|
Phụ bản:
A. Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa
B. Chân dung Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa.
C. Chân dung Người
Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa.
D. Nhận xét của
một số độc giả.
E. Ðôi nét binh nghiệp
của tác giả.
****
A. Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có
sức mạnh của một lịch sử hào hùng, với dũng khí của
một dân tộc vẻ vang, xông pha trận mạc bằng lý tưởng
tự do dân chủ, trong mục đích phục vụ nguyện vọng toàn
dân, bao gồm các quyền tự do căn bản và quyền mưu tìm hạnh
phúc cho bản thân, cho gia đình, và quê hương Việt Nam sẽ
trở nên hùng mạnh.
Nhưng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
đã bị "bức tử" từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Bài này góp phần "ôn lại chuyện
hôm qua". Ôn lại chuyện hôm qua, không phải để hoài niệm
hay luyến tiếc bất cứ điều gì, mà để xác định đúng
một chế độ phục vụ nguyện vọng người dân, để khẳng
định một lập trường chính trị, để góp phần un đúc
ý chí dấn thân trong công cuộc dân chủ hóa chế độ chính
trị trên quê hương Việt Nam.
1950-1954: Giai đoạn hình thành
Trong cuộc chiến tranh giữa quân
Pháp thực dân với Việt Minh cộng sản (1946-1954), Quốc Hội
Pháp thông qua đạo luật vào tháng 5 năm 1950, thành lập quân
đội Việt Nam với 60.000 quân, với danh xưng "Quân Ðội Quốc
Gia Việt Nam" trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp Nhưng đến ngày
1 tháng 5 năm 1952, văn kiện thành lập mới chánh thức ban
hành do Quốc Trưởng Bảo Ðại ký, và vị Tổng Tham Mưu Trưởng
đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh. Thiếu Tướng
Hinh, gốc là sĩ quan Không Quân của Pháp chuyển sang. Bản
doanh Bộ Tổng Tham Mưu tọa lạc trên đại lộ Trần Hưng
Ðạo, thuộc Quận 5 Sài Gòn.
Trước khi thành lập Bộ Tổng Tham
Mưu, đã có một số đơn vị được thành lập, tuy là đơn
vị Việt Nam nhưng do sĩ quan Pháp chỉ huy. Ðó là:
- Trường Sĩ Quan Việt Nam tại Huế
1948, sau đó chuyển lên Ðà Lạt tiếp nhận Trường Võ Bị
Liên Quân Ðặc Biệt của Pháp, và đổi tên là "Trường Võ
Bị Liên Quân Ðà Lạt". Ðầu những năm 1960, trường này
cải tổ chương trình huấn luyện với thời gian đào tạo
sĩ quan hiện dịch lên đến 4 năm, và đổi tên là 'Trường
Võ Bị Quốc Gia'.
- Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức
và Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh, văn kiện thành lập
từ ngày 24 tháng 12 năm 1950, nhưng đến những tháng cuối
năm 1951 mới bắt đầu khai giảng khóa đầu tiên. Nhưng Trường
Nam Ðịnh chỉ đào tạo khóa duy nhất rồi đóng cửa.
- Trong năm 1951, các đơn vị đầu
tiên và thấp nhất được thành lập, là: Thiết Giáp. Truyền
Tin. Quân Vận. Nhẩy Dù. Công Binh. Pháo Binh.
Trong khi trên chiến trường, hoạt
động quân sự của Việt Minh cộng sản, với sự yểm trợ
tối đa của Trung Hoa cộng sản, làm cho bộ tư lệnh viễn
chinh Pháp ngày càng bối rối bởi những trận đánh với cấp
bộ đại đoàn, một loại đơn vị chiến thuật trên cấp
trung đoàn nhưng dưới cấp sư đoàn. Một căn cứ kiên cố
bậc nhất của Pháp tại chiến trường Ðông Dương với gần
13.000 quân trú phòng, được xây dựng trong vùng lòng chảo
Ðiện Biên Phủ, gần biên giới Lào. Mục tiêu là nhử các
đơn vị lớn của Việt Minh cộng sản đến để Pháp dùng
hỏa lực pháo binh và không quân tiêu diệt. Nhưng, sau 3 tháng
đánh nhau dữ dội với những tổn thất nặng nề cho cả
hai bên, ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân trú phòng Pháp đầu hàng.
Sự kiện này đã dẫn đến Hiệp Ðịnh đình chiến ngày
20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ, chia Việt Nam thành
hai quốc gia: Từ vĩ tuyến 17 trở lên phía bắc là nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cai trị, từ vĩ tuyến
17 trở xuống phía nam, là nước Quốc Gia Việt Nam theo chế
độ tự do.
Hiệp định đó không có chữ ký
của Việt Nam và Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, dưới Quốc Trưởng
Bảo Ðại có chánh phủ do Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm lãnh
đạo. Biết bao vấn đề khó khăn khi đất nước chỉ còn
lại từ vĩ tuyến 17 trở xuống, trong đó công tác định
cư cho gần 1 triệu đồng bào miền Bắc chạy nạn cộng sản
vào Nam, là một trong những mục tiêu lớn của chánh phủ
mới nhận trách nhiệm ngày 7 tháng 7 năm 1954, vỏn vẹn chỉ
hai tuần lễ trước đó.
Vào cuối giai đoạn này, Quân Ðội
Quốc Gia Việt Nam có:
Lục Quân:
- Bộ Tổng Tham Mưu và các cơ quan
phòng sở trực thuộc..
- Trường Võ Bị Liên Quân Ðà
Lạt, đào tạo sĩ quan hiện dịch (chuyên nghiệp).
- Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ
Ðức.
- Trường Hạ Sĩ Quan tại các Quân
Khu.
- Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung,
đào tạo chiến binh.
- 67 Tiểu Ðoàn Bộ Binh.
- 5 Tiểu Ðoàn Pháo Binh.
- Liên Ðoàn Nhẩy Dù với 5 Tiểu
Ðoàn.
- Trung Ðoàn Thiết Giáp.
- 6 Ðại Ðội Truyền Tin.
- 6 Ðại Ðội Công Binh.
- Và 6 Ðại Ðội Quân Vận.
Không Quân:
- 2 Phi Ðoàn Quan Sát Trợ Chiến,
trang bị phi cơ Morane.
- Trước cuối năm 1954, nhận thêm
39 phi cơ quan sát và phi cơ vận tải do Mỹ viện trợ ngang
qua trung gian của Pháp.
Hải Quân:
- 3 Hải Ðoàn Xung Phong, trang bị
loại giang đỉnh LCM và LCVP.
- 3 Liên Ðoàn Tuần Giang.
