|
Thay lời kết
*****
Thưa quí vị, quí bạn,
Những ngày cuối Tháng Tư, thường
gợi lại trong mỗi người Việt Nam Cộng Hòa cũ, nhất là
những cựu quân nhân chúng ta, dấu ấn sâu đậm nhất trong
đời quân ngũ. Những ngày đó thật là ngắn ngủi đối với
lịch sử, nhưng là những ngày mà thế hệ chúng ta đã để
lại một vệt đen trong dòng lịch sử đương đại. "Vệt
đen đó" có thật sự là do lỗi lầm của chúng ta hay không,
còn phải chờ lịch sử phán xét, nhưng có điều chắc chắn
là chúng ta phải chia phần gánh vác trách nhiệm chưa tròn
của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa!
Cuộc chiến tranh chống cộng sản
để bảo vệ tổ quốc Việt Nam, thật sự là tôi không rõ
bắt đầu từ lúc nào. Tính từ ngày ngưng bắn theo Hiệp
Ðịnh Ðình Chiến ký tại Genève, Thụy Sĩ, ngày 20 tháng 7
năm 1954, hay tính từ năm thứ 3 sau đó?
Sở dĩ tôi nêu câu tự hỏi "tính
từ năm thứ ba", là vì Hiệp Ðịnh dự liệu 2 năm sau đó
sẽ tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc. Với lại 2 năm dự
liệu trong Hiệp Ðịnh, cộng sản chưa có hoạt động công
khai nào nên xem như thanh bình. Do sự phản đối của chánh
phủ Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc bầu cử đã nói
trong Hiệp Ðịnh, vì chánh phủ không ký vào đó nên không
chấp nhận sự ràng buộc phải thi hành. Thế là cộng sản
công khai gây chiến ngay từ năm thứ ba, tức năm 1957.
Năm 1964, Bộ Tổng Tham Mưu có ban
hành một văn kiện, theo đó thì cuộc chiến tính từ ngày
1 tháng 1 năm 1960. Thật ra nội dung này không có tính cách
xác định chiến tranh bắt đầu từ ngày đó, mà nhằm có
một định điểm tương đối về thời gian để ấn định
niên hiệu trên cuống huy chương "Chiến Dịch Bội Tinh". Chiến
Dịch Bội Tinh trên ngực áo của hầu hết quân nhân có một
hoặc hai niên hiệu: Niên hiệu 1945-1954 đối với những quân
nhân phục vụ từ trước đến khi kết thúc cuộc chiến đó.
Và niên hiệu thứ hai mới có số "1960-......." đối với những
quân nhân mới vào quân đội sau ngày đình chiến tháng 7 năm
1954. Và niên hiệu thứ hai này mới có 4 số đầu. Tôi nghĩ,
một triệu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt
trên quê hương Việt Nam đến lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4
năm 1975, chúng ta tự động ghi lên niên hiệu 4 số kế tiếp
là "1975". Không cần ghi lên cuống huy chương có nền xanh trắng,
mà chúng ta chỉ cần ghi vào ký ức chúng ta là đủ.
Tôi cũng nghĩ rằng, chúng ta nên
thực hiện thêm niên hiệu thứ ba với 4 số đầu là "1976-......",
vì tuy chúng ta thua trận với 222.809 người vào tù, hằng trăm
ngàn đồng đội khác lẩn trốn hay đang sống khổ đau dưới
chế độ độc tài của cộng sản ngay trên quê hương Việt
Nam, và hằng triệu người gồm đồng bào đồng đội vượt
thoát tìm tự do khắp năm châu bốn biển, ước lượng khoảng
3.000.000 người. Nhưng những hành động của tất cả chúng
ta bằng cách này hay cách khác, đều thể hiện ý nghĩa của
một cuộc chiến tranh khác trong mục đích tiếp tục chống
nhóm lãnh đạo cộng sản độc tài cũng như chồng bất cứ
chế độ độc tài nào khác trên đất nước Việt Nam. Tôi
muốn nói đến năm 1975 một cuộc chiến kết thúc, năm 1976
một cuộc chiến khác bắt đầu. Và cuộc chiến đó đến
nay là năm 2007, vẫn đang tiếp diễn và ngày càng quyết liệt.
Chỉ khác cuộc chiến 1954-1975, thay vì vũ khí là súng đạn,
thì cuộc chiến cho tự do dân chủ trên quê hương Việt Nam
này với vũ khí chính trị, nhân quyền, kinh tế, giáo dục,
nói chung vũ khí trong cuộc chiến hiện nay là một tổng hợp
mọi sinh hoạt quốc gia.
Vậy, chiến tranh bắt đầu từ
ngày nào? Theo tôi, tôi tính từ ngày 20 tháng 7 năm 1954, là
ngày ký Hiệp Ðịnh Ðình Chiến tại Genève, vì cộng sản
đã từ đó bắt đầu thực hiện kế hoạch để lại hằng
chục ngàn cán bộ các loại của chúng ở lại nam vĩ tuyến
17 khi chúng "tập kết" (danh từ dùng trong Hiệp Ðịnh) ra bắc
vĩ tuyến 17. Như vậy, về phía cộng sản thì họ bắt đầu
ngay từ ngày ấy cho một cuộc chiến kế tiếp sau cuộc chiến
1945-1954. Và nếu tính từ đó, thì chiến tranh bảo vệ Tổ
Quốc của chúng ta đến ngày "thua trận cuối cùng trong một
giai đoạn chiến đấu" từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 đến ngày
30 tháng 4 năm 1975, là 20 năm 9 tháng 10 ngày, hay là 7.583 ngày!
Chức vụ Tổng Thống. Với
thời gian hơn 20 năm không phải là dài đối với lịch sử,
nhưng trong thời gian đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta lần lượt
do 7 vị Tổng Thống hay Quốc Trưởng lãnh đạo, là: Tổng
Thống Ngô Ðình Diệm cũng là Thủ Tướng hơn 9 năm. Quốc
Trưởng Dương Văn Minh 3 tháng. Quốc Trưởng Nguyễn Khánh
9 tháng. Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu 8 tháng. Quốc Trưởng
rồi Tổng Thống gần 10 năm. Tổng Thống. Tổng Thống Trần
Văn Hương 7 ngày. Sau cùng là Tổng Thống Dương Văn Minh không
do dân bầu, chưa được 2 ngày.
Tổng Thống Thiệu -tính cả thời
gian giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia- gần
10 năm, là người trị vì lâu nhất, và vị có nhiệm kỳ
ngắn nhất là Tổng Thống Dương Văn Minh chỉ vừa hơn 40
tiếng đồng hồ. Ông là vị Tướng can đảm nhất khi tình
nguyện nhận chức Tổng Thống, nhưng ông cũng là vị Tướng
nhục nhã nhất khi tuyên bố đầu hàng cộng sản. Nhưng không
biết người dân Việt Nam Cộng Hòa chúng ta nói chung và thị
dân Sài Gòn nói riêng, có nên cám ơn ông hay không, vì "nhờ"
ông đầu hàng mà Sài Gòn không bị tàn phá bởi hỏa tiễn
và đạn đại bác của cộng sản? Nhưng chẳng lẽ ông "tình
nguyện" giành chức Tổng Thống để đầu hàng sao? Nếu mục
đích chỉ có như vậy thì đâu cần đến vị Tướng mà lại
là Tướng 4 sao nữa chớ! Chắc không phải vậy. Nhưng điều
nhục nhã đó đã xảy ra như vậy, biết giải thích sao đây!
