4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức

Tâm Sự Người Alfa Cư An Tư Nguy

Ðôi dòng ghi nhớ
(Hồi ký chính trị 1963 - 1975)
Ấn bản lần 4, năm 2007
Houston, Texas, U.S.A.
Phạm Bá Hoa

Phụ bản:

A. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
B. Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
C. Chân dung Người Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa.
D. Nhận xét của một số độc giả.
E. Ðôi nét binh nghiệp của tác giả.

****

A. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có sức mạnh của một lịch sử hào hùng, với dũng khí của một dân tộc vẻ vang, xông pha trận mạc bằng lý tưởng tự do dân chủ, trong mục đích phục vụ nguyện vọng toàn dân, bao gồm các quyền tự do căn bản và quyền mưu tìm hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình, và quê hương Việt Nam sẽ trở nên hùng mạnh.

Nhưng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị "bức tử" từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Bài này góp phần "ôn lại chuyện hôm qua". Ôn lại chuyện hôm qua, không phải để hoài niệm hay luyến tiếc bất cứ điều gì, mà để xác định đúng một chế độ phục vụ nguyện vọng người dân, để khẳng định một lập trường chính trị, để góp phần un đúc ý chí dấn thân trong công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam.

1950-1954: Giai đoạn hình thành

Trong cuộc chiến tranh giữa quân Pháp thực dân với Việt Minh cộng sản (1946-1954), Quốc Hội Pháp thông qua đạo luật vào tháng 5 năm 1950, thành lập quân đội Việt Nam với 60.000 quân, với danh xưng "Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam" trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp Nhưng đến ngày 1 tháng 5 năm 1952, văn kiện thành lập mới chánh thức ban hành do Quốc Trưởng Bảo Ðại ký, và vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh. Thiếu Tướng Hinh, gốc là sĩ quan Không Quân của Pháp chuyển sang. Bản doanh Bộ Tổng Tham Mưu tọa lạc trên đại lộ Trần Hưng Ðạo, thuộc Quận 5 Sài Gòn.

Trước khi thành lập Bộ Tổng Tham Mưu, đã có một số đơn vị được thành lập, tuy là đơn vị Việt Nam nhưng do sĩ quan Pháp chỉ huy. Ðó là:

- Trường Sĩ Quan Việt Nam tại Huế 1948, sau đó chuyển lên Ðà Lạt tiếp nhận Trường Võ Bị Liên Quân Ðặc Biệt của Pháp, và đổi tên là "Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt". Ðầu những năm 1960, trường này cải tổ chương trình huấn luyện với thời gian đào tạo sĩ quan hiện dịch lên đến 4 năm, và đổi tên là 'Trường Võ Bị Quốc Gia'.

- Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức và Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh, văn kiện thành lập từ ngày 24 tháng 12 năm 1950, nhưng đến những tháng cuối năm 1951 mới bắt đầu khai giảng khóa đầu tiên. Nhưng Trường Nam Ðịnh chỉ đào tạo khóa duy nhất rồi đóng cửa.

- Trong năm 1951, các đơn vị đầu tiên và thấp nhất được thành lập, là: Thiết Giáp. Truyền Tin. Quân Vận. Nhẩy Dù. Công Binh. Pháo Binh.

Trong khi trên chiến trường, hoạt động quân sự của Việt Minh cộng sản, với sự yểm trợ tối đa của Trung Hoa cộng sản, làm cho bộ tư lệnh viễn chinh Pháp ngày càng bối rối bởi những trận đánh với cấp bộ đại đoàn, một loại đơn vị chiến thuật trên cấp trung đoàn nhưng dưới cấp sư đoàn. Một căn cứ kiên cố bậc nhất của Pháp tại chiến trường Ðông Dương với gần 13.000 quân trú phòng, được xây dựng trong vùng lòng chảo Ðiện Biên Phủ, gần biên giới Lào. Mục tiêu là nhử các đơn vị lớn của Việt Minh cộng sản đến để Pháp dùng hỏa lực pháo binh và không quân tiêu diệt. Nhưng, sau 3 tháng đánh nhau dữ dội với những tổn thất nặng nề cho cả hai bên, ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân trú phòng Pháp đầu hàng. Sự kiện này đã dẫn đến Hiệp Ðịnh đình chiến ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ, chia Việt Nam thành hai quốc gia: Từ vĩ tuyến 17 trở lên phía bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cai trị, từ vĩ tuyến 17 trở xuống phía nam, là nước Quốc Gia Việt Nam theo chế độ tự do.

Hiệp định đó không có chữ ký của Việt Nam và Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, dưới Quốc Trưởng Bảo Ðại có chánh phủ do Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm lãnh đạo. Biết bao vấn đề khó khăn khi đất nước chỉ còn lại từ vĩ tuyến 17 trở xuống, trong đó công tác định cư cho gần 1 triệu đồng bào miền Bắc chạy nạn cộng sản vào Nam, là một trong những mục tiêu lớn của chánh phủ mới nhận trách nhiệm ngày 7 tháng 7 năm 1954, vỏn vẹn chỉ hai tuần lễ trước đó.

Vào cuối giai đoạn này, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam có:

Lục Quân:

- Bộ Tổng Tham Mưu và các cơ quan phòng sở trực thuộc..
- Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt, đào tạo sĩ quan hiện dịch (chuyên nghiệp).
- Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức.
- Trường Hạ Sĩ Quan tại các Quân Khu.
- Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, đào tạo chiến binh.
- 67 Tiểu Ðoàn Bộ Binh.
- 5 Tiểu Ðoàn Pháo Binh.
- Liên Ðoàn Nhẩy Dù với 5 Tiểu Ðoàn.
- Trung Ðoàn Thiết Giáp.
- 6 Ðại Ðội Truyền Tin.
- 6 Ðại Ðội Công Binh.
- Và 6 Ðại Ðội Quân Vận.

Không Quân:

- 2 Phi Ðoàn Quan Sát Trợ Chiến, trang bị phi cơ Morane.
- Trước cuối năm 1954, nhận thêm 39 phi cơ quan sát và phi cơ vận tải do Mỹ viện trợ ngang qua trung gian của Pháp.

