Sau hơn 32 năm, tôi đã đọc
nhiều sách báo kể những tội ác của VC đối xử với Tù
Cải Tạo, nhưng tôi không thấy hay không được đọc những
bài viết về các trại tù ở Kiến Hòa, nay tôi cũng đưa
lên những việc xãy ra ở các trại tù mà tôi đã cùng với
anh em sống chết trong địa ngục trần gian.
Tôi không phải một nhà văn,
tôi chỉ ghi lại những chuyện mắt thấy tai nghe mà tôi đã
trải qua trong những năm tháng phục vụ trong quân đội và
những năm tù của VC, nếu anh em có biết thêm những chuyện
tôi ghi lại còn thiếu sót, xin bổ túc thêm. Chuyện đi tù
VC được ghi qua sách báo, tôi không kể lại các chi tiết
mà tù cải tạo đã trải qua.
Ngày 30-4-1975, một ngày đau
buồn bi thảm nhất đến với Dân – Quân – Cán – Chính
Miền Nam Việt Nam, mà chúng ta gọi là ngày Quốc Hận.
Cũng như các Quân –
Cán – Chính, tôi cũng đi “trình diện học tập’ để trở
thành một công dân tốt như lời của “cán ngố” ra rả
trong các buổi học tập.
Còn nỗi đau nào hơn khi rời
xa người vợ mới cưới hơn hai năm, khi đã thành vợ
thành chồng, người vợ nầy cũng từng là một người lính
không có số quân, cùng sống cùng chết với chồng bên chiến
hào, “ lô cốt “ trong các đồn mà chồng của mình chịu
trách nhiệm, xa đứa con gái đầu lòng mười tám tháng vừa
chập chửng líu lo gọi Pá Má, đau lòng hơn khi chúng tôi có
được đứa con trai mới sanh được mười hai ngày, chia tay
ra đi trong nước mắt…..
Ngày 30-4-75 là ngày dài nhất
của tôi, tử thủ tại Tiểu khu, Thị Xã Kiến Hòa đến giờ
thứ ba mươi, đơn vị của tôi là Trung Tâm Điều Hợp ( TTĐH
) Tỉnh Kiến Hòa, mà trước đó có những danh xưng như Trung
Tâm Đìều Hợp Bình Định Phát Triển, sau đó là Trung Tâm
Đièu Hợp Tái Thiết Phát Triển.
Bạch Hổ Hồ Văn Sáng:
Trước khi tôi về TTĐH, cũng
lội, đánh đấm một thời gian, đầu tiên là Trung đội vũ
khí nặng gồm hai khẩu súng cối 81 ly, hai khẩu đại bác
không giật 57 ly thuộc BCH Tiểu Đoàn ( TĐ ), TĐ 401 Bạch Hổ/Lưu
động Tỉnh, đơn vị trừ bị của Tiểu Khu, thời gian đầu
vác 57 ly lội, sau Bạch Hổ thấy bất tiện nên cải tiến
lại bằng đại liên M60, trở thành trung đội tác chiến bảo
vệ BCH/TĐ, TĐ hành quân giải tỏa,tìm diệt địch, diều
hâu, trực thăng vận… trên các mặt trận lớn nhỏ
thuộc Tiểu Khu Kiến Hòa, đứng đầu là Bạch Hổ Trung Tá
Hồ Văn Sáng xuất thân khóa 3 Hiện Dịch Đồng Đế Nha Trang
13-3-63, đến ngày 30-4- 75 TĐ chưa thua trận nào ( Tan hàng ),
kể cả những lần đụng các Trung đoàn chánh qui của Bắc
Việt như tại xã Tân Lợi Quận Hàm Long, VC xung phong chỉ
cách vài mương vườn là đến Bạch Hổ, trung đội bảo vệ
Bạch Hổ thiệt hại gần một tiểu đội, nói ngay cũng nhờ
Thiếu Tá Lê Văn Ca khóa 11 (Đồng Tiến)Thủ Đức, Quận Trưởng
Quận Hàm Long, ( hiện tại Ông cư ngụ tại Oakland/California
) mà trước đó Ông là Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Tiểu
Khu, Ông đã gọi pháo binh bắn yểm trợ chính xác, cũng như
các anh em bên Không Quân dội những quả bom ngay tuyến xung
phong của địch quân, TĐ thiệt hại nặng nhất chỉ trận
nầy, hy sinh khoảng ba mươi chiến hữu.
Sau cùng Bạch Hổ Hồ Văn
Sáng cũng hy sinh tử trận vào gần cuối năm 1974, trên đường
từ quận Trúc Giang đến Bình Đại thuộc phạm vi xã Qưới
Sơn, mà trước đó Bạch Hổ vừa xong cuộc hành quân tại
quận Bình Đại, thay vì xuống tàu về thì lại có lệnh quay
về bằng xe để giải tỏa một đồn nghĩa quân cách quận
Trúc Giang không xa, TĐ bị một đơn vị súng nặng của
VC phục kích xe, nhiều năm qua VC tìm mọi cách để hạ cho
được Bạch Hổ 401, lần nầy VC ém quân, cho một đơn vị
nhỏ bao đồn, để rồi lệnh Tiểu Khu cho Bạch Hổ về giải
tỏa, khi bị phục kích xe cả TĐ xuống nằm dưới mặt lộ,
các loại B40, không giật đều bắn trợt ra phía sau, TĐ phản
phục kích, tràn qua lộ tấn công, đánh đuổi VC chạy vô
mé vườn…Bạch Hổ bị bắn sẻ khi đứng trên lộ cạnh
xe jeep mang phù hiệu Bạch Hổ chỉ huy các đại đội, viên
đạn ác nghiệt từ mắt trở ra sau ót, Bạch Hổ yên nghỉ
khi trực thăng tải thương chưa đến bệnh viên Mỹ Tho Định
Tường, Bạch Hổ vinh thăng Cố Đại Tá, để lại trong mỗi
người dân - quân Tiểu khu/Tỉnh Kiến Hòa bao tiếc thương,
TĐ Bạch Hổ là một trong những TĐ thiện chiến nhất Quân
Khu IV.