Chức vụ Thủ Tướng. Ðây
là cấp lãnh đạo quốc gia hàng thứ hai, đã lần lượt qua
tay 11 vị, là: Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm. Thủ Tướng Nguyễn
Ngọc Thơ. Thủ Tướng Nguyễn Khánh (kiêm nhiệm). Thủ Tướng
Trần Văn Hương (lần 1). Thủ Tướng Phan Huy Quát. Thủ Tướng
Nguyễn Cao Kỳ. Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Thủ Tướng Trần
Văn Hương (lần 2). Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Thủ Tướng
Nguyễn Bá Cẩn. Sau cùng là Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu chưa kịp
trình diện chánh phủ thì Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên
bố đầu hàng! Người "trị vì" lâu nhất là Thủ Tướng
Ngô Ðình Diệm hơn 9 năm, và vị có nhiệm kỳ ngắn nhất
là Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu.
Chức vụ Tổng Trưởng Quốc
Phòng. Với chức vụ này, lần lượt do 10 vị sau đây,
là: Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiêm nhiệm. Trung Tướng Trần
Văn Ðôn (lần 1). Trung Tướng rồi Ðại Tướng Trần Thiện
Khiêm (lần 1). Trung Tướng Nguyễn Khánh. Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu. Thiếu Tướng rồi Trung Tướng Nguyễn Hữu Có.
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ. Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm
(lần 2) kiêm nhiệm. Trung Tướng Trần Văn Ðôn (lần 2). Sau
cùng là giáo sư Bùi Tường Huân trong nội các của Thủ Tướng
Vũ Văn Mẫu chưa kịp trình diện.
Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng.
Có 9 vị lần lượt giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng hay tương
đương, là: Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh. Thiếu Tướng rồi
Trung Tướng rồi Ðại Tướng Lê Văn Tỵ. Khi lâm trọng bệnh,
Trung Tướng Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Cách
Mạng hành sử chức năng Quốc Trưởng, đã gắn cấp bậc
Thống Tướng 5 sao tại giường bệnh trước khi ông từ trần.
Trung Tướng Trần Văn Ðôn kiêm nhiệm. Trung Tướng rồi Ðại
Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm. Trung Tướng rồi Ðại
Tướng Nguyễn Khánh kiêm nhiệm. Trung Tướng Trần Văn Minh.
Thiếu Tướng rồi Trung Tướng Nguyễn Hữu Có kiêm nhiệm.
Thiếu Tướng rồi Trung Tướng rồi Ðại Tướng (4 sao) Cao
Văn Viên. Sau cùng là Trung Tướng Vĩnh Lộc.
Chức "nguyên soái" này trong tay Ðại
Tướng Cao Văn Viên là lâu nhất, đến 9 năm rưỡi, và Trung
Tướng Vĩnh Lộc là vị Tổng Tham Mưu Trưởng có thời gian
ngắn nhất, chỉ 18 tiếng đồng hồ!
Hoạt động của quân cộng sản.
Trong thời gian từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1959 (4 năm
rưởi), hoạt động của cộng sản chỉ trong phạm vi chính
trị với những cuộc biểu tình quanh quẩn các thị trấn
nhỏ, và hoạt động kinh tài vùng nông thôn (cưỡng bách dân
đóng thuế), cứ xem như là thời gian hòa bình tương đối.
Từ đầu năm 1960 đến cuối năm 1964 (5 năm), cộng sản mở
rộng sang hoạt động quân sự từ cấp Tiểu Ðội, dần lên
cấp Trung Ðội, Ðại Ðội, và lác đác có vài trận đánh
đến cấp Tiểu Ðoàn. Tất cả chỉ trong hình thái chiến
tranh du kích. Từ đầu năm 1965, vừa áp dụng du kích chiến
và vừa chuyển sang hình thái vận động chiến với cấp Trung
Ðoàn. Từ năm 1966, quân lực Việt
Nam Cộng Hòa và quân lực
Ðồng Minh, bắt đầu đánh nhau với quân chính qui cộng sản
cấp Sư Ðoàn từ lãnh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa của họ xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta theo hành lang dãy Trường Sơn. Và 2 tháng sau cùng của cuộc
chiến hơn 20 năm, cộng sản đã điều động cấp Quân Ðoàn
tấn công vào thủ đô Sài Gòn, nơi tập trung toàn bộ các
cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.
Có điều không rõ là tổ chức
của quân cộng sản có đúng theo tổ chức cấp Quân Ðoàn
hay không, hay chỉ vài Trung Ðoàn với một Sư Ðoàn cũng thuộc
loại gán ghép là họ gọi Quân Ðoàn để "hù dọa" chúng
ta chăng?
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Từ 150.000 người vào năm 1956, với trang bị các loại vũ
khí do Pháp và Mỹ sản xuất từ trước và trong thời gian
chiến tranh thế giới lần thứ 2, với tổ chức đơn vị
chỉ đến cấp Tiểu Ðoàn. Mười năm sau đó -tức năm 1966-
quân số tăng lên đến 733.252 người, không còn sử dụng
các loại vũ khí do Pháp sản xuất nữa, nhưng nhìn chung thì
trang bị cũng chưa được cải tiến bao nhiêu, vì mọi quân
dụng đều do Hoa Kỳ sản xuất từ trong đệ nhị thế chiến.
Theo đà bành trướng chiến tranh của quân cộng sản, quân
đội phải phát triển lên đến 1.100.000 quân vào giữa năm
1974, và được trang bị các loại vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất,
trong đó có một số loại vũ khí thuộc thế hệ mới, thậm
chí còn trong thời kỳ trắc nghiệm nữa.
Về tổ chức. Các đơn vị
từ cấp Tiểu Ðoàn được phát triển lên cấp Trung Ðoàn,
Sư Ðoàn, Quân Ðoàn, với đầy đủ các quân chủng tác chiến,
các binh chủng tác chiến lẫn yểm trợ tác chiến, và các
binh sở chuyên môn yểm trợ hành chánh tài chánh, hành chánh
nhân viên, hành chánh tiếp vận.
Về quản trị con người.
Từ làm bằng tay xem từng hồ sơ phiếu, từng bước tiến
lên quản trị bằng máy điện toán IBM 360/20 rồi 360/40, do
Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên trực thuộc Phòng Tổng Quản
Trị/Bộ Tổng Tham Mưu trách nhiệm .
Về quản trị quân dụng.
Cũng từ công tác làm bằng tay đã tiến lên sử dụng máy
điện toán IBM 360/40 và sau cùng là máy IBM 360/50, do Trung Tâm
Ðiện Toán Tiếp Vận trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận trách
nhiệm. Vkhu vực Ðông Nam Á, mà hội nghị Tiếp Vận các quốc
gia vùng tây Thái Bình Dương tại Okinawa vào tháng 10 năm 1971
đã đánh giá như vậy.
