| Nhớ lại lúc 11 giờ 30 phút sáng
ngày 29 tháng năm 1975, Trung Tướng Đồng văn Khuyên, Tham Mưu
Trưởng Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp
Vận, rời văn phòng sang cơ quan DAO để cùng Thiếu Tướng
Smith, Trưởng cơ quan DAO, chờ trực thăng đưa ra Hạm Đội
7 Hoa Kỳ ngoài khơi Thái Bình Dương.
Vậy là quí vị lãnh đạo vừa
bàn giao chức vụ chính trị lẫn quí vị Tướng Lãnh đương
nhiệm lãnh đạo quân đội, từ cựu Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu, cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, đến Đại Tướng
Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, và Trung Tướng Đồng Văn
Khuyên, lần lượt gần như theo hệ thống quân giai mà bỏ
lại sau lưng một dân tộc, trong đó có một quân đội hơn
một triệu người để ra ngoại quốc khi đất nước thật
sự lâm nguy!
Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4
năm 1975, Trung Tướng Vĩnh Lộc vào Bộ Tổng Tham Mưu nhận
chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng
rồi 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 (1975), ông cũng rời khỏi chức
vụ để ra ngoại quốc!
Lúc 5 giờ chiều ngày 29 tháng 4
(1975), Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào Tổng Cục Tiếp
Vận nhận chức Tổng Cục Trưởng, nhưng rồi 3 giờ sáng
ngày 30 tháng 4 (1975), ông cũng rời khỏi chức vụ để ra
ngoại quốc!
Đêm 29 tháng 4 (1975), hòa trong tiếng
gào thét của những phi tuần khu trục phản lực Hoa Kỳ xé
bầu trời đêm vừa tối lại vừa sáng trên không phận thủ
đô Sài Gòn, trong khi đường phố Sài Gòn thật sự hỗn loạn,
là từng đoàn trực thăng Hoa Kỳ chuyên chở hằng chục ngàn
người di tản từ một góc của phi trường Tân Sơn Nhất,
và từ trên nóc tòa đại sứ Hoa Kỳ ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ.
Lúc 10 giờ 15 phút ngày 30 tháng
4 năm 1975, qua làn sóng đài phát thanh Sài Gòn, Đại Tướng
Dương Văn Minh vừa nhận chức Tổng Thống trước đó hai
ngày, đã ra lệnh cho quân đội không được nổ súng, và
chờ bàn giao cho quân cộng sản mà ông gọi là “lực lượng
giải phóng”. Và từ giờ phút đó, tên gọi nước Việt
Nam Cộng Hòa chúng ta không còn nữa!!!
Lời tuyên bố ngắn ngủi của Tổng
Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao, đã khắc một
dấu ấn thật đậm nét đối với tất cả công dân Việt
Nam cộng Hòa nói chung, và Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa nói riêng!
Vậy là, một giai đoạn lịch sử
đầy bi thương mà Tổng Thống Dương Văn Minh, vị Tổng Thống
có nhiệm kỳ chỉ hơn 48 tếng đồng hồ, vừa xếp lại trang
cuối cùng! Một trang sử ôm trọn niềm đau của một quân
đội từng được nhiều quốc gia Đồng Minh đánh giá là
dũng cảm, suốt chiều dài cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày
hay là 7.583 ngày khói lửa, với trách nhiệm bảo vệ quốc
gia dân tộc trong xã hội dân chủ tự do, đành phải chấp
nhận đầu hàng khi chưa tròn nhiệm vụ!
Nhìn lại Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa từ năm 1955, đã liên tục phát triển theo nhu cầu chiến
trường, được tổ chức với đầy đủ các Quân Chủng,
Binh Chủng, Binh Sở, được Hoa Kỳ cung cấp các loại vũ khí
kể cả vài loại đang thời kỳ trắc nghiệm, được huấn
luyện và tái huấn luyện bởi một hệ thống quân trường,
được quản trị bởi hệ thống máy điện toán IBM 360/20,
360/40, 360/50, với một phí tổn gồm của Việt Nam và Hoa Kỳ
là hết sức lới lao, và một tinh thần phục vụ quân đội
thể hiện qua sức chiến đấu dũng cảm của Người Lính
Việt Nam Cộng Hòa. Tuy chưa phải là hoàn hảo, nhưng tất
cả những khả năng đó gộp lại, đã tạo cho quân đội
một sức mạnh dũng mảnh mà chính quân cộng sản -qua các
tài liệu tịch thu tại chiến trường- phải thừa nhận là
họ dễ dàng chấp nhận đánh nhau với quân đội Hoa Kỳ và
Đồng Minh, hơn là đương đầu với quân lực Việt Nam Cộng
Hòa, dù rằng hỏa lực của Hoa Kỳ là cực mạnh. Ấy vậy
mà Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thua trận sau hơn 20 năm chống
giữ bảo vệ?