- Và một lực lượng com-măng-đô.
Tuy không thuộc hải quân, nhưng khi chuyển vào Nam thì sáp
nhập vào một tổ chức có tên là "Hải Quân Bộ Binh". Binh
chủng này là tiền thân của "Thủy Quân Lục Chiến", thành
lập tháng 5 năm 1955.
1955-1967, giai đoạn phát triển
lần 1.
Ngày 23 tháng 10 năm 1955, cuộc trưng
cầu ý dân với kết quả là Quốc Trưởng Bảo Ðại bị
truất phế, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm tuyên bố "Việt Nam
là một nước Cộng Hòa", gọi ngắn gọn là "Việt Nam Cộng
Hòa" và ông trở thành Tổng Thống từ ngày 26 tháng 10 năm
1955. Từ đó, tiêu đề trên công văn quân sự ghi là "Quân
Ðội Việt Nam Cộng Hòa".
Ðể kịp thời chống lại nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do họ cài lại hằng chục ngàn
đảng viên cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa khi
họ chuyển từ nam ra bắc theo Hiệp Ðịnh Ðình Chiến qui
định, một kế hoạch tái tổ chức toàn bộ quân đội được
thực hiện ngay trong năm 1955. Lúc ấy, tổ chức đơn vị cao
nhất chỉ là cấp Tiểu Ðoàn, được tổ chức thành Trung,
Sư Ðoàn, và Quân Ðoàn, với dụng cụ chiến tranh do Hoa Kỳ
viện trợ.
Ðầu năm 1956, toàn bộ quân đội
Pháp rút khỏi Việt Nam. Bản doanh Bộ Tổng Tham Mưu, từ Quận
5 chuyển đến địa điểm mới gần phi trường Tân Sơn Nhất
thuộc Quận Phú Nhuận (tỉnh Gia Ðịnh), trước đó là bản
doanh của Bộ Tư Lệnh Viễn Chinh Pháp. Doanh trại này rất
khang trang, bề thế, có tên là "Trại Trần Hưng Ðạo", tọa
lạc trên đường Võ Tánh nối dài.
Cuộc cải tổ bước đầu hoàn
tất, với 4 Sư Ðoàn Dã Chiến và 6 Sư Ðoàn Khinh Chiến. Sự
khác biệt giữa hai loại Sư Ðoàn này là vấn đề trang bị.
Sư Ðoàn Khinh Chiến với quân số khoảng 6.500 và trang bị
nhẹ, trong khi Sư Ðoàn Dã Chiến với quân số khoảng 10.000
và trang bị nặng.
Cuộc cải tổ sang bước thứ hai.
10 Sư Ðoàn đó tổ chức lại thành 7 Sư Ðoàn Bộ Binh. Loại
Sư Ðoàn này thống nhất về tổ chức lẫn trang bị, với
quân số mỗi Sư Ðoàn khoảng 10.500 quân, có đủ các đơn
vị binh chủng yểm trợ trực thuộc: Quân Vận, Quân Nhu, Quân
Cụ, Quân Y, Cộng Binh, Truyền Tin, Pháo Binh, Thiết Giáp. Lần
lượt thành lập thêm 3 Sư Ðoàn Bộ Binh, và phát triển Lữ
Ðoàn Nhẩy Dù với Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến lên cấp
Sư Ðoàn.
Trong giai đoạn này, nhiều cuộc
đảo chánh quân sự xảy ra đã ảnh hưởng đến nhiệm vụ
quân sự của quân đội, và trong một mức độ nào đó, đã
ảnh hưởng đến sự phân hóa ở cấp lãnh đạo cao nhất.
Tháng 4 năm 1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh (cầm quyền sau cuộc
đảo chánh ngày 30/1/1964), đã hệ thống hóa tổ chức quân
đội với danh xưng "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa" bao gồm:
Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, và Ðịa Phương Quân Nghĩa
Quân.
Do lời kêu gọi của Trung Tướng
Nguyễn Khánh, các quốc gia Ðồng Minh gồm Hoa Kỳ, Ðại Hàn
(S. Korea), Thái Lan, Australia, New Zealand, Phi Luật Tân, đưa quân
đến giúp Việt Nam chống cộng sản. Quân đội đông nhất
là Hoa Kỳ với hơn 500.000 quân.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào
cuối giai đoạn 1955-1967, như sau:
- Bộ Tổng Tham Mưu với các cơ
quan phòng sở trực thuộc.
Lục Quân:
- 4 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn (I, II,
III, IV) với các đơn vị yểm trợ trực thuộc. 10 Sư Ðoàn
Bộ Binh (1, 2, 5, 5, 9, 18, 21, 22, 23, 25). Sư Ðoàn Thủy Quân
Lục Chiến (tổng trừ bị). Sư Ðoàn Nhẩy Dù (tổng trừ
bị). Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù (tổng trừ bị). Lực Lượng
Ðặc Biệt. Lực lượng Biệt Ðộng Quân. Nha Kỹ Thuật
(đơn vị đặc biệt). 4 Trung Ðoàn Thiết Kỵ (không kể các
Thiết Ðoàn trong tổ chức Sư Ðoàn Bộ Binh). 11 Tiểu Ðoàn
Pháo Binh 155 ly và 1 Tiểu Ðoàn 155 ly (không kể các Tiểu Ðoàn
Pháo Binh trong tổ chức Sư Ðoàn). Tổng Cục Tiếp Vận với
8 ngành chuyên môn Quân Y, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Vận, Quân
Tiếp Vụ, Mãi Dịch, Công Binh, Truyền Tin, và 5 Bộ Chỉ Huy
Tiếp Vận địa phương. Tổng Cục Quân Huấn với các quân
trường đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan, đào tạo chuyên viên
cho các binh chủng binh sở, và các trung tâm huấn luyện đào
tạo chiến binh. 44 Tiểu Khu với lực lượng Ðịa Phương
Quân Nghĩa Quân và Pháo Binh diện địa, Quân Y diện địa.
Không Quân:
- Bộ Tư Lệnh Không Quân với các
cơ quan trực thuộc. Không Ðoàn 41 tại Ðà Nẳng. Không Ðoàn
62 tại Plei Ku. Không Ðoàn 23 tại Biên Hòa. Không Ðoàn 33 tại
Tân Sơn Nhất. Không Ðoàn 74 tại Cần Thơ. Không Ðoàn Tân
Trang & Chế Tạo.