Trong thời gian tôi bị giam
tại khám thị xã năm 1978, tôi có gạ chuyện hỏi những tên
VC hoạt động tại tỉnh Kiến Hòa bị bắt giam chung với
mình (tham nhũng v.v… ), tôi hỏi: khi còn chiến tranh, anh sợ
nhất đơn vị nào của Miền Nam, tên VC trả lời
sợ nhất là Cọp Trắng 401, các đơn vị khác như Sư 7, Lính
Thủy Đánh Bộ chúng tôi không sợ. sau ngày 30-4-75 mồ
của Bạch Hổ bị bọn VC đập phá.
Các huy chương của Bạch
Hổ Hồ Văn Sáng gồm có:
- Bảo Quốc Huân Chương Đệ
Ngũ Đẳng, Lục Quân Huân Chương.
- Danh Dự - Chiến Dịch - Chiến
Thương (3) – Quân Phong – Quân Vụ Bội Tinh.
Hai mươi sáu ( 26 ) lần
Tuyên Dương Công Trạng trước:
Quân Đội ( 3 ), Quân Đoàn
( 3 ), Sư Đoàn ( 4 ), Trung Đoàn ( 2 ), Lữ Đoàn ( 14 )
Huy Chương Hoa Kỳ:
- Lục Quân Huân Chương (1),
Huy Chương Ngôi Sao Đồng với biểu hiệu “V“ ( 5 ) do BTL/Phái
Bộ/Viện Trợ/Hoa Kỳ cấp.
Bằng Tưởng Lục:
- Cấp Sư Đoàn ( 1 )
Bằng Tuyên Dương Công Trạng:
- Tiểu Khu Trưởng/Tỉnh Trưởng
Kiến Hòa cấp ( 3 ).
Các hồ sơ của Bạch Hổ tôi
hiện giử tại nhà/Sacramento.
Sau khi rời TĐ Bạch Hổ, tôi
về lội với TĐ 453/thuộc Chi khu Giồng Trôm/Kiến Hòa khoảng
01 năm, tôi được gọi đi học khóa Lãnh Đạo Chỉ Huy, sau
khi mãn khóa học tôi được lệnh thuyên chuyển về TTĐH Tỉnh
Kiến Hòa.
Trở lại ngày 30-4, những
ngày trước đó anh em không còn làm việc nổi, chỉ còn theo
dỏi tin tức chiến sự qua đài phát thanh, truyền hình, lệnh
thì 100 % ứng chiến, súng đạn nón sắt không rời khỏi người
kể từ khi Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam về giử Tư Lệnh
Sư Đoàn 7 sau đó là Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Quân Khu IV.
TỬ THỦ:
Cuối cùng lệnh buông súng
của Tổng Thống Dương Văn Minh được nghe trên đài phát
thanh Sài Gòn, giờ này chỉ còn đợi lệnh của Tiểu Khu Trưởng
và Quân Đoàn.
Lệnh tử thủ được ban hành,
các phòng ban thuộc TTĐH được lệnh đến Trung Tâm Yểm Trợ
Tiếp Vận để nhận lãnh đạn dược về tử thủ các khu
vực trách nhiệm, cũng nói sơ qua về phòng thủ của Tiểu
Khu/Thị xã Kiến Hòa, ngoài các đơn vị có trách nhiệm, Tiểu
khu có thành lập 02 tiểu đoàn phòng thủ Thị xã gồm các
phòng ban Tiểu Khu, Nghĩa Quân, Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát
Sắc Phục- Dã Chiến – Giang Cảnh – Nhân Dân Tự Vệ . .
.., trách nhiệm mỗi TĐ được phân chia ranh giới từ đại
lộ chính Hùng Vương giửa Thị Xã, từ ngã ba tháp đến cầu
Cái Cối, TĐ A về hướng Đông, TĐ B về hướng Tây, tôi
chỉ lượt thuật TĐ A, vì chúng tôi trong Bộ Chỉ Huy ( BCH)/TĐ
và Trung Tâm Trưởng TTĐH trách nhiệm Tiểu Đoàn Trưởng.
BCH/TĐ đóng trên Trường Đại
Đồng dạy tiếng Hoa, khu vực bờ hồ thị xã. Ngoài cấp
số đạn cá nhân tối đa, chúng tôi khuân vác những thùng
lựu đạn lên nóc trường học.