Hải Quân:

- 3 Hải Ðoàn Xung Phong, trang bị loại giang đỉnh LCM và LCVP.
- 3 Liên Ðoàn Tuần Giang.
- Và một lực lượng com-măng-đô. Tuy không thuộc hải quân, nhưng khi chuyển vào Nam thì sáp nhập vào một tổ chức có tên là "Hải Quân Bộ Binh". Binh chủng này là tiền thân của "Thủy Quân Lục Chiến", thành lập tháng 5 năm 1955.

1955-1967, giai đoạn phát triển lần 1.

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, cuộc trưng cầu ý dân với kết quả là Quốc Trưởng Bảo Ðại bị truất phế, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm tuyên bố "Việt Nam là một nước Cộng Hòa", gọi ngắn gọn là "Việt Nam Cộng Hòa" và ông trở thành Tổng Thống từ ngày 26 tháng 10 năm 1955. Từ đó, tiêu đề trên công văn quân sự ghi là "Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa".

Ðể kịp thời chống lại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do họ cài lại hằng chục ngàn đảng viên cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa khi họ chuyển từ nam ra bắc theo Hiệp Ðịnh Ðình Chiến qui định, một kế hoạch tái tổ chức toàn bộ quân đội được thực hiện ngay trong năm 1955. Lúc ấy, tổ chức đơn vị cao nhất chỉ là cấp Tiểu Ðoàn, được tổ chức thành Trung, Sư Ðoàn, và Quân Ðoàn, với dụng cụ chiến tranh do Hoa Kỳ viện trợ.

Ðầu năm 1956, toàn bộ quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam. Bản doanh Bộ Tổng Tham Mưu, từ Quận 5 chuyển đến địa điểm mới gần phi trường Tân Sơn Nhất thuộc Quận Phú Nhuận (tỉnh Gia Ðịnh), trước đó là bản doanh của Bộ Tư Lệnh Viễn Chinh Pháp. Doanh trại này rất khang trang, bề thế, có tên là "Trại Trần Hưng Ðạo", tọa lạc trên đường Võ Tánh nối dài.

Cuộc cải tổ bước đầu hoàn tất, với 4 Sư Ðoàn Dã Chiến và 6 Sư Ðoàn Khinh Chiến. Sự khác biệt giữa hai loại Sư Ðoàn này là vấn đề trang bị. Sư Ðoàn Khinh Chiến với quân số khoảng 6.500 và trang bị nhẹ, trong khi Sư Ðoàn Dã Chiến với quân số khoảng 10.000 và trang bị nặng.

Cuộc cải tổ sang bước thứ hai. 10 Sư Ðoàn đó tổ chức lại thành 7 Sư Ðoàn Bộ Binh. Loại Sư Ðoàn này thống nhất về tổ chức lẫn trang bị, với quân số mỗi Sư Ðoàn khoảng 10.500 quân, có đủ các đơn vị binh chủng yểm trợ trực thuộc: Quân Vận, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Y, Cộng Binh, Truyền Tin, Pháo Binh, Thiết Giáp. Lần lượt thành lập thêm 3 Sư Ðoàn Bộ Binh, và phát triển Lữ Ðoàn Nhẩy Dù với Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến lên cấp Sư Ðoàn.

Trong giai đoạn này, nhiều cuộc đảo chánh quân sự xảy ra đã ảnh hưởng đến nhiệm vụ quân sự của quân đội, và trong một mức độ nào đó, đã ảnh hưởng đến sự phân hóa ở cấp lãnh đạo cao nhất. Tháng 4 năm 1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh (cầm quyền sau cuộc đảo chánh ngày 30/1/1964), đã hệ thống hóa tổ chức quân đội với danh xưng "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa" bao gồm: Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, và Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân.

Do lời kêu gọi của Trung Tướng Nguyễn Khánh, các quốc gia Ðồng Minh gồm Hoa Kỳ, Ðại Hàn (S. Korea), Thái Lan, Australia, New Zealand, Phi Luật Tân, đưa quân đến giúp Việt Nam chống cộng sản. Quân đội đông nhất là Hoa Kỳ với hơn 500.000 quân.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào cuối giai đoạn 1955-1967, như sau:

- Bộ Tổng Tham Mưu với các cơ quan phòng sở trực thuộc.

Lục Quân:

- 4 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn (I, II, III, IV) với các đơn vị yểm trợ trực thuộc. 10 Sư Ðoàn Bộ Binh (1, 2, 5, 5, 9, 18, 21, 22, 23, 25). Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến (tổng trừ bị). Sư Ðoàn Nhẩy Dù (tổng trừ bị). Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù (tổng trừ bị). Lực Lượng Ðặc Biệt. Lực lượng Biệt Ðộng Quân. Nha Kỹ Thuật (đơn vị đặc biệt). 4 Trung Ðoàn Thiết Kỵ (không kể các Thiết Ðoàn trong tổ chức Sư Ðoàn Bộ Binh). 11 Tiểu Ðoàn Pháo Binh 155 ly và 1 Tiểu Ðoàn 155 ly (không kể các Tiểu Ðoàn Pháo Binh trong tổ chức Sư Ðoàn). Tổng Cục Tiếp Vận với 8 ngành chuyên môn Quân Y, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Vận, Quân Tiếp Vụ, Mãi Dịch, Công Binh, Truyền Tin, và 5 Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận địa phương. Tổng Cục Quân Huấn với các quân trường đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan, đào tạo chuyên viên cho các binh chủng binh sở, và các trung tâm huấn luyện đào tạo chiến binh. 44 Tiểu Khu với lực lượng Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân và Pháo Binh diện địa, Quân Y diện địa.

Không Quân:

- Bộ Tư Lệnh Không Quân với các cơ quan trực thuộc. Không Ðoàn 41 tại Ðà Nẳng. Không Ðoàn 62 tại Plei Ku. Không Ðoàn 23 tại Biên Hòa. Không Ðoàn 33 tại Tân Sơn Nhất. Không Ðoàn 74 tại Cần Thơ. Không Ðoàn Tân Trang & Chế Tạo.