Hải Quân:
- Bộ Tư Lệnh Hải Quân với các
cơ quan trực thuộc. Lực Lượng Giang Lực và Hải Lực, được
trang bị 64 chiến hạn và 303 chiến đỉnh. Các Bộ Tư Lệnh
Hải Lực, Giang Lực cấp Vùng. Hải Quân Công Xưởng.
1968-1975, giai đoạn phát triển
cao điểm.
Sau cuộc tổng tấn công của quân
cộng sản vào hầu hết các tỉnh lỵ trên toàn quốc đầu
năm 1968 nhân Tết Nguyên Ðán Mậu Thân, Hoa Kỳ cung cấp một
số loại vũ khí mới cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như:
Súng trường M16, súng đại liên M60, súng phóng lựu M79, súng
chống chiến xa M72, à Lúc ấy gọi là "tối tân hóa quân dụng".
Do thỏa Ước Chấm Dứt Chiến Tranh
và Lập Lại Hòa Bình, ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris,
toàn bộ quân đội Ðồng Minh rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa.
Quân đội Hoa Kỳ để lại hầu hết vũ khí giúp quân lực
Việt Nam Cộng Hòa gia tăng quân số, khả dĩ lấp vào khoảng
trống do quân đội Ðồng Minh rút về nước. Lúc ấy gọi
là "Việt Nam Hóa Chiến Tranh".
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào
đầu năm 1975, với quân số gần 1.100.000 người trong hệ
thống tổ chức như sau:
Cơ quan trung ương.
Bộ Tổng Tham Mưu với đầy đủ
các cơ quan, binh chủng, binh sở trong hệ thống quản trị
hành chánh, nhân viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị,
tiếp vận. Riêng ngành Tiếp Vận có khả năng sửa chữa và
tân trang toàn bộ quân dụng chung, do Lục Quân Công Xưởng,
các Căn Cứ Quân Nhu, Công Binh, Ðạn Dược, Truyền Tin, Tồn
Trữ Sửa Chữa Dù, và các Trung Tâm Bảo Toàn quân dụng trách
nhiệm. Quân dụng chung, là những loại quân dụng trang bị
cho Lục Quân nhưng Hải Quân và Không Quân có sử dụng.
Về huấn luyện. Trường Cao
Ðẳng Quốc Phòng trực thuộc Bộ Quốc Phòng, đào tạo sĩ
quan, tướng lãnh, và viên chức hành chánh, có kiến thức
lãnh đạo các ngày sinh hoạt quốc gia. Trong quân đội, một
hệ thống trường quân sự, gồm:
- Trường Chỉ Huy Tham Mưu, đào
tạo cấp chỉ huy Quân Ðoàn, Sư Ðoàn, Trung Ðoàn, và sĩ quan
tham mưu các cấp.
- Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt,
với chương trình 4 năm, đào tạo sĩ quan hiện dịch có kiến
thức căn bản trong các ngành sinh hoạt quốc gia.
- Trường Bộ Binh Thủ Ðức (về
sau là Long Thành), đào tạo sĩ quan trừ bị, có kiến thức
căn bản bộ binh, và đào tạo chỉ huy cấp Ðại Ðội, cấp
Tiểu Ðoàn.
- Trường Hải Quân và Trường Không
Quân, đào tạo sĩ quan và chuyên viên cho quân chủng.
- Trường Chỉ Huy Tham Mưu trung cấp
Không Quân, đào tạo sĩ quan tham mưu cho quân chủng.
- Trường Ðồng Ðế, đào tạo
hạ sĩ quan. Từ năm 1968, trợ giúp Trường Thủ Ðức, đào
tạo sĩ quan trừ bị cho nhu cầu phát triển quân đội do lệnh
tổng động viên.
- Trường Tiếp Vận, Trường Quân
Y, Quân Cụ, Quân Nhu, Quân Vận, Truyền Tin, Công Binh, Pháo
Binh, Thiết Giáp, Biệt Ðộng Quân, Hành Chánh Tài Chánh, đào
tạo các sĩ quan chuyên môn cho binh chủng binh sở liên hệ.
- Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung,
đào tạo chiến binh.
- Các Trung Tâm Huấn Luyện cấp
Quân Khu, đào tạo chiến binh, và tái huấn luyện cấp đơn
vị.
- Trung Tâm Huấn Luyện Nhẩy Dù,
và Trung Tâm Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến (Ðồng Ba Thìn),
đào tạo chuyên môn cho binh chung.
Về quản trị.
- Trung Tâm Ðiện Toán Bộ Quốc
Phòng, với dàn máy IBM 360/40, quản trị toàn bộ về ngân
sách quốc phòng.
- Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên/
Bộ Tổng Tham Mưu, với dàn máy IBM 360/40, quản trị toàn bộ
quân nhân.
- Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận/Tổng
Cục Tiếp Vận, với dàn máy IBM 360/50, quản trị toàn bộ
quân dụng chung.
- Trung Tâm Ðiện Toán Không Quân,
quản trị toàn bộ quân dụng của quân chủng, ngoại trừ
quân dụng chung.
- Trung Tâm Ðiện Toán Hải Quân,
quản trị toàn bộ quân dụng của quân chủng, ngoại trừ
quân dụng chung.
Về trang bị tổng quát.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được
trang bị:
Hơn 2.000.000 khẩu súng cầm tay.
1.200 xe chạy xích, kể cả chiến
xa M48.
Hơn 1.000 khẩu đại bác, từ 105
ly, 155 ly, đến 175 ly nòng dài cơ động.
Hơn 40.000 xe chạy bánh.
1.600 chiến hạm chiến đỉnh.
Hơn 2.000 phi cơ các loại, từ cánh
quạt, trực thăng, đến phản lực.
Lục Quân:
- 4 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn và các
đơn vị yểm trợ trực thuộc.
- 11 Sư Ðoàn Bộ Binh, kể cả Sư
Ðoàn 3 Bộ Binh thành lập tháng 10 năm 1971.
- 1 Sư Ðoàn Nhẩy Dù.
- 1 Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.
- 1 Liên Ðoàn Biệt Cách Dù.
- Hơn 20 Liên Ðoàn Biệt Ðộng
Quân.
- 4 Lữ Ðoàn Kỵ Binh Thiết Giáp.
- Lực Lượng Lôi Hổ và Biệt
Hải.
- Các đơn vị Pháo Binh (kể cả
đại bác 175 nòng dài xe kéo) và Phòng Không.
- Lực lượng Ðịa Phương Quân
Nghĩa Quân chiếm khoảng một nửa quân số.
- Vào những ngày cuối tháng 4/1975,
Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân được thành lập gấp rút để
phòng thủ Phú Lâm, cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn từ hướng
tây nam.