Tôi lái xe suốt đêm cùng
với Tỉnh Đoàn Trưởng/Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn ( XDNT
) ( hiện ở San Jose ), với các Sĩ Quan trực BCH/TĐ hiện ở
các Tiểu Bang Hoa Kỳ, từ trưa đến chiều cho đến tối các
điểm giữ vững tay súng chiến đấu, cho đến sau 12 giờ
đêm thì các địa điểm bắt đầu rời bỏ hàng ngũ, hệ
thống truyền tin chúng tôi không còn liên lạc được với
Tiểu Khu, các đại bàng đâu mất hết, từ khám thị xã các
tù nhân thoát ra ngoài, lúc đó chúng tôi đậu xe tại
nhà ba má tôi trên đường Nguyễn Đình Chiểu , máy truyền
tin vẫn còn liên lạc với một số địa điểm, chưa thấy
bóng dáng một tên VC nào vào Thị Xã, tôi đề nghị uống
một chầu rượu cuối, không biết chúng ta có còn được
uống với các chiến hữu như thế này nữa hay không? Anh em
đồng ý, rượu nhà ba má tôi uống hết, các bác bạn của
ba tôi ở gần bên mang rượu sang cùng uống với chúng tôi,
bàn tán tình hình và chờ giặc vào, phút chốc tôi lái xe
đi vòng đai thị xã xem tình hình, ngang qua nhà thăm vợ
con, trở lại tiếp tục uống với anh em, trên đường phố
người chạy qua, lại lo về nhà.
Chúng tôi tiếp tục uống,
không biết sao càng uống càng tỉnh táo, không say, cho đến
03 đến 04 giờ sáng thì trên đường phố vắng lặng thỉnh
thoãng có vài anh đi ngang, sau 04 giờ sáng tôi đưa vài anh
em về nhà, xong tôi trở lại tiếp tục với các anh cùng tử
thủ với tôi, cuối cùng thì tôi đưa anh bạn sau cùng
về, hiện tại anh bạn cùng đơn vị nầy ở Atlanta, theo lời
kể lại của bạn nầy thì VC đã vào tới nhà, nhưng bọn
VC không dám vào thị xã,
Còn một mình tôi trên đường
phố, lái xe vòng vòng nhìn lại những hình ảnh thân thương
mà mình gắn bó bao lâu nay, gần 06 gjờ sáng tôi lái xe vào
đậu trước cửa TTĐH, chìa khóa xe vẫn nằm trong ổ khóa,
vào văn phòng đi một vòng nhìn từng cái bàn, cái ghế cố
thu lại những hình ảnh một lần cuối. thiêu hủy những
văn thư…..
Tôi đi bộ về nhà, không
xa lắm, nằm trong trung tâm thị xã, trang bị vũ khí, quân
phục nón sắt vẫn trên người, lần nầy có phần nặng hơn
vì lựu đạn tôi mang thêm, trên đường tôi nhặt 01 khẩu
Colt 45 của ai đó vất trên đường, lận vào dây “ba chạc”,
nếu VC vào đến thị xã thì hôm nay tôi không có ngồi đây
gỏ những dòng nầy, vào đến nhà lúc 06 giờ sáng.
Nằm xuống là ngủ ngay, suốt
ngày đêm mệt mỏi cùng với trận nhậu cuối để đời với
các chiến hữu, tôi tỉnh dậy, sau mấy tiếng gọi của vợ,
VC vào đến thị xã rồi, treo cờ v.v…, thay đồ thường
phục xuống đi một vòng thị xã, lòng buồn vô hạn, tôi
thấy cay cay nơi khóe mắt, tôi kềm lại không muốn nước
mắt rơi nhưng không được, tôi khóc, có những lúc muốn
cưa đôi với bọn chúng, nhưng nghĩ tới vợ, con, gia đình,
đồng bào, nếu có chuyện gì sợ liên lụy không hay.
Đến trưa 01-5-1975 tôi cùng
vợ mang vũ khí cá nhân (để trong giỏ xe Honda Dam ) do cơ quan
cấp phát, đem vào phòng làm việc ký giấy trao trả, còn các
đồ trận khác tôi vẫn giữ kể cả “ Ba lô “ ( tất cả
nhuộm đen ) trước khi sang Mỹ diện H O 1.
TRÌNH DIỆN ĐI TÙ:
Khi vào rọ rồi thì mới thấy
anh em mình quá thật thà, quá tin VC khi nghe thông báo trình
diện sớm, “học tập” tốt về sớm.
Phân loại có hai thành phần:
- Quân đội trình diện bên
bộ đội, sau đó đưa đi các trại tù thuộc các quận Mỏ
Cày, Hương Mỹ, Thạnh Phú.
- Hành chánh trình diện bên
công an ( CA ), tôi tường thuật về bên hành chánh.
Sau khi kêu gọi trình diện
gồm các thành phần: Hành chánh, Cảnh sát, An ninh Quân Đội,
Tình Báo, nói chung không phải đơn vi tác chiến, trình diện
tại Trường Công lập Kiến Hòa vào ngày 11-6-75.
Anh em tập trung đầy Trường
học, ai được gọi tên thì lên lầu, VC giữ lại luôn đến
tối đưa đi các trại, những người khác được về.
Tôi thoát được đợt nầy,
ngày hôm nay vợ tôi mới sanh đứa con trai còn nằm trong nhà
bảo sanh, đứa gái lớn vừa được 18 tháng, mừng là được
về chăm sóc vợ con, nhưng không biết được bao lâu.
Rồi sau đó khoảng 10
ngày, lại nghe thông báo những người còn lại sẽ đưa đi
“học tập” vào ngày 23-6-75, rồi thì cũng đến ngày chia
ly, không biết diễn tả như thế nào với nỗi đau nầy, người
vợ trẻ làm sao chăm sóc hai con đây, nhất là mới sanh 12
ngày, cuộc đời chỉ thấy tối tăm, tương lai mờ mịt.