Về huấn luyện. Một hệ
thống quân trường gồm các Trung Tâm Huấn Luyện, các Trường
Chuyên Môn, các Trường Võ Bị, Trường Chỉ Huy Tham Mưu, Trường
Hải Quân, Trường Không Quân, và cao hơn hết là Trường Cao
Ðẳng Quốc Phòng, có nhiệm vụ huấn luyện căn bản, và
từng bước nâng cao trình độ huấn luyện từ người quân
nhân có cấp bậc thấp nhất đến sĩ quan các cấp và Tướng
Lãnh. Nhiều vị Tướng và cấp Ðại Tá đã theo học các
lớp Quản Trị Quốc Phòng tại Mỹ. Nhiều sĩ quan tham mưu
và sĩ quan các binh chủng binh sở, được đào tạo các trường
tại Pháp và các quốc gia thuộc địa của Pháp từ trước
năm 1954, về sau du học Hoa Kỳ. Ðặc biệt là Trường Võ
Bị Quốc Gia Ðà Lạt với chương trình 4 năm, đào tạo đội
ngũ sĩ quan có khả năng lãnh đạo các ngành sinh hoạt quốc
gia trong tương lai, sau thời gian gạn lọc qua kinh nghiệm chiến
trường, kinh nghiệm tham mưu, và nhất là kinh nghiệm lãnh
đạo chỉ huy quân đội ở các cấp đơn vị.
Tuy chưa phải là hoàn hảo, nhưng
tất cả những khả năng đó gộp lại, đã tạo cho quân đội
một sức mạnh dũng mãnh về vật chất lẫn tinh thần, mà
chính quân cộng sản -qua các tài liệu tịch thu được- phải
thừa nhận là họ dễ dàng chấp nhận đánh nhau với quân
đội Hoa Kỳ hơn là đương đầu với quân lực Việt Nam Cộng
Hòa, dù rằng hỏa lực của Hoa Kỳ là cực kỳ mạnh.
Về phí tổn chiến tranh. Ngân
sách quốc phòng tiêu tốn xấp xỉ con số 3.000 tỉ bạc Việt
Nam, và phần Hoa Kỳ viện trợ quân sự tính thành tiền cũng
khoảng 8 tỉ mỹ kim. Cũng nên nói thêm rằng, trong ngân sách
quốc phòng Việt Nam, phần viện trợ của Hoa Kỳ chiếm 25%
và được gọi là "viện trợ chung đậu". Phần viện trợ
này phân phối rải rác trong các chương của ngân sách, nghĩa
là nó hòa trong các chi tiêu chớ không phải viện trợ chỉ
để trả lương (vì không ít người lầm tưởng như vậy).
Riêng phần quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật
Tân, Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), con số chi tiêu lên đến
104 tỉ mỹ kim (theo tài liệu của Văn Phòng Tùy Viên Quốc
Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1973, nhưng họ
nói là chưa chính xác).
Một quân đội phát triển theo nhu
cầu chiến trường. Với một hệ thống tổ chức chặt chẽ
từ hạ tầng đến thượng tầng, và luôn có những biến
cải thích nghi với tình thế, dù chưa phải là hoàn thiện.
Với tài liệu và phương pháp huấn luyện dựa theo Hoa Kỳ
nặng về kỹ thuật, theo kinh nghiệm chiến tranh du kích do
Viện Nghiên Cứu Quân Sự Ðông Dương của quân đội Pháp
đúc kết, và tài liệu do Tổng Cục Quân Huấn/Bộ Tổng Tham
Mưu cùng các quân trường sáng tạo qua kinh nghiệm thực tiễn
chiến trường. Với nỗ lực áp dụng khoa học kỹ thuật
và sử dụng phương tiện tân tiến vào công tác quản trị
con người, quản trị quân dụng một cách nhanh chóng và chính
xác. Với một phí tổn gồm của Việt Nam Cộng Hòa lẫn của
Hoa Kỳ là hết sức lớn lao, và nhất là với một tinh thần
phục vụ quân đội, một tinh thần chiến đấu dũng cảm
của "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", cùng với tinh thần
chống cộng quyết liệt của các viên chức hành chánh, cán
bộ, và nhân dân. Ấy vậy mà Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thua
trận sau hơn 20 năm chống giữ!
Trách nhiệm mất nước do đâu?
Do tập thể quân đội, do cấp lãnh đạo quốc gia, cấp lãnh
đạo quân đội, hay là do tất cả gộp lại? Và liệu Hoa
Kỳ có phần trách nhiệm trong này không?
Tôi nghĩ, rất có thể là quí vị
quí bạn đồng
ý với tôi rằng, chúng ta chiến đấu chống
cộng sản là chiến đấu cho dân tộc Việt Nam chúng ta, chiến
đấu để bảo vệ tổ quốc Việt Nam chúng ta, chớ không
phải chúng ta chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho bất cứ quốc
gia nào khác. Vì vậy mà tôi không nghĩ đến trách nhiệm của
Hoa Kỳ trong sự thua trận của chúng ta. Khi khẳng định điều
đó tôi vẫn hiểu rằng, quân đội Hoa Kỳ thiết lập căn
cứ quân sự trên đất nước chúng ta và tham chiến bên cạnh
chúng ta, là để chứng tỏ rằng họ chiến đấu ngăn chận
sự bành trướng ý thức hệ cộng sản, đó là thế giới
đối nghịch với thế giới tự do mà Hoa Kỳ là nước lãnh
đạo, chớ không thuần nhất là họ chiến đấu cho riêng
quốc gia chúng ta đâu. Xin nhớ rằng, trong bang giao quốc tế
không có vấn đề tình cảm, mà tất cả vì quyền lợi của
quốc gia, ngoại trừ các quốc gia cộng sản chỉ phục vụ
cho quyền lợi của đảng họ.