Không Quân, với quân số hơn 60.000,
tổ chức tổng quát gồm:
- Bộ Tư Lệnh với các đơn vị
yểm trợ trực thuộc.
- 5 Sư Ðoàn tác chiến.
- 1 Sư Ðoàn vận tải.
- 1 Không Ðoàn Tân Trang Chế Tạo.
Chỉ trong năm 1973, tiếp nhận hơn
900 phi cơ, gồm: 560 trực thăng, 230 khu trục, 100 vận tải,
và các loại khác. Trong tổ chức 6 Sư đoàn không quân, có
số lượng các phi đoàn như sau: 20 phi đoàn khu trục, trang
bị khoảng 550 phi cơ. 23 phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng
1000 phi cơ. 8 phi đoàn quan sát, trang bị khoảng 200 phi cơ.
9 phi đoàn vận tải, trang bị khoảng 150 phi cơ. Và 4 phi đoàn
hỏa long, trang bị phi cơ AC119 nhưng không rõ số lượng. Ngoài
ra còn có các Phi Ðoàn đặc biệt.
Hải Quân, với quân số hơn 40.000,
và sau khi tiếp nhận 5 Giang Ðoàn của Hải Quân Hoa Kỳ, lực
lượng Hải Quân như sau:
- Bộ Tư Lệnh và các đơn vị yểm
trợ trực thuộc.
- Giang Lực với 14 Giang Ðoàn, trang
bị chiến đỉnh các loại.
- Hải Lực với 1 Hạm Ðội, trang
bị tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, trợ chiến
hạm, giang pháo hạm, tuần duyên hạm, dương vận hạm, hải
vận hạm, và giang vận hạm.
- Liên Ðoàn Người Nhái.
- Hải Quân Công Xưởng.
B. Chân Dung Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi
hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi Cà
Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng già heo hút
đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng bằng sông
rạch Cửu Long, mời quí bạn lần theo dấu chân để đến,
và nhận ra Chân Dung Những Người Lính ấy, sau khi có khái
niệm về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm
chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều
chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm
rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng ta qua hai
trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn diện trong
cuộc "tổng công kích" của quân cộng sản hồi Tết Mậu
Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn
công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ Hà
Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực diện tấn
công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972, thường gọi là "Mùa
Hè Ðỏ Lửa". Chớ họ không thể hiểu được những chiến
thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày
hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội,
trung đội, của Bộ Binh, của Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân,
trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng của "lực lượng
Dân Sự Chiến Ðấu", của "Lực Lượng Ðặc Biệt", của
những "Toán Lôi Hổ", của "Liên Ðoàn Biệt Cách Dù", ..v..v..
trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới Việt Nam-Cam
Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ miền bắc, theo hành
lang biên giới mà chúng gọi là "đường Trường Sơn", xâm
nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Họ cũng không thể hiểu chiều
sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải rình
mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Ðánh
nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ
nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến
tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài
ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp
trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là
góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất
Mũi (Cà Mau), là "biển cạn" Tháp Mười. Từng góc phố, căn
nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi
cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường
của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng
Hòa.
Nói chung là người ngoại quốc,
cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo chính trị,
họ không thể nào hiểu được những chiến thuật trên chiến
trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật đó của
"Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", trong khi 500.000 quân Ðồng
Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của
nó là "chiến tranh tổng thể" trên chiến trường Việt Nam
chúng ta, bởi họ không thấu đáo nền văn hóa Việt Nam nên
chưa hiểu được Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
Vậy, "Người Lính Việt Nam Cộng
Hòa là ai?"
"Họ", là những nông dân chất phác
hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải quanh năm sóng
vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những học sinh
tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp
đại học, là những viên chức cán bộ đam mê đời sống
quân ngũ, là những người chuyên môn trong các ngành nghề
tự do. "Họ", theo tiếng gọi quốc gia, tình nguyện vào các
trường quân sự. "Họ", tuân lệnh chánh phủ, trình diện
các trường quân sự. "Họ", là quân nhân hiện dịch, là quân
nhân trừ bị, là quân nhân đồng hóa, là những nữ quân
nhân. "Họ", là những chuyên viên, những chiến binh, những
hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh. "Họ" có mặt trong các quân
chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân trường.
Khi tổ quốc lâm nguy, "Họ" phụng sự tổ quốc, phục vụ
dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương trìu
mến là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", những người lính
trong một hệ thống tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm
minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa:
Là Người Lính Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, ngày đêm quanh
năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn
giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở. Là
Người Lính Lực Lượng Ðặc Biệt, Biệt Cách Dù, lặn lội
vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù. Là lực lượng
Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch. Là Người
Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống. Là Người Lính
Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh. Là Người Lính Hải
Quân, từ ngoài biển đánh vào. Là Người Lính Thủy Quân
Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh. Là Người Lính Bộ
Binh, Người Lính Biệt Ðộng Quân, đánh địch ngay trên bờ
nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Ðánh địch dọc biên
giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Ðánh địch trên chót
Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười,
trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù phú
Cửu Long. Ðánh địch để giành lại từng góc phố của thủ
đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng bờ tường
của cổ thành Quảng Trị. "Họ" miệt mài với chiến trận,
và mệt nhoài sau chiến trận. "Họ" đã đánh địch đến
giây phút cuối cùng! Và "Họ", xứng danh là "Người Lính
Việt Nam Cộng Hòa".
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa,
đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình vĩnh cửu trong
các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì quân cộng sản đào
mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã để lại một phần
thân thể góp phần gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục
mạ đọa đày. Là những quân nhân có vầng trán nhăn nheo
với mái tóc già nua trước tuổi. Là những người tù chính
trị bị cộng sản lưu đày trong các trại tập trung nghiệt
ngã trên khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người
làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới lên hoa màu,
nhưng "Họ" chỉ được ăn những cọng rau do phân và nước
tiểu của "Họ" mà vươn lên. Ðể rồi nhiều người trong
số "Họ", đã chết trong đau thương, đói khổ, nhọc nhằn!
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa,
khi rời đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn
lại tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng
đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa lạ.
Ðó, là "chân dung Người Lính
Việt Nam Cộng Hòa", mà người phương Tây chưa thể nào
nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của
lịch sử và văn hóa Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều
sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài
tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được
chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta.
Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều
sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một
cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa.
Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc
gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại
sứ thiết lập trên lãnh thổ mỗi quốc gia. Quân của quốc
gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ "xâm lăng"
ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả. Những
ngôn từ mà cộng sản sử dụng để nói đến cuộc chiến
này, đều là những dối trá đánh lừa dư luận quốc nội
lẫn quốc tế, ngụy trang mục tiêu chiến lược của họ.