Trại giam:
Những trại giam của Tỉnh
Kiến Hòa, ngoài trại giam ( Khám ) chính tại thị xã, giam
giữ những ai chưa điều tra xong, các trại giam lao động khổ
sai như sau:
Căn cứ hỏa lực của Trung
đoàn 10/Sư đoàn 7/QL.VNCH đóng tại xã Bến Tranh cạnh bờ
sông, bên kia là Cồn Ốc, sau đó Trung đoàn 10 giao lại căn
cứ cho Tỉnh Kiến Hòa thành lập thêm Quận mới là Quận
Phước Hưng, nơi đây VC thành lập trại
tù khổ sai chính, là trại
Bến Tranh, muốn đến trại bằng đường bộ thì từ thị
xã cầu Cái Cối qua hương lộ 5 khoảng 05 km, hoặc đường
sông đi bằng đò máy, các tù nhân lao động đều nhập
vào trại nầy, sau đó phân phối đi các trại khác, các trại
nhỏ cách khoảng hơn 01 km như tại xã Sơn Phú, Giồng Quít,
xa hơn có trại Châu Bình ( xã Châu bình Quận Giồng Trôm )
trại nầy khắc nghiệt nhất hơn các trại khác, chuyên sản
xuất lúa, trại Thạnh Phú, trại Lách sản xuất gạch.
Trại Bến tranh có đủ mọi
nghành nghề: Ban mộc, ban sắt, ban máy , ban may, ban thuốc nam,
ban sửa đồng hồ & radio, ban trồng tỉa, ban ruộng…,
những ai không có ngành nghề thuộc ban linh tinh.
Lúc đầu mới vào trại là
san bằng những dấu vết cũ, hệ thống bản đồ mìn bẫy
phòng thủ không còn, anh em rà mìn bằng … tay và chân, anh
em bỏ lại Bến Tranh khoảng trên dưới hai mươi ( 20 ) bàn
chân nơi trại nầy, dẹp hết mìn bẫy mới xây dựng lán
trại, hội trường v.v…, sau đó rào kẽm gai anh em vào tự
giam mình.
Khi đi tù vào ngày 23-6-1975,
CA đưa chúng tôi đến xã Sơn Phú, ở tạm nhà dân thời gian
đầu để xây dựng trại, qua một thời gian, nhận thấy chúng
tôi thuộc thành phần tốt, chủ nhà ( không theo VC ) đi chợ
thị xã đến nhà vợ tôi, chuyển thư của tôi, giúp thông
báo nơi ở của tôi, và mang đồ tiếp tế, gia đình rất
mừng khi biết được tin của tôi cùng vài anh em, ở Sơn Phú
khoảng ba tháng tôi cùng một số anh em được tuyển lựa
di chuyển đến Bến Tranh.
Tại trại Bến Tranh khi thành
lập ban may tôi xung phong ghi danh ngay, hồi nào tới giờ có
biết may vá gì đâu, thôi thì làm thư ký vậy, cuối tuần
được đi chợ thị xã mua kim, chỉ, nút áo v.v.., không có
gì cũng tìm cách đề nghị mua nầy nọ để có cớ đi
chợ, dĩ nhiên có CA theo kèm, xong việc tìm cách phóng về
thăm…con.
Ở ban may cũng có nhiều cái
lợi cho anh em, may vá quần áo lao động chỉ lấy giá tượng
trưng, nghe ngóng tin tức bên ngoài, tin tức cho các bạn, quà
cáp gia đình các bạn gởi, cuối cùng tôi có cái nghề làm…
khuy cài nút áo, sau khi ra tù, tôi có dịp trổ tài với bà
xã, khi bà xã có lãnh may áo quần, nơi ban may tôi cũng
giúp ông anh “ ba cục vàng ” vào làm thợ …vá áo quần
( anh nầy hiện ở San Jose
),
Cuộc vượt ngục tại trại
giam thị xã:
Cuộc đời tù không bình yên,
sóng gió ngày càng lớn, mùng hai tết năm 1978, tại trại
Bến Tranh, thường thì ngày thăm nuôi được ra ngoài nhà thăm
nuôi gặp gia đình 15 phút, nhưng hôm nay tất cả tập trung
vào hết hội trường, công an thị xã xuống bao quanh hội
trường, AK 47 chĩa vào, các chức sắc đoàn phó, đoàn trưởng
thay nhau ra nhận quà thăm nuôi mang vào, sau đó anh em cũng được
biết là có cuộc vượt ngục lớn vừa xảy ra trên khám thị
xã Kiến Hòa mà bây giờ VC gọi là Bến Tre.
Mấy tháng sau, có đợt tù
nhân trên khám thị xã đưa xuống trại, có một đàn em thuộc
đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt, vào tổ chức phục quốc,
bị bắt, đưa vào khám thị xã, sau đó nhập vào toán vượt
trại bị bắt lại
Khi vào trại Bến Tranh một
thời gian, qua tiếp xúc hằng ngày, em nầy biết tôi là phe
ta, nên mới kể lại cho biết, lời kể lại những ý
chính, tôi không là người trong cuộc nên chi tiết không rõ,
đến cuối năm 1978 tôi bị đưa về khám thị xã, anh đại
diện trưởng phòng giam cũng kể lại y như vậy, cuộc vượt
ngục như sau:
Trước ngày mùng 2 tết năm
1978, không biết bằng các nào Anh Phơi - Xã trưởng ( XT ) Xã
Hiệp Hưng Quận Giồng Trôm, Tỉnh Kiến Hòa, có được một
khẩu Colt 45 cùng băng đạn, anh bị giam tại phòng khám thị
xã, anh đã kêu gọi một số anh em tổ chức vượt ngục từ
trước, và cuộc vượt ngục quyết định vào sáng mùng 2
vì thời cơ cho phép, cũng kể sơ về Xã Trưởng Phơi:
Anh luôn là một chiến sĩ xuất sắt của Tỉnh, anh tổ chức
mật báo, tình báo, cảm tình viên rất bén nhạy, khi được
tin, anh cùng anh em phục kích diệt không biết bao nhiêu VC tại
xã.