Hải Quân:

- Bộ Tư Lệnh Hải Quân với các cơ quan trực thuộc. Lực Lượng Giang Lực và Hải Lực, được trang bị 64 chiến hạn và 303 chiến đỉnh. Các Bộ Tư Lệnh Hải Lực, Giang Lực cấp Vùng. Hải Quân Công Xưởng.

1968-1975, giai đoạn phát triển cao điểm.

Sau cuộc tổng tấn công của quân cộng sản vào hầu hết các tỉnh lỵ trên toàn quốc đầu năm 1968 nhân Tết Nguyên Ðán Mậu Thân, Hoa Kỳ cung cấp một số loại vũ khí mới cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như: Súng trường M16, súng đại liên M60, súng phóng lựu M79, súng chống chiến xa M72, à Lúc ấy gọi là "tối tân hóa quân dụng".

Do thỏa Ước Chấm Dứt Chiến Tranh và Lập Lại Hòa Bình, ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, toàn bộ quân đội Ðồng Minh rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội Hoa Kỳ để lại hầu hết vũ khí giúp quân lực Việt Nam Cộng Hòa gia tăng quân số, khả dĩ lấp vào khoảng trống do quân đội Ðồng Minh rút về nước. Lúc ấy gọi là "Việt Nam Hóa Chiến Tranh".

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào đầu năm 1975, với quân số gần 1.100.000 người trong hệ thống tổ chức như sau:

Cơ quan trung ương.

Bộ Tổng Tham Mưu với đầy đủ các cơ quan, binh chủng, binh sở trong hệ thống quản trị hành chánh, nhân viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị, tiếp vận. Riêng ngành Tiếp Vận có khả năng sửa chữa và tân trang toàn bộ quân dụng chung, do Lục Quân Công Xưởng, các Căn Cứ Quân Nhu, Công Binh, Ðạn Dược, Truyền Tin, Tồn Trữ Sửa Chữa Dù, và các Trung Tâm Bảo Toàn quân dụng trách nhiệm. Quân dụng chung, là những loại quân dụng trang bị cho Lục Quân nhưng Hải Quân và Không Quân có sử dụng.

Về huấn luyện. Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng trực thuộc Bộ Quốc Phòng, đào tạo sĩ quan, tướng lãnh, và viên chức hành chánh, có kiến thức lãnh đạo các ngày sinh hoạt quốc gia. Trong quân đội, một hệ thống trường quân sự, gồm:

- Trường Chỉ Huy Tham Mưu, đào tạo cấp chỉ huy Quân Ðoàn, Sư Ðoàn, Trung Ðoàn, và sĩ quan tham mưu các cấp.

- Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, với chương trình 4 năm, đào tạo sĩ quan hiện dịch có kiến thức căn bản trong các ngành sinh hoạt quốc gia.

- Trường Bộ Binh Thủ Ðức (về sau là Long Thành), đào tạo sĩ quan trừ bị, có kiến thức căn bản bộ binh, và đào tạo chỉ huy cấp Ðại Ðội, cấp Tiểu Ðoàn.

- Trường Hải Quân và Trường Không Quân, đào tạo sĩ quan và chuyên viên cho quân chủng.

- Trường Chỉ Huy Tham Mưu trung cấp Không Quân, đào tạo sĩ quan tham mưu cho quân chủng.

- Trường Ðồng Ðế, đào tạo hạ sĩ quan. Từ năm 1968, trợ giúp Trường Thủ Ðức, đào tạo sĩ quan trừ bị cho nhu cầu phát triển quân đội do lệnh tổng động viên.

- Trường Tiếp Vận, Trường Quân Y, Quân Cụ, Quân Nhu, Quân Vận, Truyền Tin, Công Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp, Biệt Ðộng Quân, Hành Chánh Tài Chánh, đào tạo các sĩ quan chuyên môn cho binh chủng binh sở liên hệ.

- Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, đào tạo chiến binh.

- Các Trung Tâm Huấn Luyện cấp Quân Khu, đào tạo chiến binh, và tái huấn luyện cấp đơn vị.

- Trung Tâm Huấn Luyện Nhẩy Dù, và Trung Tâm Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến (Ðồng Ba Thìn), đào tạo chuyên môn cho binh chung.

Về quản trị.

- Trung Tâm Ðiện Toán Bộ Quốc Phòng, với dàn máy IBM 360/40, quản trị toàn bộ về ngân sách quốc phòng.

- Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên/ Bộ Tổng Tham Mưu, với dàn máy IBM 360/40, quản trị toàn bộ quân nhân.

- Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận/Tổng Cục Tiếp Vận, với dàn máy IBM 360/50, quản trị toàn bộ quân dụng chung.

- Trung Tâm Ðiện Toán Không Quân, quản trị toàn bộ quân dụng của quân chủng, ngoại trừ quân dụng chung.

- Trung Tâm Ðiện Toán Hải Quân, quản trị toàn bộ quân dụng của quân chủng, ngoại trừ quân dụng chung.

Về trang bị tổng quát.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được trang bị:

Hơn 2.000.000 khẩu súng cầm tay.
1.200 xe chạy xích, kể cả chiến xa M48.
Hơn 1.000 khẩu đại bác, từ 105 ly, 155 ly, đến 175 ly nòng dài cơ động.
Hơn 40.000 xe chạy bánh.
1.600 chiến hạm chiến đỉnh.
Hơn 2.000 phi cơ các loại, từ cánh quạt, trực thăng, đến phản lực.

Lục Quân:

- 4 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn và các đơn vị yểm trợ trực thuộc.
- 11 Sư Ðoàn Bộ Binh, kể cả Sư Ðoàn 3 Bộ Binh thành lập tháng 10 năm 1971.
- 1 Sư Ðoàn Nhẩy Dù.
- 1 Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.
- 1 Liên Ðoàn Biệt Cách Dù.
- Hơn 20 Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân.
- 4 Lữ Ðoàn Kỵ Binh Thiết Giáp.
- Lực Lượng Lôi Hổ và Biệt Hải.
- Các đơn vị Pháo Binh (kể cả đại bác 175 nòng dài xe kéo) và Phòng Không.
- Lực lượng Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân chiếm khoảng một nửa quân số.