"Chân Dung Người Lính Việt Nam
Cộng Hòa", hình thành "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Một
quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong chiến
chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và từ trong
chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh, những
anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của
một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng
cho lịch sử đương đại của tổ quốc, "thành mất chết
theo thành". Vì vậy:
''Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất
xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã
bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ,
nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến
đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể
hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu
hùng của dân tộc Việt Nam".
C. Chân Dung Người
Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa
Trong cuộc sống, sự thành công
hay thất bại nào cũng có cái giá của nó. Trong chiến tranh
cũng vậy, cái giá của những chiến tích lừng danh mà Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải trả, là những đồng
đội đã hi sinh, những đồng đội khác đã để lại một
phần thân thể trên khắp miền đất nước, và hệ lụy dài
lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha, những người vợ
vĩnh viễn xa chồng! Người quân nhân hi sinh vì tổ quốc,
là sự hi sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi ghi công. Nhưng,
hình ảnh người quả phụ, với một nửa tâm hồn, một nửa
con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng lên đài tổ quốc
ghi công, và những nửa còn lại có trách nhiệm trang bị cho
các con một hành trang vào đời, phải được thừa nhận là
sự hi sinh không kém phần cao cả như người chồng dũng cảm
nơi chiến trường, rất xứng đáng được kính trọng.
Cũng trong chiến tranh, chồng ở
chiến trường, vợ ở nhà quán xuyến công việc gia đình
mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có những việc chưa
kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm sóc các
con, chăm sóc tình thân gia đình quyến thuộc, chăm sóc tình
bạn bè bằng hữu. Ðể rồi, những giờ phút yên tĩnh về
đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ đến chồng
nơi chốn xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt, với
bao khắc khoải lo âu, sầu muộn!
Rồi chiến tranh chấm dứt trong
nỗi nghẹn ngào uất hận, bởi đây là cuộc chiến mà cuối
cùng "bị chấm dứt để thua trận"! Sau lời tuyên bố của
vị Tổng Thống cuối cùng, hàng trăm ngàn đồng bào, quân
nhân, viên chức, cán bộ, bỏ của chạy lấy người, tị
nạn trên đất Mỹ. Với những thành phần tương tự như
vậy gồm 222.809 người, lũ lượt bị lừa vào 200 trại tù
trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15 năm,
thậm chí 17 năm ròng rã, do lòng thù hận tột cùng của nhóm
lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia đình di
tản ra ngoại quốc, cũng như hằng chục triệu gia đình còn
lại trên quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt hẫng
vì cuộc sống trên đất người với biết bao xa lạ trong
một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu chưa thể hội nhập.
Hụt hẫng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào
chế độ độc tài trên toàn cõi nước Việt Nam!
Cảnh đời thứ nhất. Trong
cuộc đời tị nạn, vợ chồng con cháu có cơ hội bên nhau,
cùng chia xẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận
chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương trong
thân phận lưu vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh ra
và trưởng thành trong xã hội nông nghiệp, nay phải cùng chồng
từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi định cư,
đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng về
nhà trong màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi hãng
xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt nước lăn trên má
là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa tan!
Cảnh đời thứ hai. Trong xã
hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận, thì gia đình
ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ đau,
của nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng!
Cái chế độ mà những người lãnh đạo luôn miệng huênh
hoang là "dân chủ gấp trăm lần dân chủ tư bản", lại bắt
mọi người phải sống trong nỗi sợ hãi triền miên với
những đôi mắt rình rập quanh năm suốt tháng!
Cảnh đời thứ ba. Riêng với
những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù, còn tệ hơn nhiều
so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải đối phó
với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu óc toàn
đất sét và rác rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp đoạt.
Ðồng thời phải chăm lo cuộc sống các con từng ngày, lo
nuôi chồng từng tháng!
Và những bà vợ chúng ta, hải ngoại
hay trong nước, thật sự là Những Người Ðàn Bà Việt
Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua nỗi
đau nỗi nhục đó! Ðau đến nỗi không còn nước mắt để
khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than! Nếu đem so
sánh giữa hai cảnh đời trong nước với ngoài nước, thử
hỏi: "Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?" Với tôi, không ai đau
hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào cũng có
cái đau riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng
của nó! Xin những ông chồng diễm phúc, hãy nhìn lại đôi
nét về hình ảnh Những Bà Vợ Chúng Ta trong cuộc sống khổ
đau thầm lặng đó, mà người viết được những bà vợ
trong cuộc kể lại:
- Một cảnh đau thương. Một bà
vợ cùng con cầm giấy phép "gánh gạo" nuôi chồng trên đất
Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gỡ!
Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với dòng chữ
"nhà vắng chủ". Ðau đớn biết bao! Xót xa biết dường nào!
Bỗng dưng nhà bị mất! Bà gục đầu vào cửa! Bà cùng gia
đình định cư tại Houston, Texas từ tháng 4 năm 1991.
- Một cảnh đau thương khác. Một
bà vợ đã bao nhiêu lần bị công an Phường ra lệnh đi khu
kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng hành hạ bằng
cách gọi bà đến văn phòng, bảo ngồi đó từ đầu giờ
đến cuối giờ, ngày nào cũng vậy, và ròng rã 6 tháng như
vậy. Một hôm, chúng bảo đưa giấy tờ nhà để giải quyết.
Khi chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra lệnh trong
vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà. "Ôi! Còn nỗi
đau nào cao hơn nỗi đau này trong cảnh đời thua trận!" Bà
xiêu vẹo trên đường về nhà cách đó mấy dãy nhà liên
kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và gục ngã ngay trước nhà!
Bà cùng gia đình định cư vùng bắc California từ năm 1993,
nhưng chồng đã qua đời vào năm 2003.
- Một cảnh đau thương khác nữa.
Một bà vợ có chồng bị giam trên đất Bắc hằng chục năm
trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn lội khắp các cơ
quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt nhọc, nhưng hoàn
toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá sức chịu đựng
của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc bà cảm thấy như
mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần xuống...... Bà
bị tai biến mạch máu não, nằm bất động một chỗ. Nhiều
tháng sau đó, bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy
cho phép bà thăm chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1
cây số (khám Chí Hòa). Bạn bè khiêng bà đến nhà tù. Cả
hai "chồng đứng đó vợ liệt toàn thân", chỉ biết nhìn
nhau, òa khóc...! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời! Phải chăng,
mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao quanh hai con người
đau khổ đó? Không. Không chỉ có vậy. Mà là tất cả những
bà vợ có chồng bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu
qua 3 cảnh đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất
nước Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình trạng
bại liệt đó theo Bà cùng chồng định cư tại Houston, nhưng
rồi Bà đã từ trần năm 2004!