Cuộc vượt ngục do XT Phơi
làm trưởng toán, phó toán là anh Nghĩa phục vụ tại Tỉnh
Đoàn XDNT, với chức vụ xướng ngôn viên Đài phát thanh,
anh Nghĩa cao khoảng gần 1m70, trắng trẻo đẹp trai, ăn nói
có duyên.
Phòng giám thị trại ngăn
cách với các phòng giam bằng cửa sắt lớn, để xe hơi ra
vào, cửa luôn đóng kín, đi bộ ra vô bằng cửa sắt nhỏ
chỉ có bọn công an qua lại mà thôi, các phòng 1,2 bên trái
3,4 bên phải, giữa là sân bóng chuyền, cửa chính các phòng
nhìn ra lộ, sau phòng 1,2 là phòng 5 nơi giam giữ các thành
phần có “ nợ máu “ , cạnh phòng 5 là 2 phòng nhỏ biệt
giam án tử hình, sau phòng 3,4 là khu giam của trại Nữ.
Mùng 2 tết bọn công an chểnh
mảng việc canh gác hoặc đi chơi ngoài thị xã, nên không
còn mấy tên giữ trại,
Anh em được ra khu bóng chuyền,
rửa chén trên thềm sau khi ăn cơm , thường thì các việc
vệ sinh v.v.. đều trong phòng giam, cửa sắt nhỏ lên phòng
giám thị không khóa, nên XT Phơi quyết định vượt ngục.
Anh Phơi cho vài anh hạ 1,2
tên CA tuần tiểu trong các phòng giam, còn tất cả phóng lên
phòng giám thị, với khẩu Colt 45 trên tay XT Phơi bắn mấy
phát vào tên đại úy CA giám thị phó gục ngay tại chổ,
các anh em khác đập khóa kho vũ khí, anh em nào xử dụng được
loại nào thì giữ loại nấy, như M79, M16, M60, AK v.v.., sau
đó các anh hạ các tên CA gác các “ lô cốt”, anh em
mình thoát ra ngoài nhưng có 1 anh hy sinh nằm lại tại cổng
ra lộ.
XT Phơi liên lạc với bên
ngoài ra sao không biết, khi thoát ra ngoài không có ai hướng
dẫn bốc đi, cuối cùng XT Phơi quyết định chia 2 toán, 1
toán do XT Phơi, 1 toán do anh Nghĩa hướng dẫn, chia nhau đi
2 cánh về hướng Quận Mỏ Cày và Quận Hàm Long ai thoát được
thì tùy mỗi anh em.
Các anh em tù còn lại trong
khám, lại bị một phen kinh hoàng, khi bọn CA tràn vào các
phòng, chỉa AK vào anh em với lựu đạn rút chốt, nếu anh
em có phản ứng gì thì bọn chúng buông lựu đạn giết hết.
Sau đó bộ đội VC theo
đuổi các anh vượt ngục, không còn phương cách nào hơn,
với hỏa lực các anh có trong tay đánh với bọn VC tới viên
đạn cuối cùng , hết đạn XT Phơi tự sát tại mặt trận
cùng vài anh khác, một số các anh hy sinh, bị thương, bị
bắt lại.
Xác hai anh Phơi và anh Nghĩa
chúng mang về Giồng Trôm, xã Hiệp Hưng còn gọi là Sơn Đốc
giáp ranh quận Ba Tri bêu riếu cho đồng bào xem. Những người
còn lại tùy theo nặng nhẹ VC xử tử hình, chung thân, tù
vài năm cho đến 20 năm.
Nếu có ai xem đọc qua những
giòng nầy, xin một phút yên lặng để tưởng nhớ các Anh
Hùng, Dân – Quân – Cán – Chính VNCH đã hy sinh không khuất
phục với bạo quyền cọng sản
Trả Thù:
Sau vụ vượt ngục nầy các
trại giam bắt đầu tối tăm hơn, chúng đưa các tên ác ôn
về giữ trại giam, và bắt đầu thanh lọc mà chúng tôi thường
gọi là “ Tuyển lựa ca sĩ “, chúng tôi lần lượt được
“ Gom bi “ về khám thị xã , như những ai thường được
xuất trại với công tác vác gạo …., đi bên ngoài, tiếp
xúc với dân chúng, các vị có chức sắc trước năm 1975,
Đang làm lao động, CA tới
chỉa súng, 02 anh vô một còng dẫn vào hội trường, có khi
1, có khi 2 hoặc 5,7 người, tất cả đều không được vào
lấy đồ đạc cá nhân, mà do đoàn phó hoặc trưởng vô lấy,
sẽ bắn bỏ nếu có cử chỉ khác thường, các sự việc
đều diễn ra trước mắt tôi, vì ban may của tôi nằm trong
hội trường.
Thời gian nầy tinh thần anh
em xuống rất thấp, ăn ngủ không yên, nhìn qua lại những
người bị đưa đi toàn những “ Thứ dữ”, không biết
tới phiên mình lúc nào. Cũng nói thêm trước lúc vượt trại
các ban nghành đều ở bên ngoài vòng rào trại làm ăn buôn
bán với dân chúng, sau khi có cuộc vượt trại đều vô trong
hết, dân chúng muốn may đồ, hốt thuốc nam v.v.., đều do
CA dẫn vào.