- Vào những ngày cuối tháng 4/1975, Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân được thành lập gấp rút để phòng thủ Phú Lâm, cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn từ hướng tây nam.

Không Quân, với quân số hơn 60.000, tổ chức tổng quát gồm:

- Bộ Tư Lệnh với các đơn vị yểm trợ trực thuộc.
- 5 Sư Ðoàn tác chiến.
- 1 Sư Ðoàn vận tải.
- 1 Không Ðoàn Tân Trang Chế Tạo.

Chỉ trong năm 1973, tiếp nhận hơn 900 phi cơ, gồm: 560 trực thăng, 230 khu trục, 100 vận tải, và các loại khác. Trong tổ chức 6 Sư đoàn không quân, có số lượng các phi đoàn như sau: 20 phi đoàn khu trục, trang bị khoảng 550 phi cơ. 23 phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1000 phi cơ. 8 phi đoàn quan sát, trang bị khoảng 200 phi cơ. 9 phi đoàn vận tải, trang bị khoảng 150 phi cơ. Và 4 phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC119 nhưng không rõ số lượng. Ngoài ra còn có các Phi Ðoàn đặc biệt.

Hải Quân, với quân số hơn 40.000, và sau khi tiếp nhận 5 Giang Ðoàn của Hải Quân Hoa Kỳ, lực lượng Hải Quân như sau:

- Bộ Tư Lệnh và các đơn vị yểm trợ trực thuộc.
- Giang Lực với 14 Giang Ðoàn, trang bị chiến đỉnh các loại.
- Hải Lực với 1 Hạm Ðội, trang bị tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, trợ chiến hạm, giang pháo hạm, tuần duyên hạm, dương vận hạm, hải vận hạm, và giang vận hạm.
- Liên Ðoàn Người Nhái.
- Hải Quân Công Xưởng.

B. Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng bằng sông rạch Cửu Long, mời quí bạn lần theo dấu chân để đến, và nhận ra Chân Dung Những Người Lính ấy, sau khi có khái niệm về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn diện trong cuộc "tổng công kích" của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972, thường gọi là "Mùa Hè Ðỏ Lửa". Chớ họ không thể hiểu được những chiến thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội, trung đội, của Bộ Binh, của Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân, trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng của "lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu", của "Lực Lượng Ðặc Biệt", của những "Toán Lôi Hổ", của "Liên Ðoàn Biệt Cách Dù", ..v..v.. trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng gọi là "đường Trường Sơn", xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.

Họ cũng không thể hiểu chiều sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Ðánh nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất Mũi (Cà Mau), là "biển cạn" Tháp Mười. Từng góc phố, căn nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.

Nói chung là người ngoại quốc, cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo chính trị, họ không thể nào hiểu được những chiến thuật trên chiến trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật đó của "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", trong khi 500.000 quân Ðồng Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của nó là "chiến tranh tổng thể" trên chiến trường Việt Nam chúng ta, bởi họ không thấu đáo nền văn hóa Việt Nam nên chưa hiểu được Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

Vậy, "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa là ai?"

"Họ", là những nông dân chất phác hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải quanh năm sóng vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những học sinh tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp đại học, là những viên chức cán bộ đam mê đời sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong các ngành nghề tự do. "Họ", theo tiếng gọi quốc gia, tình nguyện vào các trường quân sự. "Họ", tuân lệnh chánh phủ, trình diện các trường quân sự. "Họ", là quân nhân hiện dịch, là quân nhân trừ bị, là quân nhân đồng hóa, là những nữ quân nhân. "Họ", là những chuyên viên, những chiến binh, những hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh. "Họ" có mặt trong các quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân trường. Khi tổ quốc lâm nguy, "Họ" phụng sự tổ quốc, phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương trìu mến là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", những người lính trong một hệ thống tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa: Là Người Lính Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở. Là Người Lính Lực Lượng Ðặc Biệt, Biệt Cách Dù, lặn lội vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù. Là lực lượng Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch. Là Người Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống. Là Người Lính Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh. Là Người Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh vào. Là Người Lính Thủy Quân Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh. Là Người Lính Bộ Binh, Người Lính Biệt Ðộng Quân, đánh địch ngay trên bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Ðánh địch dọc biên giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Ðánh địch trên chót Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười, trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù phú Cửu Long. Ðánh địch để giành lại từng góc phố của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng bờ tường của cổ thành Quảng Trị. "Họ" miệt mài với chiến trận, và mệt nhoài sau chiến trận. "Họ" đã đánh địch đến giây phút cuối cùng! Và "Họ", xứng danh là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa".

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình vĩnh cửu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã để lại một phần thân thể góp phần gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục mạ đọa đày. Là những quân nhân có vầng trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước tuổi. Là những người tù chính trị bị cộng sản lưu đày trong các trại tập trung nghiệt ngã trên khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới lên hoa màu, nhưng "Họ" chỉ được ăn những cọng rau do phân và nước tiểu của "Họ" mà vươn lên. Ðể rồi nhiều người trong số "Họ", đã chết trong đau thương, đói khổ, nhọc nhằn!

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, khi rời đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn lại tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa lạ.

Ðó, là "chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", mà người phương Tây chưa thể nào nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của lịch sử và văn hóa Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta. Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa. Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại sứ thiết lập trên lãnh thổ mỗi quốc gia. Quân của quốc gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ "xâm lăng" ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả. Những ngôn từ mà cộng sản sử dụng để nói đến cuộc chiến này, đều là những dối trá đánh lừa dư luận quốc nội lẫn quốc tế, ngụy trang mục tiêu chiến lược của họ.

"Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", hình thành "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Một quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và từ trong chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh, những anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng cho lịch sử đương đại của tổ quốc, "thành mất chết theo thành". Vì vậy:

''Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ, nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu hùng của dân tộc Việt Nam".

C. Chân Dung Người Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa

Trong cuộc sống, sự thành công hay thất bại nào cũng có cái giá của nó. Trong chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến tích lừng danh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải trả, là những đồng đội đã hi sinh, những đồng đội khác đã để lại một phần thân thể trên khắp miền đất nước, và hệ lụy dài lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha, những người vợ vĩnh viễn xa chồng! Người quân nhân hi sinh vì tổ quốc, là sự hi sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi ghi công. Nhưng, hình ảnh người quả phụ, với một nửa tâm hồn, một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng lên đài tổ quốc ghi công, và những nửa còn lại có trách nhiệm trang bị cho các con một hành trang vào đời, phải được thừa nhận là sự hi sinh không kém phần cao cả như người chồng dũng cảm nơi chiến trường, rất xứng đáng được kính trọng.

Cũng trong chiến tranh, chồng ở chiến trường, vợ ở nhà quán xuyến công việc gia đình mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có những việc chưa kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm sóc các con, chăm sóc tình thân gia đình quyến thuộc, chăm sóc tình bạn bè bằng hữu. Ðể rồi, những giờ phút yên tĩnh về đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ đến chồng nơi chốn xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt, với bao khắc khoải lo âu, sầu muộn!

Rồi chiến tranh chấm dứt trong nỗi nghẹn ngào uất hận, bởi đây là cuộc chiến mà cuối cùng "bị chấm dứt để thua trận"! Sau lời tuyên bố của vị Tổng Thống cuối cùng, hàng trăm ngàn đồng bào, quân nhân, viên chức, cán bộ, bỏ của chạy lấy người, tị nạn trên đất Mỹ. Với những thành phần tương tự như vậy gồm 222.809 người, lũ lượt bị lừa vào 200 trại tù trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15 năm, thậm chí 17 năm ròng rã, do lòng thù hận tột cùng của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia đình di tản ra ngoại quốc, cũng như hằng chục triệu gia đình còn lại trên quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt hẫng vì cuộc sống trên đất người với biết bao xa lạ trong một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu chưa thể hội nhập. Hụt hẫng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào chế độ độc tài trên toàn cõi nước Việt Nam!

Cảnh đời thứ nhất. Trong cuộc đời tị nạn, vợ chồng con cháu có cơ hội bên nhau, cùng chia xẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương trong thân phận lưu vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh ra và trưởng thành trong xã hội nông nghiệp, nay phải cùng chồng từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi định cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng về nhà trong màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi hãng xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt nước lăn trên má là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa tan!

Cảnh đời thứ hai. Trong xã hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận, thì gia đình ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ đau, của nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng! Cái chế độ mà những người lãnh đạo luôn miệng huênh hoang là "dân chủ gấp trăm lần dân chủ tư bản", lại bắt mọi người phải sống trong nỗi sợ hãi triền miên với những đôi mắt rình rập quanh năm suốt tháng!

Cảnh đời thứ ba. Riêng với những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù, còn tệ hơn nhiều so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải đối phó với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu óc toàn đất sét và rác rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp đoạt. Ðồng thời phải chăm lo cuộc sống các con từng ngày, lo nuôi chồng từng tháng!

Và những bà vợ chúng ta, hải ngoại hay trong nước, thật sự là Những Người Ðàn Bà Việt Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua nỗi đau nỗi nhục đó! Ðau đến nỗi không còn nước mắt để khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than! Nếu đem so sánh giữa hai cảnh đời trong nước với ngoài nước, thử hỏi: "Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?" Với tôi, không ai đau hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào cũng có cái đau riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng của nó! Xin những ông chồng diễm phúc, hãy nhìn lại đôi nét về hình ảnh Những Bà Vợ Chúng Ta trong cuộc sống khổ đau thầm lặng đó, mà người viết được những bà vợ trong cuộc kể lại:

- Một cảnh đau thương. Một bà vợ cùng con cầm giấy phép "gánh gạo" nuôi chồng trên đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gỡ! Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với dòng chữ "nhà vắng chủ". Ðau đớn biết bao! Xót xa biết dường nào! Bỗng dưng nhà bị mất! Bà gục đầu vào cửa! Bà cùng gia đình định cư tại Houston, Texas từ tháng 4 năm 1991.

- Một cảnh đau thương khác. Một bà vợ đã bao nhiêu lần bị công an Phường ra lệnh đi khu kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng hành hạ bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo ngồi đó từ đầu giờ đến cuối giờ, ngày nào cũng vậy, và ròng rã 6 tháng như vậy. Một hôm, chúng bảo đưa giấy tờ nhà để giải quyết. Khi chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra lệnh trong vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà. "Ôi! Còn nỗi đau nào cao hơn nỗi đau này trong cảnh đời thua trận!" Bà xiêu vẹo trên đường về nhà cách đó mấy dãy nhà liên kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và gục ngã ngay trước nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng bắc California từ năm 1993, nhưng chồng đã qua đời vào năm 2003.

- Một cảnh đau thương khác nữa. Một bà vợ có chồng bị giam trên đất Bắc hằng chục năm trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn lội khắp các cơ quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt nhọc, nhưng hoàn toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá sức chịu đựng của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc bà cảm thấy như mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần xuống...... Bà bị tai biến mạch máu não, nằm bất động một chỗ. Nhiều tháng sau đó, bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy cho phép bà thăm chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1 cây số (khám Chí Hòa). Bạn bè khiêng bà đến nhà tù. Cả hai "chồng đứng đó vợ liệt toàn thân", chỉ biết nhìn nhau, òa khóc...! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời! Phải chăng, mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao quanh hai con người đau khổ đó? Không. Không chỉ có vậy. Mà là tất cả những bà vợ có chồng bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất nước Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình trạng bại liệt đó theo Bà cùng chồng định cư tại Houston, nhưng rồi Bà đã từ trần năm 2004!