Tôi vẫn hiểu rằng, thực trạng
của Việt Nam chúng ta từ năm 1954, nếu không có viện trợ
của Hoa Kỳ thì cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của
chúng ta chắc chắn là vô vàn khó khăn. Nhưng đã nói đi thì
cũng nên nghĩ lại, đó là ở vào bối cảnh quốc tế lúc
bấy giờ, một bối cảnh chia ra 2 khối trong một thế giới:
một bên là dân chủ tự do do Hoa Kỳ lãnh đạo, và một bên
là cộng sản độc tài do Nga Sô lãnh đạo. Cả hai cường
quốc này đều sử dụng các quốc gia nhỏ chịu ảnh hưởng
của họ vào mục tiêu chiến lược trải rộng tầm ảnh hưởng
của họ bao trùm thế giới, hay ít ra cũng là phần lớn thế
giới. Với bối cảnh như vậy, sự kiện quân lực Hoa Kỳ
chiến đấu chống cộng sản trên đất nước Ðại Hàn, trên
eo biển Ðài Loan, trên đất nước Việt Nam chúng ta, cũng
là sự kiện mà Hoa Kỳ phải làm, vì tất cả đều nằm trong
mục tiêu chiến lược của họ. Vì thế, tôi vừa cảm ơ
vừa rút lại lời cảm ơn đó chỉ riêng với các vị lãnh
đạo Hoa Kỳ, vì các vị lãnh đạo hiệp chủng quốc Hoa Kỳ
đã khống chế quá mức các vị lãnh đạo của chúng ta.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ngay
trước khi tuyên bố từ chức Tổng Thống vào đêm 21 tháng
4 năm 1975, đã "cáo buộc" Hoa Kỳ phản bội đồng minh Việt
Nam, bỏ rơi Việt Nam, ... và ông hy vọng là sự từ chức
của ông, Việt Nam Cộng Hòa sẽ được Hoa Kỳ tái viện trợ
quân sự ... Qua hệ thống truyền thông công cộng trong nước
cũng như trên thế giới trong những tháng đầu năm 1975, và
đặc biệt là trong 2 tháng cuối cùng của cuộc chiến, họ
cung cấp cho khán thính giả trên toàn thế giới -trong đó
có chúng ta- hiểu rằng, Hoa Kỳ đang lật trang cuối cùng về
sự can dự của họ vào cuộc chiến tranh giữa tự do với
độc tài trên lãnh thổ Việt Nam, trong ý nghĩa bại trận
về phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Thế mà Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu lại "hy vọng" Mỹ sẽ vẫn tiếp tục viện trợ
quân sự sau khi ông từ chức! Chắc chắn là Tổng Thống Thiệu
thừa hiểu điều đó hơn ai hết, vì ông là Tổng Thống cho
dù Tổng Thống cũng chỉ là một con người, nhưng nhất thiết
con người Tổng Thống phải hơn hẳn những người khác chớ,
nếu không như vậy thì hóa ra là "đồng hạng" sao!
Vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
đã vì lý do gì đó như bị một áp lực từ hậu trường
chính trị chẳng hạn, nên ông đưa ra lời cáo buộc để
sang tay cho vị kế nhiệm khi thấy con đường chiến đấu
phía trước đầy chông gai nguy hiểm, rồi ung dung bỏ chạy
và lại là chạy sớm ra ngoại quốc nữa chớ! Chẳng lẽ
Tổng Thống Thiệu nói là bị Mỹ áp lực mà ông phải từ
chức thì nghe không ổn, vì ông là Tổng Thống, là vị lãnh
đạo quyền lực và quyền uy nhất nước! Nhưng nếu thật
sự ông nghĩ hay ông tuyên bố như vậy, thì liệu trong 10 năm
trên ngôi vị lãnh đạo quốc gia, có phải thật sự ông người
lãnh đạo đất nước Việt Nam hay Hoa Kỳ là người lãnh
đạo? Hay là ông chạy trốn trách nhiệm? Vì 10 năm trị vì
với đầy đủ quyền lực và quyền uy của một Tổng Thống,
ông đã bao lần ra lệnh cho đơn vị này, chỉ thị đơn vị
kia, cổ vũ tại các quân trường, hô hào tại các diễn đàn
quan trọng, đều trong nỗ lực khuyến khích thúc đẩy mọi
người -nhất là quân nhân- hãy hi sinh thân mình bảo vệ tổ
quốc. Vậy mà, khi tổ quốc thật sự lâm nguy thì ông quên
hết các mệnh lệnh của ông, của vị Tổng Tư Lệnh Tối
Cao Quân Ðội mà ông đã từng dõng dạc tuyên bố, để rồi
ông lặng lẽ để lại đằng sau tất cả những gì không
phải của ông và gia đình ông!
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng
từng tuyên bố rằng: "Ðất nước còn thì còn tất cả, đất
nước mất thì mất tất cả". Lời của Tổng Thống rất
đúng, và đúng với tất cả công dân Việt Nam Cộng Hòa,
ngoại trừ ông và những vị lãnh đạo đã bỏ chạy là không
đúng.
Vì các vị có mất gì đâu dù rằng
đất nước mất! Nhà ở của quí vị là các dinh thự thuộc
tài sản quốc gia, xe đi của quí vị hằng ngày cũng là tài
sản quốc gia, cơ sở kinh doanh của quí vị cầm chắc là
không do đồng lương thật sự của quí vị tạo nên, vườn
tược đất đai đồn điền cũng thế, gia đình và thân nhân
cùng chạy theo quí vị, thậm chí có thân nhân của ít nhất
là một trong số quí vị chạy ra ngoại quốc bằng Hàng Không
Việt Nam do ngân sách quốc gia đài thọ nữa chớ! Còn chúng
tôi, "Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", nhà cửa bị
cộng sản cướp, xe cộ bị cộng sản đoạt, nhiều chục
ngàn người trong số chúng tôi trong tình trạng vợ con bị
cộng sản lùa vào những nơi mà chúng gọi là "khu kinh tế
mới", hoặc đi lấy chồng vì không nơi nương tựa! Bản thân
chúng tôi, đã có nhiều ngàn đồng bào đồng đội, đã bỏ
xác trong các vùng đất trong Nam, trong các vùng rừng núi hoang
vu từ miền Trung, miền Bắc, trong hơn 200 trại tù trên khắp
miền đất nước! Nghĩa là mất tất cả đúng như Tổng Thống
đã tiên liệu một cách chính xác!
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong
phiên lưỡng viện Quốc Hội ngay trong cuộc tổng công kích
của quân cộng sản vào dịp Tết Mậu Thân đầu năm 1968,
đã tuyên bố: "Ðồng bào đừng nghe những gì cộng sản nói,
mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm". Lời của Tổng
Thống hoàn toàn đúng. Vì một trong những bản chất của
cộng sản là dối trá, họ chỉ có tuyên truyền chớ không
có thông tin, thành ra những gì cộng sản nói đều là tuyên
truyền cả, mà đã là tuyên truyền thì có gì là thật đâu.Nhưng
tối 21 tháng 4 năm 1975, ngay sau khi tuyên bố từ chức Tổng
Thống, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có nói với đồng bào
với quân đội rằng: quân đội sẽ có thêm một chiến sĩ
. . . được hiểu là Trung Tướng sẽ trở về hàng ngũ quân
đội chiến đấu. Nhưng mấy ngày sau đó, Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu đã bỏ chạy! Vậy, riêng trường hợp này thôi,
liệu đồng bào và quân đội có nên nhìn kỹ hành động
của Trung Tướng hơn là nghe Trung Tướng nói không?
Ðến vị lãnh đạo quốc gia hàng
thứ hai là Ðại Tướng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Vị
Thủ Tướng 5 năm rưỡi, đó là thời gian chỉ đứng sau thời
gian của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiêm nhiệm. Cả hai thời
gian này cộng lại là 15 năm, và hơn 5 năm còn lại lần lượt
chuyền tay nhau giữa 9 vị. Nếu chia đều thì mỗi vị chỉ
có mấy tháng cầm quyền chơi! Tôi nói "cầm quyền chơi" là
vì chỉ có mấy tháng thì mỗi vị Thủ Tướng chỉ kịp duyệt
qua công tác của các Bộ trong chánh phủ là hết thời gian
rồi, đâu còn thì giờ để soạn thảo những kế hoạch,
những dự án, những mục tiêu quốc gia, nói chung là sách
lược quốc gia để phục vụ dân tộc.