Sài Gòn-Hà Nội 1.736 cây số, xe
lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ, tức 3 ngày 3 đêm.
Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên xe lửa, mang
nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt nhân viên từ
cổng vào cho đến nhân viên trên xe lửa. Hành lý ngổn ngang
cả trên lối đi giữa toa xe. Ban ngày cũng phải lách từng
bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó mà tưởng
tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai băng
phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên
của hai băng 6 người, máng được 3 cái võng cho 3 người,
1 người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy nhụa giữa
2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng nằm co quắp
trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ thấy,
băng ngồi đầy người nằm, những chiếc võng bé xíu che
kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp cũng
đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hỗn độn.
Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô, biết
bao là nhọc nhằn gian khổ! Giả thử, nếu những ông chồng
chứng kiến những hành khách nằm cong queo trong cái gọi là
chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy ấp tình
thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ của mình,
liệu có cầm được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật
lại, ông chồng nào cũng đớn đau thương cảm cho tình cảnh
những bà vợ quanh năm gánh gạo nuôi chồng! Nhưng không có
đớn đau thương cảm nào có thể đem cân bằng nỗi đớn
đau thương cảm của những bà vợ trọn tình vẹn nghĩa như
vậy được cả!
Tôi hình dung những bà vợ chúng
ta qua hình ảnh trên đây mà chính tôi trông thấy khi tôi ra
trại tập trung cùng với 90 "bạn đồng tù", từ Nam Ðịnh
về Sài Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng hồ hồi tháng
9 năm 1987.
Trên đây là một cố gắng dựng
lại hình ảnh
"Những Bà Vợ Chúng Ta", nếu không rõ
nét thì ít ra cũng là những nét chính của hình ảnh ấy,
qua sự kết nối bốn hợp phần sau đây:
- Hai hợp phần trong chiến tranh,
là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những bà vợ mà
chồng đang chiến đấu.
- Hai hợp phần sau chiến tranh, là
những bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc, và những
bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một xã hội đầy
hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những trại tập
trung nghiệt ngã!
Những cảnh đời bi thương, những
khổ đau sầu muộn, những nước mắt, mồ hôi, được khơi
lên từ những góc cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn cảnh
đời như vậy, mà Những Bà Vợ Chúng Ta đã chịu đựng trong
những năm dài thật dài!
Quyển Chân Trời Dâu Bể của
Giao Chỉ, kể chuyện trên đất Mỹ, và quyển Giữa Dòng
Nghịch Lũ của Duy Năng, kể chuyện trên quê hương Việt
Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ nào đó, có thể
xem là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng chuyện
kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao xót xa thương
cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày thua trận,
dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái đất. Với
tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng Phụng
Hà. Bà là một trong số hằng trăm ngàn bà vợ thăm nuôi chồng
trong tù. Ở phần kết, bà nói:
"... Các anh trong tù, khổ về vật
chất và đau về tinh thần đến vạn lần, điều đó chúng
tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của các anh- đau
khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh nữa, các anh có biết
không? Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà tôi đề cao tất
cả những bà vợ thăm nuôi chồng trong các trại tù cải tạo.
Bởi vì:
Họ, đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ
Miền Nam. Họ, rất xứng đáng được các anh kính trọng.
Và Họ, chính là Vợ của các Anh".
Vì vậy mà một số bạn đồng
tù chúng tôi trong trại tập trung, đã không quá lời khi nói
với nhau rằng: "Ra tù, chúng ta phải cõng vợ chúng ta đi vòng
quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức chịu đựng
biết bao nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các con và nuôi chúng
mình.
Bây giờ nhìn lại, trong một ý
nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính trị chúng ta, đã
cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Ðến ngày Việt
Nam thật sự tự do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về
quê hương là trọn vòng trái đất như đã tự hứa, phải
không quí vị?
Với nét chân dung đó, tôi quả
quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất xứng đáng được
vinh danh. Và nếu quí đồng đội và quí vị đồng hương
đồng ý với tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng:
"Chúng ta cùng vinh danh Những Bà
Vợ Chúng Ta là những người đàn bà cao cả, rất xứng đáng
được kính trọng. Bởi, trong hoàn cảnh nghiệt ngã của chế
độ độc tài cộng sản, nhưng đã đứng vững trong phẩm
giá Người Vợ Miền Nam, cùng lúc, chu toàn thiên chức làm
Mẹ, và tròn bổn phận làm Con".
Vinh danh bằng những tiếng nói ân
tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng thật đẹp,
hôn vợ những nụ hôn thật dài. Ðiều đó luôn nhắc nhở
người chồng trong cuộc sống thường ngày, phải thể hiện
lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông vợ mình nhiều
hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt hơn, để cùng nhau
đi suốt chiều dài còn lại trong cuộc sống lứa đôi thật
mặn nồng, như chưa bao giờ mặn nồng đến như vậy. Trường
hợp vì lý do gì đó mà bạn đang sống một mình, xin bạn
hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi nào mà khi nằm nghỉ
bạn đều trông thấy, để trao tặng vợ khi đoàn tụ bên
nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ giúp bạn có được những
giây phút sống lại những năm tháng mặn nồng trong tình yêu
vợ chồng thuở chung chăn chung gối, thuở mà hai người dùng
chung một tên.
D. Nhận xét của một
số độc giả
1. Nhà văn Giao Chỉ, San Jose: Tôi
đọc một đêm hết cuốn sách. Lôi cuốn lắm. Anh nhớ khá
nhiều chi tiết và viết rất tự chế mà lẽ ra còn phê bình
hơn thế nữa.
2. Văn Học Giai Phẩm số Xuân 1995,
Nam California: Tác giả là một nhân chứng đáng tin cậy của
những biến chuyển hậu trường chính trị miền Nam. Bằng
trí nhớ, tác giả kể lại những chuyện tai nghe mắt thấy
trong đời quân ngũ của mình, và kể một cách dung dị, chân
thành, không đề cao mình cũng không bôi nhọ người khác.
Ðây là một chứng liệu tốt cho những người muốn viết
sử Việt Nam.