Sài Gòn-Hà Nội 1.736 cây số, xe lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ, tức 3 ngày 3 đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên xe lửa, mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt nhân viên từ cổng vào cho đến nhân viên trên xe lửa. Hành lý ngổn ngang cả trên lối đi giữa toa xe. Ban ngày cũng phải lách từng bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó mà tưởng tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên của hai băng 6 người, máng được 3 cái võng cho 3 người, 1 người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy nhụa giữa 2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng nằm co quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ thấy, băng ngồi đầy người nằm, những chiếc võng bé xíu che kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hỗn độn. Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô, biết bao là nhọc nhằn gian khổ! Giả thử, nếu những ông chồng chứng kiến những hành khách nằm cong queo trong cái gọi là chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy ấp tình thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ của mình, liệu có cầm được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật lại, ông chồng nào cũng đớn đau thương cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh năm gánh gạo nuôi chồng! Nhưng không có đớn đau thương cảm nào có thể đem cân bằng nỗi đớn đau thương cảm của những bà vợ trọn tình vẹn nghĩa như vậy được cả!

Tôi hình dung những bà vợ chúng ta qua hình ảnh trên đây mà chính tôi trông thấy khi tôi ra trại tập trung cùng với 90 "bạn đồng tù", từ Nam Ðịnh về Sài Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng hồ hồi tháng 9 năm 1987.

Trên đây là một cố gắng dựng lại hình ảnh "Những Bà Vợ Chúng Ta", nếu không rõ nét thì ít ra cũng là những nét chính của hình ảnh ấy, qua sự kết nối bốn hợp phần sau đây:

- Hai hợp phần trong chiến tranh, là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những bà vợ mà chồng đang chiến đấu.

- Hai hợp phần sau chiến tranh, là những bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc, và những bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một xã hội đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những trại tập trung nghiệt ngã!

Những cảnh đời bi thương, những khổ đau sầu muộn, những nước mắt, mồ hôi, được khơi lên từ những góc cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn cảnh đời như vậy, mà Những Bà Vợ Chúng Ta đã chịu đựng trong những năm dài thật dài!

Quyển Chân Trời Dâu Bể của Giao Chỉ, kể chuyện trên đất Mỹ, và quyển Giữa Dòng Nghịch Lũ của Duy Năng, kể chuyện trên quê hương Việt Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ nào đó, có thể xem là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày thua trận, dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái đất. Với tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng Phụng Hà. Bà là một trong số hằng trăm ngàn bà vợ thăm nuôi chồng trong tù. Ở phần kết, bà nói:

"... Các anh trong tù, khổ về vật chất và đau về tinh thần đến vạn lần, điều đó chúng tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của các anh- đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh nữa, các anh có biết không? Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà tôi đề cao tất cả những bà vợ thăm nuôi chồng trong các trại tù cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam. Họ, rất xứng đáng được các anh kính trọng. Và Họ, chính là Vợ của các Anh".

Vì vậy mà một số bạn đồng tù chúng tôi trong trại tập trung, đã không quá lời khi nói với nhau rằng: "Ra tù, chúng ta phải cõng vợ chúng ta đi vòng quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức chịu đựng biết bao nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các con và nuôi chúng mình.

Bây giờ nhìn lại, trong một ý nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính trị chúng ta, đã cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Ðến ngày Việt Nam thật sự tự do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về quê hương là trọn vòng trái đất như đã tự hứa, phải không quí vị?

Với nét chân dung đó, tôi quả quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất xứng đáng được vinh danh. Và nếu quí đồng đội và quí vị đồng hương đồng ý với tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng:

"Chúng ta cùng vinh danh Những Bà Vợ Chúng Ta là những người đàn bà cao cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi, trong hoàn cảnh nghiệt ngã của chế độ độc tài cộng sản, nhưng đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam, cùng lúc, chu toàn thiên chức làm Mẹ, và tròn bổn phận làm Con".

Vinh danh bằng những tiếng nói ân tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng thật đẹp, hôn vợ những nụ hôn thật dài. Ðiều đó luôn nhắc nhở người chồng trong cuộc sống thường ngày, phải thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông vợ mình nhiều hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt hơn, để cùng nhau đi suốt chiều dài còn lại trong cuộc sống lứa đôi thật mặn nồng, như chưa bao giờ mặn nồng đến như vậy. Trường hợp vì lý do gì đó mà bạn đang sống một mình, xin bạn hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi nào mà khi nằm nghỉ bạn đều trông thấy, để trao tặng vợ khi đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ giúp bạn có được những giây phút sống lại những năm tháng mặn nồng trong tình yêu vợ chồng thuở chung chăn chung gối, thuở mà hai người dùng chung một tên.

D. Nhận xét của một số độc giả

1. Nhà văn Giao Chỉ, San Jose: Tôi đọc một đêm hết cuốn sách. Lôi cuốn lắm. Anh nhớ khá nhiều chi tiết và viết rất tự chế mà lẽ ra còn phê bình hơn thế nữa.

2. Văn Học Giai Phẩm số Xuân 1995, Nam California: Tác giả là một nhân chứng đáng tin cậy của những biến chuyển hậu trường chính trị miền Nam. Bằng trí nhớ, tác giả kể lại những chuyện tai nghe mắt thấy trong đời quân ngũ của mình, và kể một cách dung dị, chân thành, không đề cao mình cũng không bôi nhọ người khác. Ðây là một chứng liệu tốt cho những người muốn viết sử Việt Nam.

3. Thế Kỷ 21 số Xuân 1995, Nam California: Ðôi Dòng Ghi Nhớ, văn không luộm thuộm như tác giả tự khiêm. Ông nói thẳng vào sự kiện, không rào đón, không kỹ thuật, cũng không trau chuốt lời văn của mình, nhưng đó chính là văn phong của ông mà tôi nghĩ ông có được là nhờ vài chục trong quân đội với những văn thư lời lẽ xuông đuột thẳng tắp như lính so hàng.