Ðầu năm 1970, bà Trần Thiện Khiêm,
trong cuộc đàm thoại hơn nửa tiếng đồng hồ, bà thuật
cho tôi nghe câu chuyện thật ngắn với nội dung như sau:
".. Trên chuyến bay Sài Gòn-Ðà Lạt
mà trên phi cơ chỉ có gia đình Tổng Thống Thiệu và gia đình
Ðại Tướng Khiêm. Tổng Thống Thiệu mời Ðại Tướng Khiêm
giữ chức Thủ Tướng, bà Khiêm hơi to tiếng khi hỏi lại
Tổng Thống Thiệu rằng: Tổng Thống biết anh Khiêm không
thích làm chính trị mà còn kêu làm Thủ Tướng, có phải
là Tổng Thống muốn anh Khiêm ngồi đó để Tổng Thống làm
gì thì làm không? Tổng Thống Thiệu gạt ngang: Chuyện của
đàn ông, bà biết gì mà nói".
Riêng về chuyện kể ngắn ngủi
này chỉ có thế, nhưng tôi muốn lặp lại ở đây để có
thêm một chứng minh về con người của Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm như tôi đã nhận định hồi năm 1964 trước khi
ông cùng gia đình lưu vong. Theo lời bà Khiêm trên đây thì
Ðại Tướng Khiêm vẫn là con người không thích dấn thân
vào chính trị, mà Thủ Tướng là chức vụ chính trị cấp
quốc gia. Ðiều này lại nhắc tôi liên tưởng đến vụ đảo
chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 do Thiếu Tướng Lâm Văn Phát
lãnh đạo, và Trung Tá Lê Hoàng Thao chỉ huy một Trung Ðoàn
của Sư Ðoàn 25 Bộ Binh vào chiếm Bộ Tổng Tham Mưu, ông
nói với tôi là có Trung Tá Phạm Ngọc Thảo (cộng sản hồi
chánh, nhưng không rõ là hồi chánh giả hay hồi chánh thiệt)
từ tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ -lúc đó
đại sứ là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm- về tham gia, nếu
thành công thì Ðại Tướng Khiêm trở về cầm quyền. Tôi
rất nghi ngờ lời nói của Trung Tá Lê Hoàng Thao. Cũng có
thể là tôi chủ quan chăng, nhưng tôi vẫn giữ nguyên cách
nhìn của tôi như vậy.
Ðến đây tôi xin mở ngoặc để
thuật lại câu chuyện liên quan mà tôi đã trao đổi với
cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm
tối 21 tháng 10 năm 2003. Sau khi ông hỏi tôi những chi tiết
trong cuộc đảo chánh này, tôi liền hỏi lại ông: (trong câu
chuyện, cựu Ðại Tướng Khiêm xưng là anh Tư và ông gọi
tôi là chú, tôi thì xưng em)
"Thưa anh Tư, em xin hỏi anh Tư trong
vụ Thiếu Tướng Phát đảo chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965,
theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao nói với em là có Trung Tá Phạm
Ngọc Thảo từ tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ
về tham gia, dự trù khi thành công thì anh Tư về cầm quyền.
Ðiều đó có đúng không anh Tư?
"Trời ơi! Bây giờ chú hỏi Anh
mới biết là tại sao lúc đó mấy anh nhà báo Mỹ nhất là
tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh. "Họ hỏi Anh biết gì
về cuộc đảo chánh đó?" Anh trả lời là Anh không biết
gì hết, và đang chờ tin tức từ Việt Nam. Còn cái vụ ông
Thảo về Việt Nam là do ông Khánh (Trung Tướng Nguyễn Khánh)
gởi công điện gọi ông Thảo về gấp đó. Anh có nghe nói
là khi ông Thảo về tới phi trường Tân Sơn Nhất, được
người nào đó cho biết là ông Khánh đã phái người chận
bắt ông Thảo đem đi giết, nên người đó giúp ông Thảo
chạy trốn luôn. Về sau, bị nhóm nào đó bắt được và
giết chết".
"Vậy thì anh Lê Hoàng Thao đã không
đúng".
Xin đóng ngoặc.
Với nét nhìn của tôi, Ðại Tướng
Trần Thiện Khiêm không phải là con người chính trị, cũng
không thích dấn thân vào chính trị, nhưng lại giữ chức
vụ chính trị mà là chức vụ trên nguyên tắc chỉ dưới
quyền Tổng Thống thôi, cho nên hơn 5 năm trong ngôi vị Thủ
Tướng, ông không có gì xuất sắc về mặt lãnh đạo với
chức vụ khá nhiều quyền lực trong tay, dù rằng về phong
cách và cá tính thì ông vẫn là người chinh phục được
cảm tình của nhiều giới trong xã hội. Nhưng chẳng lẽ con
người chính trị trong chức Thủ Tướng chỉ cần trang bị
ngần đó thôi sao! Và rồi ông cũng đi ngoại quốc cùng chuyến
phi cơ với Trung Tướng Thiệu, cũng là chuyện bình thường,
vì ông đã bàn giao chức Thủ Tướng 3 tuần trước đó.
Ðại Tướng Cao Văn Viên là vị
Tướng tuy đứng hàng thứ tư sau vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao
là Tổng Thống, Thủ Tướng, và Tổng Trưởng Quốc Phòng,
nhưng theo hệ thống tổ chức, thì chức vụ Tổng Tham Mưu
Trưởng thật sự quan trọng bậc nhất đối với quân đội
về tổ chức đơn vị, trang bị vật chất, trang bị tinh thần,
huấn luyện và tái huấn luyện, quân phong quân kỷ, chăm sóc
sức khỏe, chăm sóc đời sống, và quan trọng về mặt chiến
lược chiến thuật để hướng dẫn quân đội biết cách
đánh và biết cách thắng địch.
Bộ Quốc Phòng nghe rất to nhưng
trong tổ chức thì Bộ không có khả năng đảm trách chiến
lược mà nặng về điều hành, còn những gì thuộc về chiến
lược thì Bộ Quốc Phòng gần như chỉ là "hộp thơ" giữa
vị Tổng Tham Mưu Trưởng với Thủ Tướng và Tổng Thống.
Trách nhiệm chính của Bộ Quốc Phòng hầu như chỉ tập trung
vào hoạt động của Tổng Nha Tài Chánh Và Thanh Tra Quân Phí,
với vài trách nhiệm khác về Quân Sản, Quân Pháp, và Nhân
Lực.
Vì vậy mà Ðại Tướng Cao Văn
Viên, trong thực tế là vị lãnh đạo bậc nhất của quân
đội hơn một triệu người. Quyền hành rộng lớn bao nhiêu
thì trách nhiệm phải nặng nề bấy nhiêu, Trách nhiệm và
quyền hạn trong bất cứ chức vụ nào cũng phải cân bằng
như vậy. Trong 7 năm đầu, những ai khó tánh đến đâu cũng
phải công nhận là ông rất nhiệt tình với quân đội về
các mặt, nhưng cho dù dễ tính đến mấy cũng nhận thấy
ít nhất là 2 năm sau cùng (1973-1975), Ðại Tướng Viên đã
không làm hết trách nhiệm của vị Tổng Tham Mưu Trưởng.