Khoảng giữa năm 1978, CA đưa
về khám Cha Nguyễn Ngọc Sáu, Cha Tuyên Úy của Trung đoàn
10/SĐ 7, tôi cũng được gọi đi chợ mua đồ hoặc khiêng
đồ, trên ghe chỉ có tôi cùng Cha ngồi đâu mặt, người
lái ghe máy đuôi tôm là phe ta, 2 tên CA ngồi trước mũi ghe,
Cha Sáu lén đưa cho tôi 1 quyển kinh nhỏ & các giấy tờ
của Cha, khi tới thị xã sau khi làm xong công việc, CA cho tôi
được tự do đi chợ mua đồ, tôi đã trao lại tận tay những
gì Cha gởi cho người thân của Cha, cũng nói thêm tôi cùng
Cha ăn cơm chung từ khi nhập trại cho tới lúc VC đưa Cha về
Trung Tâm Thẩm Vấn để biệt giam, sau nầy VC bọn nó thủ
tiêu Cha cùng các anh khác sẽ kể tiếp sau ( Thưa Cha con đã
làm tròn những gì Cha giao cho con, một người Cha tinh thần
mà con không bao giờ quên )
Khoảng tháng 10/1978 tôi cũng
chung số phận với anh em, trong ban may mất một cây kéo, cây
kéo nầy của Ba tôi, tôi cho trại khi trại thành lập ban may,
tôi biết rằng bọn CA muốn kết tội tôi với lý do ăn cắp
kéo để làm vũ khí vượt trại, lúc đầu tuởng rằng có
người xấu lấy quăng xuống ao cá tra, anh em trong ban may mò
dưói ao mấy ngày không tìm được đành chịu.
Sau đó ít lâu vào một ngày
đẹp trời, tôi được lệnh đồ đạc cá nhân cùng với
vài anh xuống ghe, đi lao động vinh quang sản xuất gạch bên
trại Lách, trước đây chợ Lách thuộc tỉnh Vỉnh Long nay
thuộc Bến Tre, suốt ngày cứ khiêng gạch ra phơi, rồi
khiêng vô chất, cứ vậy từ sáng đến chiều.
Cho đến trước Noel 1978 một
ngày, tôi cùng vài anh bị đưa về khám, từ bờ sông trước
Dinh Tỉnh Trưởng, ngồi đợi các trại khác đưa người lên
nhập lại đi bộ vào khám thị xã.
Từ trại lao động, bây giờ
vào khám thì hết ý, chổ nằm như cá mòi, phải nằm nghiêng,
ăn uống, vệ sinh hằng trăm người chỉ có một cầu tiêu,
buổi sáng nước nóng pha sữa hoặc ăn mì gói thì nước âm
ấm bốc khói, nước tắm được …2 ca mũ nhỏ.
Buổi sáng được cho ra ngoài
đi cầu cá tra, đi dọc thềm khu bóng chuyền, ngăn cách giửa
2 khu phòng 1.2 và phòng 3,4. anh em lên trước được gặp lại
đầy đủ vì được phép cho ra chơi bóng chuyền và xem.
Tôi được nhìn thấy các
anh đó lần cuối qua những nụ cười mỉm, những cái chớp
mắt thay cho lời thăm hỏi thân tình, mà tôi sống với các
anh từ khi vào tù, với những chung trà tình nghĩa, chia sớt
từng cọng rau, hột muối…
Chỉ gặp các anh buổi sáng,
đêm nay là đêm noel, đang sửa soạn trải chiếu vì tới giờ
ngủ, thì các cửa sắt khua động rầm rầm, tiếng leng keng
mở khóa, vì muốn tới nơi nằm của chúng tôi phải qua nhiều
lớp cửa sắt, có tiếng của CA gọi từ bên ngoài, ai có
tên thì soạn đồ đạc cá nhân để chuyển trại, tôi nói
thầm cũng như với các bạn, bây giờ đâu còn đưa đi Bắc
nữa đâu, đến đây là đụng “ La phông “ rồi, các trại
đều chật cứng, bây giờ có đi là đi chết chứ đi đâu,
bổng nhiên có bạn gọi: Mẫn soạn đồ đạc cá nhân, cán
bộ kêu tên kìa.
Tôi nói thầm coi như xong,
đồ đạc mang ra đến cửa chuẩn bị lên xe, tự nhiên thoáng
trong một tích tắc, không đến một giây, tôi hỏi tên cán
bộ cầm giấy đọc tên: Xin hỏi cán bộ tên Mẫn mà họ
là gì vậy, tên cán bộ xem lại nói: Họ Nguyễn, tôi liền
nói tôi tên họ Đại Minh Mẫn, tên CA trả lời: không phải
anh… trở vào đi.
Trong một tích tắc đó tôi
sực nhớ, lúc vào khám, các trại đưa lên với tôi, từ trại
Bến Tranh có một anh tên Mẫn vào phòng 1 còn tôi phòng 2,
hai cửa hông đâu mặt nhau cách một lối đi khoảng gần hai
mét, anh Nguyễn Văn Mẫn nầy thuộc ban sửa đồng hồ,
cùng chung với ban may tôi, lúc bên ngoài trại làm ăn buôn
bán với dân chúng, anh Mẫn nầy thuộc hồi chánh viên, sau
khi anh ra đầu thú, anh làm mật báo viên với Cảnh sát đặc
biệt Quận Bình Đại/Kiến Hòa, cán bộ trại gọi anh Mẫn
nầy ra đi. (Người chỉ huy anh Mẫn nầy hiện ở Santa Ana
Nam California)
Trong đêm đó cho tới về
sau, tôi cùng anh em kiểm lại đợt đi đó khoảng gần bốn
mươi ( 40 ) anh em, cho tới giờ nầy những anh đó mất tích
luôn, gia đình vợ con thân nhân tìm kiếm mà không gặp.