3. Thế Kỷ 21 số Xuân 1995, Nam California:
Ðôi Dòng Ghi Nhớ, văn không luộm thuộm như tác giả tự
khiêm. Ông nói thẳng vào sự kiện, không rào đón, không kỹ
thuật, cũng không trau chuốt lời văn của mình, nhưng đó
chính là văn phong của ông mà tôi nghĩ ông có được là nhờ
vài chục trong quân đội với những văn thư lời lẽ xuông
đuột thẳng tắp như lính so hàng.
4. Ðài phát thanh VOVN/Houston, Texas:
Sở dĩ chúng tôi chọn đọc quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ trong
chương trình Lật Trang Sử Cũ, vì tác giả không hoạt động
chính trị mà ông là một quân nhân nhà nghề, Do đó, chúng
tôi hy vọng lời thuật của ông sẽ khách quan hơn những cuốn
hồi ký đã phát hành tại hải ngoại.
5. Giai Phẩm Quốc Dân số Xuân 1995,
Houston, Texas: Từng giữ nhiều chức vụ chánh văn phòng của
nhiều nhân vật cao cấp, tác giả cung cấp khá nhiều chi tiết
phía sau sân khấu chính trị miền Nam.
6. Giáo sư Ðàm Quang Hưng, Houston,
Texas: Tác giả rất khách quan nên mức độ trung thực đáng
được tin cậy. Lời văn nhẹ nhàng như hơi thở. Ông không
đề cao mình, cũng không chỉ trích người khác.
7. Luật sư Ngô Hữu Liễn, Houston,
Texas: Sự kiện rất thực và lời văn cũng rất thực. Rất
cần thiết với các sử gia.
8. Cựu Trung Tá Bùi Công Minh, Washington
DC: Tác giả rất khiêm nhường. Lời văn trong sáng và chân
thực. Tài liệu lịch sử rất quý.
9. Nhà báo Vương Mai Thảo, Houston,
Texas: Tác giả cống hiến rất nhiều dữ kiện cho những nhà
viết sử.
10 .Cựu Ðại Tá Huỳnh Thanh Sơn,
Pasadena, California: Một cuốn sách sống thật với tài liệu
lịch sử mà không ai có được.
11. Cựu Ðại Tá Bùi Văn Mạnh,
Frankfurt, Ðức Quốc: Rất hoan nghênh việc làm của anh. Phải
nói thẳng như vậy mới thật sự góp phần làm sáng tỏ khả
năng, bản lãnh, và trách nhiệm của những nhân vật lãnh
đạo đất nước.
12. Nhà báo Phạm Hậu, Seattle, tiểu
bang Washington: Xem văn biết người. Anh viết rất thành thật,
công bằng, và tâm huyết. Anh là người nhớ được nhiều
điều quan trọng và là người nhiệt tình với đất nước.
Tôi thích nhất là đoạn so sánh giữa 5 vị Tổng Tham Mưu
Trưởng, vì rất khách quan.
13. Nhà báo Yên Mô, San Jose, Bắc
California: Tác giả là một trong các sĩ quan đã ở lại làm
việc đến giờ phút cuối cùng của tháng 4/1975. Ông có cơ
hội làm việc thân cận với các Tướng Lãnh, có khả năng
tham mưu và hành chánh, với một trí nhớ rất tốt, và là
một sĩ quan tham mưu cao cấp đầy tinh thần trách nhiệm.
14. Ông Nguyễn Năng Thỏa, Virginia.
Tuổi trẻ rất cần những cuốn sách như cuốn Ðôi Dòng Ghi
Nhớ của ông Phạm Bá Hoa.
15. Kỹ sư Lê Thành Nhân, Austin,
Teaxs. Tôi đọc liên tục từ đầu đến cuối một cách thích
thú. Anh kể chuyện như thật với lời văn chân thành và tin
tưởng. Cuốn sách có tính cách nhật ký nhưng là một sử
liệu vô cùng quí giá.
16. Giáo sư Ngô Quốc Tượng, Nam
California: Anh kể chuyện với tâm hồn trong sáng, với lời
lẽ mộc mạc, càng đọc càng thấy giá trị của cuốn sách.
17. Cựu Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài,
Paris, Pháp quốc (con rể của cựu Tổng Thống Dương Văn Minh):
Tôi đã xem nhiều cuốn hồi ký xuất bản tại hải ngoại,
và tôi vắn tắt với Anh rằng: Anh là người cầm bút liêm
sỉ nhất.
18. Nhà văn Ðặng Trần Huân, Nam
California: Tác giả Ðôi Dòng Ghi Nhớ khá thành thật. Ông không
khoe khoang, không phô trương, khá nhũn nhặn, và dè dặt trong
phán xét. Hiếm có một cuốn sách như vậy. Ðây là cuốn
sách đáng đọc.
19. Cựu Ðốc sự hành chánh Nguyễn
Văn Cường, Oklahoma: Cuốn sách xứng đáng được trân trọng
trong mỗi gia đình tị nạn. Tôi mua nhiều cuốn tặng bạn
bè sau khi xem bài nhận xét của nhà văn Ðặng Trần Huân.
20. Tiến sĩ Lê Duy Cấn, Ottawa, Canada:
Tác phẩm Ðôi Dòng Ghi Nhớ đã đóng góp đáng kể vào việc
làm sáng tỏ một cách trung thực trong một giai đoạn lịch
sử đầy biến cố của nước nhà.
21. Bác sĩ Tôn Thất Sơn, Na Uy: Ðọc
xong bài hồi ký Rút Quân Trên Ðường Số 7, tim tôi muốn
chảy máu, mắt tôi mờ đi với chút nước mắt còn sót lại
. . .
22. Nhà văn Diệu Tần, Văn Bút Việt
Nam Hải Ngoại, San Jose: Ðây là chiến sử và là sử liệu
quí giá. Cám ơn Anh.
23. Bác Sĩ Nguyễn Phước Bảo Quý,
Australia: Tài liệu có tính cách lịch sử mà tuổi trẻ rất
cần.
24. Dược sĩ Hồ Duy Thiện (không
rõ ở đâu) Tôi đọc say sưa và đã đọc lại nhiều để
thấu hiểu một số dữ kiện. Ðây là tập tài liệu vô cùng
quí giá cho những lớp người đi sau như chúng tôi. Khác với
lời lẽ rất khiêm nhường, tôi tin rằng tài liệu này còn
quí giá hơn những sử liệu hay sách vở xuất bản từ sau
ngày 1/11/1963.
E. Ðôi nét về tác
giả
Phạm Bá Hoa, sinh năm 1930 tại làng
Ðại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày
12 tháng 5 năm 1954 vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức,
thuộc tài nguyên sĩ quan trừ bị khóa 5. Vì không đủ cơ
sở, được gởi lên học Trường Võ Bị Liên Quân/Ðà Lạt.