Trên phương diện cá nhân, vì Tổng Thống Thiệu không chấp
nhận cho ông từ chức nên ông chỉ quanh quẩn nơi bàn giấy
với ngày hai buổi đi làm bằng trực thăng từ nhà do ông
tự lái (đường Ngô Quyền, Quận 5) đến Bộ Tổng Tham Mưu
(cạnh phi trường Tân Sơn Nhất), tựa như viên chức già trong
ngành hành chánh "sáng lái phi cơ đi chiều lái về" vậy. Hành
động đó của ông, cứ cho là đúng cũng được. Nhưng khổ
nỗi, ông vẫn là vị Ðại Tướng 4 ngôi sao mỗi bên cổ
áo và là vị Tổng Tham Mưu Trưởng trong giai đoạn chiến
tranh ác liệt, để rồi lúc quân đội cần ông nhất thì
ông lên phi cơ -và cũng như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm- ông bỏ lại đằng sau
tất cả để ra đi!
Thưa quí vị quí bạn,
Khi Ðại Tướng Cao Văn Viên rời
Việt Nam, trên bàn giấy của Ông tại Bộ Tổng Tham Mưu có
văn kiện do Tổng Thống Trần Văn Hương ký cho Ông giải ngũ.
Ðiều này được hiểu là Ðại Tướng Viên rời khỏi Việt
Nam với tư cách một cựu Tướng Lãnh chớ không phải một
Tướng Lãnh đương nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 18 tháng 5 năm 2005, tôi có
dịp dùng cơm với cựu Trung Tá (?) Trịnh Bá Lộc, sĩ quan
tùy viên của Ðại Tướng Dương Văn Minh đến giờ phút đầu
hàng, anh Lộc thuật cho tôi và các bạn tại bàn ăn cùng nghe.
"Ðơn xin giải ngũ của Ðại Tướng Cao Văn Viên viết bằng
tay, không hiểu vì sao mà đơn đó được chuyển từ văn phòng
Tổng Thống Trần Văn Hương sang văn phòng Ðại Tướng Dương
Văn Minh để hỏi ý kiến. Và bút phê của Ðại Tướng Minh:
Thuận".
Vào đầu tháng 3 năm 2006, ông Lâm
Lễ Trinh -Bộ Trưởng Nội Vụ thời Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm- phổ biến trên NET bài mạn đàm có thu thanh với cựu
Ðại Tướng Cao Văn Viên từ hạ tuần tháng 12 năm 2004. Trong
đó có đoạn liên quan đến trường hợp ông rời khỏi Việt
Nam mà ông cho là tôi viết không đúng. Năm 2004, cựu Ðại
Tướng Viên có tặng tôi quyển sách để tôi theo đó mà sửa
lại, nhưng tôi không làm theo ý của Ông vì tôi không đồng
ý cách biện minh của ông. Ðây là một đoạn trích trong bài
viết (kể cả chữ viết) của ông Lâm Lễ Trinh, liên quan
đến cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên và tôi:
Ông LLT."Nơi trang 428-429 của hồi
ký "Việt Nam Nhân Chứng" (nxb Xuân Thu,1989), tướng Trần Văn
Ðôn viết: "Có lần ông Thiệu than phiền ông Cao Văn Viên
không làm việc nhiều .. .Ông Thiệu nhờ tôi nói với Ðại
tướng Viên, Tổng Tham Mưu trưởng, về việc ông này cứ
ở mãi Tổng Tham mưu làm việc, không chịu đi ra ngoài, ông
Viên trả lời: Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu
không chấp nhận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!"
"Mặt khác, trong quyển hồi ký
"Ðôi dòng ghi nhớ " nêu trên, cựu đại tá Phạm Bá Hoa cũng
có nhận xét rằng trong gần 9 năm rưỡi giữ chức Tổng Tham
Mưu trưởng - chức vụ quan trọng bậc nhất trong Quân đội
- anh đã nhiệt tình hoạt động 7 năm đầu nhưng hai năm sau
cùng, vị "Nguyên soái" của Quân đội Miền Nam không cáng
đáng hết trách nhiệm, đến văn phòng cho có lệ, tập luyện
yoga và đi học lấy bằng cử nhân văn khoa ngoài giờ làm
việc. Mong anh đại tướng vui lòng, nếu tiện, giải thích
thái độ.
Ông CVV. " Tôi sẵn sàng
trả lời. Trước khi cuộc đàm phán tại Paris tiến đến
giai đoạn kết thúc năm 1973, tình hình quân sự thêm căng
thẳng. Tổng thống Thiệu, với tư cách Tổng tư lệnh Quân
đội, tập trung hết quyền bính trong tay, cho đặt một hệ
thống máy truyền tin tại Dinh Ðộc lập để liên lạc thẳng
với các quân khu, điều động các đơn vị, bổ nhiệm tư
lệnh vùng và ra lệnh trực tiếp hành quân. Bộ Tổng Tham
Mưu lần hồi bị dồn vào vai trò tuân hành và thị chứng.
Bộ Quốc phòng chỉ còn là hộp thơ giữa Tổng thống và
Bộ Tổng tham mưu. Vì không có điều kiện làm việc được
như trước, tôi đã năm, sáu lần vô đơn xin từ chức. Ông
Thiệu yêu cầu tôi nán lại, đợi người thay thế nhưng ông
không quyết định. Tôi không có quyền bỏ ra đi một cách
vô trách nhiệm.
Tuy nhiên khi Tổng thống Trần
Văn Hương nhường ghế cho tướng Dương Văn Minh tháng 4.1975,
tôi cương quyết xin giải ngũ vì tôi không phục ông Minh từ
lâu, tôi từng là nạn nhân của ông Minh. TT Hương chấp nhận
đơn của tôi. Ngày 27.4.1975, tôi rời Sài Gòn trong tình trạng
cựu Tướng Lãnh.
LLT: Việc Tổng thống Thiệu tóm
hết quyền bính trong tay, qua mặt Quốc hội và Tối cao Pháp
viện, một mình quyết định bỏ Cao Nguyên và Miền Trung là
điều có lợi hay hại? Trong quyển hồi ký "Ðôi dòng ghi nhớ
" (1994, trang 191-215), cựu Chánh văn phòng của anh là đại
tá Phạm Bá Hoa có kể lại cuộc rút quân bi thảm của tướng
Phạm Văn Phú theo đường số 7 và nhắc lại hai khẩu lệnh
của anh bằng điện thoại cho đương sự ngàỵ 15 và 18.3.1975
bảo gởi phi cơ vận tải C130 cho Quân đoàn 2 và chở các
quân dụng đắt tiền khỏi Pleiku "mà không cho biết lý do".
Ông Hoa than phiền Tổng Cục Tiếp vận, thuộc bộ Tổng Tham
mưu, không hề được thông báo về tình hình suy sụp ở Cao
Nguyên. Anh nghĩ sao về lời than phiền này?
CVV: Tất nhiên không có lợi.