Ở đây tôi cũng xin nói thêm,
con người ta đều có cái số mạng, tôi hụt chết không biết
bao lần, 02 lần mìn nổ trước mặt lúc tôi hành quân, vừa
xuống mương để leo lên thì miểng rào rào trên nón sắt,
01 lần chính tôi đạp trái mìn 105 của pháo binh, VC chế biến
lại, tôi nghe hột nổ, nổ cái bốc nhưng trái mìn 105….
thúi, cả người tôi toàn là thuốc nổ, trắng hết áo quần,
cả đoàn quân cạnh tôi người nào người nấy mặt xanh cắt
không có giọt máu, một lần đi công tác bên Quân Đoàn lúc
trở về, bỗng nhiên trực thăng đáp xuống Quận Hương Mỹ,
hỏi anh Pilot sao lại xuống đây, anh trả lời cánh quạt trực
thăng …lỏng muốn rớt ra, lại một phen hồn vía, rồi lần
sau cùng gọi lộn họ tên khi ở tù.
Những tên anh em được ghi
trong WEB: http://www.tonghoi.org/,
bị giết hại ở Kiến Hòa là do tôi đưa lên.
Sau khi tôi qua Mỹ với diện
H.O 1/31 vào dầu năm 1990, thời gian sau các anh ở Kiến Hòa
lần lượt đến Hoa Kỳ, rồi về Sacramento gặp tôi, trong
đó có một anh xuất thân từ Trường Thủ Đức biệt phái
qua Cảnh Sát, sau 03 năm tù bên Quân Đội, anh bị đưa qua
trại Bến tranh và anh gặp tôi.
Xin nói thêm các trại Mỏ
Cày, Hương Mỹ, Thạnh Phú, giam anh em bên quân đội, sau ba
(3) năm đều giải tán, các anh bị đưa đi TTHL/Chi Lăng…,
các anh biệt phái Cảnh sát, ANQĐ, CTCT, Tình báo chuyển giao
cho CA quản lý, đưa đến trại Bến tranh
Anh bạn hiện tại đang ở
Sacramento, cho tôi biết các anh em bị thủ tiêu như sau: Sau
khi ra tù anh về xã Thanh Tân Quận Mỏ Cày, Xã Thanh Tân nằm
sát cầu bắc Hàm Luông cách thị xã Kiến Hòa khoảng 05 km,
cạnh nhà anh có tên CA ở trại Bến Tranh, sau đó bị
cho nghỉ việc, tên CA nầy cho biết: Trong đêm đưa các anh
đi vào cuối năm 1978, bọn CA đã đập đầu quăng các anh
em ngoài biển Bình Đại thủ tiêu, cho nên gia đình thân nhân
nhiều năm qua không tìm được, và gia đình cùng làm lể giỗ
vào ngày Noel hằng năm cho các anh.
- 1/- Ông Tổng Gẩm: thuộc
quận Giồng Trôm, xã Lương Phú giai thoại của Ông phải
kể bằng sách, VC nhiều lần ám sát Ông mà không được,
lúc trong đồn Nghĩa Quân, VC cho cả tiểu đoàn đánh vào đồn,
anh em không bị thiệt hại, trái lại cả tiểu đoàn bị Ông
xóa sổ, Ông đã cho đào các địa đạo thông ra ngoài, khi
tình báo biết được VC sẽ tấn công đồn của Ông, buổi
chiều Ông cho lính vui chơi trong đồn, VC theo dỏi không thấy
ai ra ngoài, chiều tối tất cả theo địa đạo ra ngoài chỉ
còn lại vài anh trong đồn, khi tối VC tấn công, các anh nầy
di chuyển bắn tối đa, khi cả tiểu đoàn VC vào trong phạm
vi của đồn, những anh em còn lại giử đồn thoát ra ngoài,
khi đó các nghĩa quân dưới địa đạo, giao thông hào bắn,
tung lựu đạn vào VC xung quanh, từ trong đồn cho đến các
hàng rào kẻm gai bên ngoài, bên ngoài anh em bao vây bắn vào,
VC bỏ xác hơn hai trăm ( 200 ) tại chỗ.
- 2/- Ông Tổng Be: Thuộc
Quận Trúc Giang, cũng diệt cộng không kém, hai Ông Tổng nầy
đã nghỉ hưu từ lâu, nhưng vì có "Nợ máu “ nên VC
mới bắt đi tù và có dịp trả thù.
- 3/- Cha Nguyễn Ngọc Sáu:
Cha Tuyên Úy Tr Đ 10/Sư Đoàn 7 Kiến Hòa.
- 4/- Đại Úy Thình:
Phó Ty An Ninh Quân Đội Kiến Hòa.
- 5/- Đại Úy Thịnh:
Trưởng Cuộc Xã An Hội Thị xã Trúc Giang Kiến Hòa.
- 6/- Đại Úy Hà Văn Kỉnh:
Nghị viên đơn vị Kiến Hòa.
- 7/- Đoàn Quang Châu:
Tỉnh đoàn phó Tỉnh đoàn Xây dựng nông thôn Kiến Hòa
- 8/- Nguyễn Văn Mẫn: Hồi
chánh viên, mật báo viên Cảnh sát Đặc biệt Quận Bình Đại
Kiến Hòa.
Còn lại khoảng 30 anh em khác
gồm đủ các thành phần: Xã trưởng, Cảnh sát v.v…, tôi
không nhớ tên vì không cùng trại hoặc trước 1975 các anh
phục vụ ở các quận, xã khác nên không nhớ tên .