Trở về Thủ Ðức dự lễ tốt nghiệp khóa Vì Dân cuối
tháng 1 năm 1955, với cấp bậc Thiếu Úy.
Lần lượt giữ các chức vụ:
- Trung Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn
Khinh Quân 510.
- Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn
Khinh Quân 510.
- Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 2,
Trung Ðoàn 35, Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến.
- Trưởng Ban 3 Bộ Chỉ Huy Trung
Ðoàn 35, Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến.
- Trưởng Ban Hành Quân, rồi Phó
Phòng 3/Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
- Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn
21 Bộ Binh.
- Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng
Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu.
- Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Quân
Ðoàn III.
- Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng
Quốc Phòng.
- Chánh Văn Phòng Tổng Tư Lệnh.
- Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu
Trưởng.
- Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng
Phong Dinh (Cần Thơ).
- Chánh Sở Kế Hoạch/Tổng Cục
Tiếp Vận.
- Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp
Vận.
- Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
- Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp
Vận.
Thăng cấp:
- Trung Úy, tháng 2 năm 1957.
- Ðại Úy, tháng 11 năm 1961.
- Thiếu Tá, tháng 11 năm 1963.
- Trung Tá, tháng 12 năm 1965.
- Ðại Tá, tháng 9 năm 1969.
Theo học:
- Khóa Ðại Ðội Trưởng tại
chi nhánh Trường Vờ Bị Liên Quân/Ðà Lạt 1956.
- Khóa Tham Mưu tại Trường Ðại
Học Quân Sự/Sài Gòn 1960.
- Khóa Chỉ Huy&Tham Mưu Cao Cấp
tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp/Ðà Lạt 1970.
Tham dự các khóa hội thảo:
- Tiếp Vận khu vực Miền Tây
Thái Bình Dương 1970 tại Okinawa.
- Quản Trị Ngân Sách Quốc Phòng
1971 tại Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng.
- Phát Triển Quốc Gia 1973 tại
Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng, Sài Gòn.
Công du:
Nhật Bản, Ðại Hàn, Thái Lan,
Ðài Loan, Okinawa, và Singapore.
Tù chính trị:
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tù
chính trị từ ngày 14 tháng 6 năm 1975 đến ngày 12 tháng 9
năm 1987, trong các trại tù Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp
tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, và Nam Hà tỉnh
Hà Nam Ninh.
Sinh hoạt Cộng Ðồng:
- Tham gia Hội Cựu Sinh Viên Sĩ
Quan Trừ Bị Thủ Ðức tại Houston từ năm 1995 đến năm 2000.
- Tham gia Tổng Hội Cựu Sinh Viên
Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức Hải Ngoại: Nhiệm kỳ 1 (2000-2002)
họp tại Houston, Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ 2 (2002-2004) họp tại Toronto,
Canada. Nhiệm kỳ 3 (2004-2006) họp tại Brisbane, Australia. Và
nhiệm kỳ 4 (2006-2008) họp tại San Jose, Hoa Kỳ.
- Tham gia hội đồng hương Vĩnh
Long, Vĩnh Bình, Sa Ðéc, nhiệm kỳ 2006-2008 tại Houston, Hoa
Kỳ.
- Thực hiện chương trình thời
sự "Những Vấn Ðề Hôm Nay" trên làn sóng đài TNT/Houston
từ tháng 9 năm 2001 đến đầu năm 2006. Vừa là tác giả vừa
diễn đọc 349 bài với nội dung góp phần hỗ trợ công cuộc
dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam.
Nhiều bài trong số đó có mặt trên vài diễn đàn và trên
nhiều tạp chí tại hải ngoại.
Tác phẩm:
- "Ðôi Dòng Ghi Nhớ", hồi ký
chính trị Việt Nam Cộng Hòa 1963-1975. Ấn bản lần 1 năm
1994, ấn bản lần hai năm 1995, ấn bản lần 3 năm 1998, và
ấn bản lần 4 năm 2007.
- "Ký Sự Trong Tù", chuyện kể trong
các trại tập trung Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp tỉnh
Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, Nam Hà tỉnh Hà Nam
Ninh, từ 14/6/1975 đến 12/9/1987, và trong thời gian ở Sài Gòn
chờ xuất ngoại. Ấn bản đầu tiên năm 2007.
- Ðã diễn đọc quyển "Ðôi Dòng
Ghi Nhớ" (thu vào 13 Audio CDs), quyển "Ký Sự Trong Tù" và những
năm sau đó (thu vào 21 Audio CDs), trên làn sóng đài TNT/Houston
trong năm 2005, 2006, 2007.
Tình trạng gia đình đến năm 2007:
Vợ và năm con (4 trai 1 gái) với
chín cháu Nội Ngoại (5 gái 4 trai). Ðầu năm 2008, hôn lễ
được 50 năm./.
- Tác giả giữ bản quyền.
Mọi trích dịch hoặc chuyển ngữ cần được tác giả đồng
ý bằng văn bản.
- Ấn bản lần 1 tại Houston
tháng 11 năm 1994.
Lưu trữ tại Thư Viện
Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số TX 4-045-945.
Số ISBN: 0-9648940-1-7.
Lưu trữ trong tại Thư
Viện Điện Tử, trong CD Giao Điểm 2.
- Ấn bản lần 2 tại Houston
tháng 11 năm 1995.
Lưu trữ tại Thư Viện
Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số TX 4-052-093.
Số ISBN: 0-9648940-0-9.
- Ấn bản lần 3 tại Houston
tháng 12 năm 1998.
Số ISBN: 0-9648940-2-5.
- Ấn bản lần 4 tại ……..
tháng …năm 2007….
- Copyright (c) 1994,1995, 1998,
and 2007, by Hoa Ba Pham. All rights reserved. No part of this publication
may be translated into different languages, reproduced, stored in a retrieval
system in any form or by any means, electronìcs, mechanical, photocopying,
recording, or otherwise, without the prior written permission of the publisher.
- Printed in the United States of
America.
- Publication data:
Set in 11 point, VPS Times
by Trung Pham.
VISCII Standard, Pager Maker.
- First printing, November 1994.
Library of Congress Registration
No: TX 4-045-945. And ISBN: 0-9468940-1-7.
Electronics Library: giao
Diem 2.
- Second printing, November 1995.
Library of Congress Registration
No: TX 4-052-093. And ISBN: 0-9648940-0-9.
- Third printing, December 1998.
ISBN: 0-9648940-2-5.
- Fourth printing, ……. 2007.
Ngày Nay xuất bản năm 1994,
1995, 1998.
Published by Ngay Nay.
Published by ………… 2007. |