Một cá nhân không thể quyết định đơn phương vận mạng
của Ðất nước. Ông Phạm Bá Hoa trình bày không đúng về
một số sự kiện trong quyển hồi ký mà tôi đã nhận được.
Tôi có gởi cho y một bổn The Final Collapse được bổ túc
để làm sáng tỏ vấn đề nhưng không thấy y nói gì. Phạm
vi cuộc mạn đàm hôm nay không cho phép đi sâu vào chi tiết.
Xin để dịp khác.
Hết phần trích dẫn.
Cựu Ðại Tướng Viên trả lời
không đúng câu hỏi của ông Lâm Lễ Trinh riêng về phần
tôi.
Thưa quí vị quí bạn, khi đứng
trước cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên, về tình cảm riêng
tư, tôi giữ đúng vị trí một "sĩ quan đàn em" như trong thời
gian Ðại Tướng cử tôi giữ chức chánh văn phòng, nhưng
về trách nhiệm trong quân đội thì tôi nhìn vị Tổng Tham
Mưu Trưởng của tôi theo cách khác. Thật sự thì năm 2003,
cựu Ðại Tướng Viên có nói với người bạn thân của tôi
như là cách ông nhắn gởi đến tôi, theo đó Ông muốn tôi
viết lại nội dung "Ông rời khỏi Việt Nam với tư cách một
cựu Tướng Lãnh" chớ không như tôi đã viết là "Ông bỏ
lại đằng sau tất cả để ra đi". Tôi không đồng ý, vì
nhìn sâu vào sự kiện tôi thấy đó không phải là nguyên
nhân của sự thật.
Ðại Tướng Viên nhận chức Tổng
Tham Mưu Trưởng ngày 15 tháng 10 năm 1965, đến ngày 27 tháng
4 năm 1975 Ông rời khỏi Việt Nam. Trong hai năm sau cùng của
hơn 9 năm rưỡi trong chức vụ đứng đầu quân đội, Ðại
Tướng tự lái trực thăng đi làm. Tôi muốn nhấn mạnh điểm
này để thấy quyền lực của vị Tổng Tham Mưu Trưởng.
Nhưng khi đất nước thật sự lâm nguy thì Ông xin giải ngũ,
với lý do đơn giản là Ông không phục Ðại Tướng Dương
Văn Minh sắp sửa nhận chức Tổng Thống. Giữa trách nhiệm
lãnh đạo quân đội đang chiến đấu chống quân cộng sản
ngay trong sân nhà, với lý do không phục vị Tổng Thống tương
lai. Một bên là quốc gia đại sự, một bên là chuyện cá
nhân, xin hỏi "bên nào là cốt lõi của lựa chọn?"
Mà nghĩ cho cùng, giả như Ðại
Tướng Minh có nói bóng gió xa xôi là ông sẽ ám hại Ðại
Tướng Viên đi nữa, tôi nghĩ, Ðại Tướng Viên cũng không
thể vì đó mà xin giải ngũ, bởi Ông đang là Ðại Tướng
Tổng Tham Mưu Trưởng của một quân đội hơn một triệu
quân, mà lúc ấy quân cộng sản đang sát nách thủ đô Sài
Gòn. Cái lý do đơn giản mà cựu Ðại Tướng Viên trả lời
ông Lâm Lễ Trinh trong đơn xin giải ngũ, thật sự không có
khả năng thuyết phục được độc giả nói chung, và Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa nói riêng...
Tôi lại nhớ đến ngày 30 tháng
4 năm 1999, trong cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Little
Saigon (Nam California) do xướng ngôn viên Việt Dũng phụ trách
hôm ấy, khi hỏi cảm nghĩ về ngày 30 tháng 4 thì cựu Ðại
Tướng Viên trả lời, tôi không nhớ nguyên văn nhưng ý như
thế này:
"Khi dự đại hội cựu quân nhân
tại Dallas, Ðại Tướng Viên có nói với cử tọa rằng, quốc
gia hưng vong thất phu hữu trách. Mất nước là trách nhiệm
chung của mọi người mà Ông là một trong số đó, sao lại
đổ trách nhiệm cho Ông?"
Nghe xong tôi quá đỗi ngạc nhiên.
Ngạc nhiên, vì đâu có người dân nào có quyền hạn như
Ðại Tướng, cũng không có vị Tướng nào đương nhiệm trong
quân đội mà có quyền hạn như Ðại Tướng cả, ..v..v..
nhưng trách nhiệm sao lại chia đều như vậy! Quí vị quí
bạn nghĩ sao?
Thật là đau lòng, đến nay đã
32 năm lưu vong, chưa một vị lãnh đạo đầy quyền lực nào
của chúng ta thuở ấy, dám nhận trách nhiệm với lịch sử
cả. Trái lại, vẫn cho rằng "mất nước là tại Mỹ bỏ
rơi!" Tất nhiên là trong hoàn cảnh sống trên đất người,
không ai có thẩm quyền gắn trách nhiệm sụp đổ ngày 30
tháng 4 năm 1975 cho vị này hay vị khác, vì trên vị quyền
lực này có vị quyền lực khác, và cứ như thế. Nhưng chia
đều trách nhiệm một cách bình quân như cựu Ðại Tướng
Cao Văn Viên, tôi e không hợp lẽ công bằng, bởi vì trách
nhiệm phải cân bằng với quyền lực trong mọi chức vụ.
Chữ "trách nhiệm" mà tôi dùng ở đây, là cột chặt trách
nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Dân Tộc trong lãnh vực quân sự
mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa tròn.
Trong lịch sử, cũng có những tiền
nhân bị mất nước, nhưng cái nhục của thế hệ chúng ta
là mất nước không phải vì đánh nhau thua trận, mà vì lý
do nào đó, hay vì trách nhiệm của giới chức nào, tập thể
nào, hay là tất cả gộp lại, chúng ta phải chờ lịch sử
soi sáng qua từng góc cạnh của những vị lãnh đạo, từng
góc cạnh của bối cảnh quốc gia quốc tế liên quan. Nhưng
nếu chúng ta nói rằng, "chế độ tự do của Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta sụp đổ là trách nhiệm của Hoa Kỳ hay của
ai đó", thì liệu chúng ta có liêm sỉ khi đứng trước quốc
kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió hay khi
đứng trước bàn thờ tổ quốc dù chưa phải là trên quê
hương Việt Nam không? Bởi vì, đất nước là đất nước
Việt Nam, dân tộc là dân tộc Việt Nam, các vị lãnh đạo
quốc gia và lãnh đạo quân đội đều là Việt Nam, tất cả
quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đều là Việt
Nam, lúc hi sinh vì Tổ Quốc được nằm trong quan tài Việt
Nam, được nghe lời nguyện bằng tiếng Việt Nam, và ngàn
đời yên nghỉ trong lòng đất Việt Nam, thì đối với lịch
sử, chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm đã để đất
nước vào tay cộng sản độc tài! Chữ "trách nhiệm"mà tôi
dùng ở đây, là trách nhiệm của tất cả những vị thuộc
hàng lãnh đạo bất kỳ lãnh vực nào trong guồng máy xã hội,
đặc biệt là lãnh vực chính trị và quân sự.