4. Ðài phát thanh VOVN/Houston, Texas: Sở dĩ chúng tôi chọn đọc quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ trong chương trình Lật Trang Sử Cũ, vì tác giả không hoạt động chính trị mà ông là một quân nhân nhà nghề, Do đó, chúng tôi hy vọng lời thuật của ông sẽ khách quan hơn những cuốn hồi ký đã phát hành tại hải ngoại.

5. Giai Phẩm Quốc Dân số Xuân 1995, Houston, Texas: Từng giữ nhiều chức vụ chánh văn phòng của nhiều nhân vật cao cấp, tác giả cung cấp khá nhiều chi tiết phía sau sân khấu chính trị miền Nam.

6. Giáo sư Ðàm Quang Hưng, Houston, Texas: Tác giả rất khách quan nên mức độ trung thực đáng được tin cậy. Lời văn nhẹ nhàng như hơi thở. Ông không đề cao mình, cũng không chỉ trích người khác.

7. Luật sư Ngô Hữu Liễn, Houston, Texas: Sự kiện rất thực và lời văn cũng rất thực. Rất cần thiết với các sử gia.

8. Cựu Trung Tá Bùi Công Minh, Washington DC: Tác giả rất khiêm nhường. Lời văn trong sáng và chân thực. Tài liệu lịch sử rất quý.

9. Nhà báo Vương Mai Thảo, Houston, Texas: Tác giả cống hiến rất nhiều dữ kiện cho những nhà viết sử.

10 .Cựu Ðại Tá Huỳnh Thanh Sơn, Pasadena, California: Một cuốn sách sống thật với tài liệu lịch sử mà không ai có được.

11. Cựu Ðại Tá Bùi Văn Mạnh, Frankfurt, Ðức Quốc: Rất hoan nghênh việc làm của anh. Phải nói thẳng như vậy mới thật sự góp phần làm sáng tỏ khả năng, bản lãnh, và trách nhiệm của những nhân vật lãnh đạo đất nước.

12. Nhà báo Phạm Hậu, Seattle, tiểu bang Washington: Xem văn biết người. Anh viết rất thành thật, công bằng, và tâm huyết. Anh là người nhớ được nhiều điều quan trọng và là người nhiệt tình với đất nước. Tôi thích nhất là đoạn so sánh giữa 5 vị Tổng Tham Mưu Trưởng, vì rất khách quan.

13. Nhà báo Yên Mô, San Jose, Bắc California: Tác giả là một trong các sĩ quan đã ở lại làm việc đến giờ phút cuối cùng của tháng 4/1975. Ông có cơ hội làm việc thân cận với các Tướng Lãnh, có khả năng tham mưu và hành chánh, với một trí nhớ rất tốt, và là một sĩ quan tham mưu cao cấp đầy tinh thần trách nhiệm.

14. Ông Nguyễn Năng Thỏa, Virginia. Tuổi trẻ rất cần những cuốn sách như cuốn Ðôi Dòng Ghi Nhớ của ông Phạm Bá Hoa.

15. Kỹ sư Lê Thành Nhân, Austin, Teaxs. Tôi đọc liên tục từ đầu đến cuối một cách thích thú. Anh kể chuyện như thật với lời văn chân thành và tin tưởng. Cuốn sách có tính cách nhật ký nhưng là một sử liệu vô cùng quí giá.

16. Giáo sư Ngô Quốc Tượng, Nam California: Anh kể chuyện với tâm hồn trong sáng, với lời lẽ mộc mạc, càng đọc càng thấy giá trị của cuốn sách.

17. Cựu Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài, Paris, Pháp quốc (con rể của cựu Tổng Thống Dương Văn Minh): Tôi đã xem nhiều cuốn hồi ký xuất bản tại hải ngoại, và tôi vắn tắt với Anh rằng: Anh là người cầm bút liêm sỉ nhất.

18. Nhà văn Ðặng Trần Huân, Nam California: Tác giả Ðôi Dòng Ghi Nhớ khá thành thật. Ông không khoe khoang, không phô trương, khá nhũn nhặn, và dè dặt trong phán xét. Hiếm có một cuốn sách như vậy. Ðây là cuốn sách đáng đọc.

19. Cựu Ðốc sự hành chánh Nguyễn Văn Cường, Oklahoma: Cuốn sách xứng đáng được trân trọng trong mỗi gia đình tị nạn. Tôi mua nhiều cuốn tặng bạn bè sau khi xem bài nhận xét của nhà văn Ðặng Trần Huân.

20. Tiến sĩ Lê Duy Cấn, Ottawa, Canada: Tác phẩm Ðôi Dòng Ghi Nhớ đã đóng góp đáng kể vào việc làm sáng tỏ một cách trung thực trong một giai đoạn lịch sử đầy biến cố của nước nhà.

21. Bác sĩ Tôn Thất Sơn, Na Uy: Ðọc xong bài hồi ký Rút Quân Trên Ðường Số 7, tim tôi muốn chảy máu, mắt tôi mờ đi với chút nước mắt còn sót lại . . .

22. Nhà văn Diệu Tần, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, San Jose: Ðây là chiến sử và là sử liệu quí giá. Cám ơn Anh.

23. Bác Sĩ Nguyễn Phước Bảo Quý, Australia: Tài liệu có tính cách lịch sử mà tuổi trẻ rất cần.

24. Dược sĩ Hồ Duy Thiện (không rõ ở đâu) Tôi đọc say sưa và đã đọc lại nhiều để thấu hiểu một số dữ kiện. Ðây là tập tài liệu vô cùng quí giá cho những lớp người đi sau như chúng tôi. Khác với lời lẽ rất khiêm nhường, tôi tin rằng tài liệu này còn quí giá hơn những sử liệu hay sách vở xuất bản từ sau ngày 1/11/1963.