Sau đợt trả thù nầy, các
tù nhân tại khám như vượt biên ( không phải anh em tù bị
đưa về ) được chuyển đi các trại lao động, trong phòng
2 của khám mà tôi đang bị giam, bầu lại chức vụ Thư ký
của phòng,vì anh thư ký nầy đã đi trại lao động, anh em
trong phòng bầu tôi vào chức vụ thư ký, với nhiệm vụ ghi
nhận các anh em trong phòng cần mua những gì cần thiết, thức
ăn, vật dụng vệ sinh cá nhân v.v…, tôi tổng kết thu chi
tiền bạc của các anh, vì khi thăm nuôi, tiền của các anh
do trại giam giữ.
Với nhiệm vụ nầy tôi lại
được thoải mái hai năm, tự do đi lại trong khu vực nhà
bếp, được phép nói chuyện với các phòng khác, thông tin
đến các anh em mình khi có tin vui, từ mỗi ngày hai ca mũ nước
tắm nay được hai thùng mỗi thùng hai chục lít hoặc hơn,
do vậy phe ta được chia sớt rất nhiều ( tôi đã liên lạc
được với các anh cùng đi tù với tôi khắp các tiểu bang
) .
Tôi trở lại trại Bến Tranh
vào cuối năm 1980, lần này tôi vào ban ruộng, người làm
thế trâu, hai anh phía trước choàng dây ngang vai vào cái cày
phía trước, một anh phía sau giữ cày, như vậy cày hết mảnh
ruộng nầy đến mảnh ruộng khác, rồi cuốc lật, tát nước
bằng gàu, thật là thiên đường chủ nghĩa cọng sản.
Xin kể thêm một chuyện đau
lòng khác, vào năm 1981, khi phong trào vượt biên khắp nơi
như chúng ta biết, Kiến Hòa cũng là nơi bà con vượt biên
đến đây đi nhiều nhất, tôi còn nhớ một ngày, tất cả
trại ngưng lao động các công việc chuyên môn, tập trung cuốc
xẻng ra vòng rào trong khu vực trại, đào một hố thật dài
kích thước bề ngang như những mương vườn, chiều dài hằng
trăm thước, chúng tôi đào mà cứ thì thầm nho nhỏ, chẳng
lẻ anh em tự đào hố chôn mình như Tết Mậu thân? Xong cái
vụ đào mương thì lại tuyển lựa những ai lội giỏi, ai
không lội lặn giỏi thì có nhiệm vụ khiêng hoặc đẩy xe,
tập trung chờ tại cổng trại, cổng trại cạnh mé sông,
khu vực thăm nuôi.
Sau đó được lệnh ra
ngoài cầu tàu trại khiêng …. các người chết của tàu vượt
biên, trước khi khiêng bọn công an lục soát trên người để
tìm vàng, đô la v.v.., trước mắt của tôi và các anh em, những
người vượt biển nầy chết là vì bị tàu của bọn CA ủi
cho chìm, bà con trên tàu vượt biển chết hết, khi khiêng
tôi thấy máu chảy từ bến tàu cho đến hố chôn, chúng tôi
cuốn mỗi người vào một chiếc chiếu, khiêng đến hố đặt
nằm sấp lớp theo chiều dài của mương ( hố ), sau đó anh
em tôi lấp đất lại.
Sau khi ra tù, khoảng cuối
năm 1982, CA bắt buộc các anh em tù đi xem chúng xử tử hai
Nghị viên Trần Văn Hiếu và Nguyễn Văn Mười đơn vị Kiến
Hòa về tội phục quốc, chúng bắn hai anh hai ngày khác nhau,
anh Trần Văn Hiếu chết liền, riêng anh Nguyễn Văn Mười
lãnh trọn một tiểu đội AK mà không chết, sau đó anh nhận
phát súng ân huệ, anh mới ra đi.
Trên đây tôi muốn kể lại
những sự việc chứng kiến tận mắt, về những tội ác
của VC, chỉ là một trong số hằng ngàn hằng chục ngàn tội
ác, khắp các nhà tù từ Nam chí Bắc, không kể một nhà tù
lớn hơn là toàn cỏi Nước Việt Nam, toàn dân đói khổ,
bị kềm kẹp dưới một chế độ khát máu, kể về tội
ác của VC, chúng ta kể suốt đời cũng không bao giờ hết.
Tôi ra tù vào năm 1982, lãnh
thêm ba năm quản chế, quản chế của tôi cũng đặc biệt
hơn, giấy ra trại tôi còn giữ đây, hưởng hơn hai chục
điều cấm, không đưọc tiếp xúc với ai ngoài những người
trong gia đình, không được làm ăn buôn bán, không được
rời khỏi phường, không ….., mỗi ngày trình diện CA phường
bốn lần: 08 giờ sáng, 12 giò trưa, 04 giờ chiêu, 08 giờ
tối, trong khoảng thời gian nầy làm gì, ở đâu phải ghi
vào sổ. Ngoài ra còn trình diện thị xã, hằng tuần, hằng
tháng.
Tôi qua Mỹ với chương trình
H.O 1/31, đầu năm 1990. từ đó cho đến nay tôi luôn sát cánh
với Hội Đoàn, Cộng Đồng, luôn đấu tranh, mong muốn Nước
VIỆT
NAM thân yêu sớm có được thật sự TỰ DO – DÂN CHỦ
- NHÂN QUYỀN.
Alfa Đại Minh Mẫn
Quốc Hận 2008.
 |