006,
nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, Giám Ðốc IRCC, và ông Phạm
Phú Nam, Phụ Tá Ðiều Hành, tham dự buổi họp của Hội Ðồng
Quản Trị Khu Vườn Lịch Sử Kelly (Kelly Historical Park) tại
San Jose, tiểu bang California. Trước đó, ông David, Giám Ðốc
Kelly Historical Park và Bà Phó Giám Ðốc, đến thăm cơ sở
tạm thời của Viện Bảo Tàng Việt Nam trên đường Park,
thành phố San Jose. Trong buổi họp, ông David công nhận những
vật chứng trong khu trưng bày tạm thời, đã tạo một ấn
tượng mạnh mẽ và rất xúc động.
Sau phần trình bày dự
án và nhấn mạnh đến quyết tâm thực hiện của phía Việt
Nam, toàn thể 18 thành viên Hội Ðồng Quản Trị đã bỏ phiếu
thuận 100%, cung cấp cho phía Việt Nam ngôi nhà 2 tầng hiện
có trong Khu Vườn Lịch Sử, để phía Việt Nam nới rộng,
chỉnh trang, và tạo cảnh trí thích hợp cho một "Viện
Bảo Tàng Thuyền Nhân & Việt Nam Cộng Hòa". Bản thỏa
ước được ký kết tại chỗ với thời hạn 30 năm trong
điều kiện được tái tục vô thời hạn.
Một đề nghị tài trợ
400.000 mỹ kim đang được tiểu bang California cứu xét, song
song với chương triønh gây quỹ 400.000 mỹ kim do IRCC phụ trách,
để hoàn thành những bước đầu của dự án trong năm 2006
- 2007.
Những vật chứng trong
khu trưng bày tạm thời ở San Jose, đã được mang đến trưng
bày nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 4 năm 2006 tại Nam California,
và đông đảo đồng hương đến thưởng lãm, đã công nhận
là rất xúc động!
8. Dự án Viện Bảo Tàng Thuyền
Nhân tại Canada.
Theo tin cung cấp bởi
Tiến Sĩ Lê Duy Cấn, Liên Hội Người Việt Canada, từ tháng
12 năm 2005, Liên Hội Người Việt Canada bắt đầu vận động
gây quỹ cho dự án "Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân"
tại Ottawa, thủ đô Canada, với mục đích trưng bày những
vật chứng cùng những dữ kiện dân tộc Việt Nam chạy trốn
chế độ cộng sản đi tiøm tự do, vĩ đại nhất và bi thảm
nhất trong lịch sử nhân loại. Mẫu vẽ Viện Bảo Tàng Thuyền
Nhân là tòa nhà 2 tầng đối diện với Tượng Ðài Tưởng
Niệm Thuyền Nhân đã khánh thành ngày 30 tháng 4 năm 1995. Ngân
khoản dự trù vào khoảng 2.000.000 Gia kim (tiền Canada), và
dự trù thực hiện trong năm 2008-2010. Dự án này được hỗ
trợ từ nhiều giới chức công quyền và đồng hương
tại Ottawa. Rất mong được sự
hưởng ứng và ủng hộ của đồng hương nhiều nơi trên
thế giới. Xin liên lạc với Tiến sĩ Lê Duy Cấn, đại diện
Ban Tổ Chức tại địa chỉ e-mail <hg_yen@yahoo.com>.
*****
Trân trọng cám ơn quí
Ðồng Môn, quí vị và quí bạn trẻ, đã cung cấp những tài
liệu góp phần hình thành bảng tổng hợp này./.
Houston, 4 tháng 8 năm
2006.
Chủ Tịch Ủy
Ban Thường Trực
Alfa Phạm Bá Hoa (khóa 5)

|