E. Ðôi nét về tác giả

Phạm Bá Hoa, sinh năm 1930 tại làng Ðại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày 12 tháng 5 năm 1954 vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, thuộc tài nguyên sĩ quan trừ bị khóa 5. Vì không đủ cơ sở, được gởi lên học Trường Võ Bị Liên Quân/Ðà Lạt. Trở về Thủ Ðức dự lễ tốt nghiệp khóa Vì Dân cuối tháng 1 năm 1955, với cấp bậc Thiếu Úy.

Lần lượt giữ các chức vụ:

- Trung Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn Khinh Quân 510.
- Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn Khinh Quân 510.
- Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 35, Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến.
- Trưởng Ban 3 Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 35, Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến.
- Trưởng Ban Hành Quân, rồi Phó Phòng 3/Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
- Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
- Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu.
- Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
- Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng.
- Chánh Văn Phòng Tổng Tư Lệnh.
- Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
- Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh (Cần Thơ).
- Chánh Sở Kế Hoạch/Tổng Cục Tiếp Vận.
- Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận.
- Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
- Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Thăng cấp: - Trung Úy, tháng 2 năm 1957.
- Ðại Úy, tháng 11 năm 1961.
- Thiếu Tá, tháng 11 năm 1963.
- Trung Tá, tháng 12 năm 1965.
- Ðại Tá, tháng 9 năm 1969.
Theo học: - Khóa Ðại Ðội Trưởng tại chi nhánh Trường Vờ Bị Liên Quân/Ðà Lạt 1956.
- Khóa Tham Mưu tại Trường Ðại Học Quân Sự/Sài Gòn 1960.
- Khóa Chỉ Huy&Tham Mưu Cao Cấp tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp/Ðà Lạt 1970.
Tham dự các khóa hội thảo: - Tiếp Vận khu vực Miền Tây Thái Bình Dương 1970 tại Okinawa.
- Quản Trị Ngân Sách Quốc Phòng 1971 tại Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng.
- Phát Triển Quốc Gia 1973 tại Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng, Sài Gòn.
Công du: Nhật Bản, Ðại Hàn, Thái Lan, Ðài Loan, Okinawa, và Singapore. Tù chính trị: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tù chính trị từ ngày 14 tháng 6 năm 1975 đến ngày 12 tháng 9 năm 1987, trong các trại tù Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, và Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh.   Sinh hoạt Cộng Ðồng: - Tham gia Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức tại Houston từ năm 1995 đến năm 2000.

- Tham gia Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức Hải Ngoại: Nhiệm kỳ 1 (2000-2002) họp tại Houston, Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ 2 (2002-2004) họp tại Toronto, Canada. Nhiệm kỳ 3 (2004-2006) họp tại Brisbane, Australia. Và nhiệm kỳ 4 (2006-2008) họp tại San Jose, Hoa Kỳ.

- Tham gia hội đồng hương Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Ðéc, nhiệm kỳ 2006-2008 tại Houston, Hoa Kỳ.

- Thực hiện chương trình thời sự "Những Vấn Ðề Hôm Nay" trên làn sóng đài TNT/Houston từ tháng 9 năm 2001 đến đầu năm 2006. Vừa là tác giả vừa diễn đọc 349 bài với nội dung góp phần hỗ trợ công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam. Nhiều bài trong số đó có mặt trên vài diễn đàn và trên nhiều tạp chí tại hải ngoại.

Tác phẩm: - "Ðôi Dòng Ghi Nhớ", hồi ký chính trị Việt Nam Cộng Hòa 1963-1975. Ấn bản lần 1 năm 1994, ấn bản lần hai năm 1995, ấn bản lần 3 năm 1998, và ấn bản lần 4 năm 2007.

- "Ký Sự Trong Tù", chuyện kể trong các trại tập trung Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh, từ 14/6/1975 đến 12/9/1987, và trong thời gian ở Sài Gòn chờ xuất ngoại. Ấn bản đầu tiên năm 2007.

- Ðã diễn đọc quyển "Ðôi Dòng Ghi Nhớ" (thu vào 13 Audio CDs), quyển "Ký Sự Trong Tù" và những năm sau đó (thu vào 21 Audio CDs), trên làn sóng đài TNT/Houston trong năm 2005, 2006, 2007.

Tình trạng gia đình đến năm 2007: Vợ và năm con (4 trai 1 gái) với chín cháu Nội Ngoại (5 gái 4 trai). Ðầu năm 2008, hôn lễ được 50 năm./.

- Tác giả giữ bản quyền. Mọi trích dịch hoặc chuyển ngữ cần được tác giả đồng ý bằng văn bản.

- Ấn bản lần 1 tại Houston tháng 11 năm 1994.
  Lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số TX 4-045-945.
  Số ISBN: 0-9648940-1-7.
  Lưu trữ trong tại Thư Viện Điện Tử, trong CD Giao Điểm 2.

- Ấn bản lần 2 tại Houston tháng 11 năm 1995.
  Lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số TX 4-052-093.
  Số ISBN: 0-9648940-0-9.

- Ấn bản lần 3 tại Houston tháng 12 năm 1998.
  Số ISBN: 0-9648940-2-5.

- Ấn bản lần 4 tại …….. tháng …năm 2007….

- Copyright (c) 1994,1995, 1998, and 2007, by Hoa Ba Pham. All rights reserved. No part of this publication may be translated into different languages, reproduced, stored in a retrieval system in any form or by any means, electronìcs, mechanical, photocopying, recording, or otherwise, without the prior written permission of the publisher.
- Printed in the United States of America.
- Publication data:
 Set in 11 point, VPS Times by Trung Pham.
 VISCII Standard, Pager Maker.
- First printing, November 1994.
  Library of Congress Registration No: TX 4-045-945. And ISBN: 0-9468940-1-7.
  Electronics Library: giao Diem 2. 
- Second printing, November 1995.
  Library of Congress Registration No: TX 4-052-093. And ISBN: 0-9648940-0-9.
- Third printing, December 1998.
  ISBN: 0-9648940-2-5.
- Fourth printing, ……. 2007.

Ngày Nay xuất bản năm 1994, 1995, 1998.
Published by Ngay Nay.
Published by ………… 2007.

Đầu trang