Trách nhiệm chế độ tự do sụp
đổ do đâu? Do quân đội, do cấp lãnh đạo quân đội, do
cấp lãnh đạo quốc gia, hay là do tất cả gộp lại? Dù nhìn
từ góc cạnh nào đi nữa, dù muốn hay không muốn, tôi nghĩ,
thế hệ chúng ta đã để lại “một vệt đen” trong dòng
lịch sử đương đại. Nhưng vệt đen đó có thật sự là
lỗi lầm của chúng ta hay không, còn phải chờ lịch sử phán
xét. Nhưng suy cho cùng, chúng ta phải chia phần trách nhiệm
ngang bằng với quyền hạn của từng chức vụ chính trị
và từng chức vụ quân sự, bởi chúng ta chưa tròn trách nhiệm
với quốc gia dân tộc.
Và liệu Hoa Kỳ có phần trách nhiệm
trong sự thua trận của chúng ta không? Tôi khẳng định rằng,
quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ người lính chiến, sĩ quan,
tướng lãnh, cho đến vị Tổng Tham Mưu Trưởng và vị
Tổng Tư Lệnh Tối Cao, đều là người Việt Nam. Chúng ta
chiến đấu chống cộng sản để bảo vệ quốc gia dân tộc
Việt Nam, chớ chúng ta không chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho
bất cứ quốc gia nào khác. Vì vậy mà tôi không nghĩ đến
trách nhiệm của Hoa Kỳ trong sự thua trận của chúng ta.
Tôi nhận thức rằng, quân đội
Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên đất nước chúng
ta và tham chiến bên cạnh chúng ta, là thực hiện mục tiêu
chiến lược của Hoa Kỳ ngăn chận sự bành trướng chủ
nghĩa cộng sản, một chủ nghĩa đối nghịch với với thế
giới tự do mà Hoa Kỳ là quốc gia lãnh đạo, chớ không thuần
nhất là Hoa Kỳ chiến đấu cho riêng quốc gia chúng ta. Xin
nhớ rằng, trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình
cảm mà tất cả vì quyền lợi quốc gia dân tộc. Vì thế
mà tôi vừa cám ơn các vị lãnh đạo nước Mỹ và nhân dân
Mỹ đã giúp chúng ta và cùng chúng ta bảo vệ tổ quốc chúng
ta, và vừa rút lại lời cám ơn đó chỉ riêng với các vị
lãnh đạo Hoa Kỳ và các vị đã khống chế đến mức như
trói tay các vị lãnh đạo của chúng ta. Nhưng không vì thế
mà những vị lãnh đạo chúng ta tránh né trách nhiệm trước
lịch sử và dân tộc, vì quí vị đã không thực hiện tròn
vẹn trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo
quân đội, cho dẫu thời gian mà quí vị nắm quyền lãnh đạo
bao lâu cũng vậy.
Với lịch sử, ngày 30 tháng 4 năm
1975 vẫn 24 tiếng đồng hồ như mọi ngày, nhưng với chúng
ta, ngày đó thật dài, thật bi thảm! Bởi đó là ngày mà
“Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa” chúng ta không thể
nào quên dấu ấn sâu đậm ấy trong đời quân ngũ của mình!
Ngày 30 tháng 4 năm 2007 này là năm
thứ 32 kể từ ngày bi thảm của dân tộc! Hằng năm, vào
ngày này, tôi dành một phút để đứng trước quốc kỳ nền
vàng ba sọc đỏ trên bàn viết của tôi, im lặng, cúi đầu,
im lặng, tưởng nhớ đến biết bao Đồng Môn Đồng Đội
đã hi sinh trên khắp các chiến trường, từ quân sự, chính
trị, kinh tế, đến văn hoá xã hội! Tưởng nhớ đến những
vị anh hùng đã tự sát ngay sau khi Tổng Thống Dương Văn
Minh ra lệnh đầu hàng quân cộng sản! Và tưởng nhớ những
công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ, đã mất xác trong rừng trên
biển khi tìm đường vượt thoát chế độ cộng sản độc
tài tàn bạo!
An cư nơi hải ngoại, tôi nghĩ,
tùy theo hoàn cảnh mà chúng ta hình thành những tổ chức,
thậm chí là những cá nhân, sử dụng bất cứ phương thức
nào thích hợp, trực tiếp hay gián tiếp, chính trị hay tham
mưu, kinh tế hay tài chánh, khoa học hay kỹ thuật, văn hoá
hay xã hội, tiếp tục trách nhiệm chưa tròn để góp phần
đạt đến mục tiêu chiến lược là một nước Việt
Nam thật sự tự do dân chủ trong một xã hội pháp trị.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, mãi mãi là động lực chính thúc
đẩy chúng ta thực hiện trách nhiệm đó, không cá nhân hay
bất cứ tổ chức nào có quyền tìm mọi cách xóa bỏ ngày
này bất cứ dưới tên gọi gì, ít nhất cho đến khi dân
tộc Việt Nam được sống trong chế độ dân chủ tự do,
một chế độ phục vụ nguyện vọng người dân./.
Houston, 25 tháng 3 năm 2007.
Phạm Bá Hoa |