Trong bang giao quốc tế, không có
vấn đề tình cảm mà chỉ có quyền lợi quốc gia. Hoa Kỳ
giúp chúng ta là do quyền lợi của Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ rút
khỏi Việt Nam cũng do quyền lợi của
họ, vấn đề là "khả
năng và bản lãnh" của những vị lãnh đạo trong mọi hoàn
cảnh đất nước, sẽ tạo thế đứng cho những vị đó trong
lịch sử: hoặc được người đời vinh danh hay bị người
đời nguyền rủa lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân
gian!
Thế hệ chúng ta, đã thừa hưởng
một giang sơn gấm vóc, một truyền thống hào hùng của những
bậc tiền nhân lừng danh thế giới trong hành trình mở nước
và giữ nước, một nền văn hóa dân tộc trải dài nhiều
ngàn năm trong lịch sử, trong đó con người được trân trọng.
Ðến lượt chúng ta, chúng ta chiến đấu giữ nước và phát
triển đất nước, nhưng đã để đất nước vào tay chế
độ cộng sản độc tài, một chế độ tàn bạo nhất trong
lịch sử nhân loại! Tuy nhóm lãnh đạo cộng sản cũng là
người cùng chủng tộc, nhưng họ rập khuôn theo cộng sản
quốc tế mà cai trị dân tộc với những chính sách độc
tài nghiệt ngã! Và thật sự là họ đã tàn bạo hơn quân
xâm lược Trung Hoa phong kiến, và nghiệt ngã hơn thời bị
thực dân Pháp cai trị nữa!
Theo quí vị, thế hệ chúng ta vừa
để lại những gì cho thế hệ tiếp nối chúng ta, và những
thế hệ sau nữa? Phải chăng là "kinh nghiệm từ một chế
độ tự do sụp đổ", một kinh nghiệm luôn giằng xé chúng
ta trong quãng đời còn lại?!
Từ góc độ đạo lý mà soi rọi
vào thảm cảnh chúng ta, phải chăng là chúng ta bị trừng
phạt "từ đâu đó", vì chúng ta không thực hiện tròn vẹn
lời thề trước bàn thờ Tổ Quốc trong những buổi lễ tốt
nghiệp tại các trường quân sự! Bởi thế mà nhiều chục
ngàn bạn đồng đội khi đặt chân lên đất nước Hiệp
Chủng Quốc Hoa Kỳ đã bị cái "sốc" khi bước vào một xã
hội rất thực tế, thực tế đến độ tàn nhẫn của cuộc
sống với biết bao gian truân của người lưu vong! Trong khi
hơn hai trăm ngàn đồng đội chúng tôi, gồm: quân nhân, viên
chức, cán bộ, các vị dân cử, các nhà kinh doanh sản xuất,
các vị hoạt động chính trị, bị cộng sản lưu đày trong
các nhà tù, vợ con bị đày đọa trong các khu kinh tế mới
mà thực chất là những nơi lưu đày, tài sản thì bị chúng
tịch thu. Ðời sống của chúng tôi trong các trại tập trung,
cũng như vợ con chúng tôi trong các khu kinh tế mới, không
nói thì quí vị quí bạn cũng thừa hiểu là vô cùng thảm
thương! Lòng thù hận tột cùng của cộng sản, đã thể hiện
qua những chính sách đối với người dân Việt Nam Cộng Hòa
cũ nói riêng, với chúng tôi và gia đình chúng tôi nói riêng,
không sao kể xiết! Chỉ có thể nói là chúng tàn bạo hơn
thời dân ta bị phong kiến thực dân cai trị nữa!
Xin thưa, đoạn trên đây tôi không
có ý phiền trách bất cứ vị nào, mà tôi chỉ muốn nói
đến một góc nhỏ của sự thật hòa trong nhận thức của
một sĩ quan, tham dự suốt chiều dài cuộc chiến tranh bảo
vệ tự do dân chủ 1954-1975! Tôi quan niệm, nói sự thật không
phải là nói xấu, cho dẫu sự thật đó có đắng cay đến
mấy cũng vậy. Chỉ khi nào "chuyện bé xé ra to hoặc dựng
chuyện để nói" mới là nói xấu.
*****
Thưa quí vị quí bạn,
Ký ức tôi còn lưu lại ngần ấy
sự kiện cùng với nét nhìn của tôi trong những biến cố
chính trị đã xảy ra từ đêm "thiết quân luật" 20 tháng
8 năm 1963, được gói ghém trong quyển sách này mà quí vị
quí bạn vừa đọc qua. Tôi không có kết luận về trách nhiệm
do đâu hay do ai mà chế độ tự do của Việt Nam Cộng Hòa
sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì thiết nghĩ, phải
trông chờ vào các sử gia mới có điều kiện thu thập tài
liệu tạo thành dòng lịch sử đương đại, và dòng lịch
sử đó có khả năng nói với thế hệ mai sau về những gì
mà chúng ta đã làm.
Nhưng, trong khi chờ đợi sự phán
xét của lịch sử, tất cả chúng ta "Những Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa", cho dù diễn giải như thế nào đi nữa, cũng
phải thừa nhận là chúng ta có chung trách nhiệm về ngày
30 tháng 4 năm 1975, ngày mà tổ quốc Việt Nam chúng ta bị
cộng sản đánh chiếm và dân tộc Việt Nam bị cai trị bởi
chế độ độc tài tàn bạo, do chúng ta chưa tròn trách nhiệm!
Chúng ta hãy can đảm mà nhận trách nhiệm đó, vì có như
vậy, chúng ta mới vơi bớt nỗi dày vò trong trái tim "Người
Lính thua trận cuối cùng". Nhận trách nhiệm không chỉ là
lời nói suông, mà tùy mỗi hoàn cảnh của chúng ta và bằng
cách này hay cách khác, góp phần xây dựng Cộng Ðồng Việt
Nam tị nạn chúng ta có một sức mạnh tập thể, và góp phần
trực tiếp hay gián tiếp vào công cuộc dân chủ hóa chế
độ chính trị trên quê hương Việt Nam. Phần quan trọng khác,
là hỗ trợ và khuyến khích con cháu chúng ta trau dồi kiến
thức khoa học kỹ thuật, và rèn luyện nghị lực với một
tinh thần trách nhiệm cộng đồng. Từ sức mạnh đó, tuổi
trẻ Việt Nam hải ngoại có khả năng góp phần quan trọng
vào công cuộc xây dựng một xã hội dân chủ pháp trị trên
quê hương Việt Nam vững vàng trên nền tảng phục vụ nguyện
vọng toàn dân.
Và tôi xin hết lời./.
Houston, Texas, Hoa Kỳ.
Viết xong ngày 15 tháng 8 năm 1994.
Bổ túc lần 1, mùa Thu năm 1995.
Bổ túc lần 2, mùa Thu năm 1998.
Bổ túc lần 3, mùa Ðông năm 2001-2002.
Bổ túc lần 4, mùa Ðông năm 2003-2004.
Bổ túc lần 5, mùa Ðông năm 2005-2006.
Bổ túc lần 6, mùa Xuân năm 2007.
Cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa
(Tiếp
theo các
phụ bản)
|