|
- một -
Ðảo Chánh ngày 1
tháng 11 năm 1963
*****
Ngày 8 tháng 5 năm 1963, Phật tử
thành phố Huế biểu tình trước đài phát thanh đòi được
treo cờ Phật Giáo trong ngày Phật Ðản, đã bị đàn áp bằng
bạo lực gây thiệt hại nhân mạng, nhưng hành động bạo
lực này có dư luận nghi vấn là không do chánh quyền địa
phương thực hiện.
Vài ngày sau đó, Thượng Tọa Thích
Tịnh Khiết, vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo đã gởi
bản Tuyên Ngôn lên chánh phủ, trong đó, Phật Giáo đòi được
hưởng chế độ ngang hàng với Thiên Chúa Giáo. Chánh phủ
đã bắt giam nhiều chức sắc lãnh đạo của Phật Giáo tại
nhiều nơi, nhất là tại Huế.
Trung tuần tháng 6 năm 1963, Thượng
Tọa Thích Quảng Ðức, trụ trì một ngôi chùa nhỏ vùng Phú
Nhuận, Sài Gòn, đã tự thiêu tại góc đường Lê Văn Duyệt
và Phan Ðình Phùng, trung tâm thủ đô Sài Gòn, trước các
ống kính của rất nhiều nhà báo Việt Nam và ngoại quốc.
Rồi sau đó, lần lượt thêm bảy tám vụ tự thiêu nữa tại
các tỉnh. Không khí chính trị sôi sục với những cuộc mít
tinh biểu tình của đông đảo sinh viên học sinh, đồng bào
-nhất là đồng bào Phật tử- lác đác có cả quân nhân viên
chức và cảnh sát nữa. Nhiều phóng viên báo chí truyền thanh
truyền hình ngoại quốc -nhất là Hoa Kỳ- đến Việt Nam ghi
nhận và đánh giá tình hình.
Thiết quân luật.
Trước khi hết giờ làm việc chiều
ngày 20 tháng 8 năm 1963, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham
Mưu Trưởng Liên Quân, gọi tôi vào văn phòng:
"Tối nay, chú với mấy chú văn
phòng làm việc tại đây. Chú cho mấy chú luân phiên về dùng
cơm rồi trở lại ngay. Chú cần hỏi gì thêm không?"
"Có cần ngủ lại đây không, thưa
Thiếu Tướng?"
"Có thể không cần. Sẽ có lệnh
sau"
Ðây là lần đầu tiên kể từ
khi cầm quyền ngày 7 tháng 7 năm 1954, Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm ra lệnh Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh thiết quân luật
trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn để Cảnh Sát cùng mật vụ
bao vây các chùa, tìm bắt Thượng Tọa Thích Trí Quang, vị
sư được xem là lãnh đạo Phật Giáo. Nhưng Thượng Tọa
Trí Quang đã vượt rào vào khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ
và được phép tạm trú nơi đây.
Thế là, từ đòi hỏi trong bản
Tuyên Ngôn không được giải quyết, đến các vụ tự thiêu
để phản đối chánh phủ, rồi đến vụ nhà cầm quyền
vây bắt hụt Thượng Tọa Thích Trí Quang, dần dần đẩy
Phật Giáo đến cuộc tranh đấu vừa ôn hòa vừa bạo động
tại hầu hết các tỉnh miền Trung và một số tỉnh miền
Nam, đã làm cho tình hình chung của Việt Nam Cộng Hòa trở
nên tệ hại hơn hết, kể từ sau Hiệp Ðịnh Ðình Chiến
Genève tháng 7 năm 1954.
Ðó là phản ứng quyết liệt của
giáo hội Phật Giáo và nhiều Phật tử trên toàn quốc.
Với một tình hình như vậy, đã
làm cho hầu hết các nước trong khối Tự Do, kể cả Hoa Kỳ
là quốc gia ủng hộ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm mạnh mẽ
nhất, đều phản đối chính sách tôn giáo trong hành động
đàn áp bắt giữ các chức sắc Phật Giáo và Phật tử Việt
Nam. Trước dư luận quốc nội lẫn quốc tế, Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm khó mà biện minh chính sách kỳ thị tôn giáo,
cho dù lệnh cấm treo cờ Phật Giáo cũng như lệnh dùng bạo
lực trực tiếp hay không trực tiếp do Tổng Thống ban hành
cũng vậy. Vì thuở ấy, quyền lực rất lớn trong tay hai em
của Tổng Thống là ông Ngô Ðình Nhu "Cố Vấn Chính Trị",
và ông Ngô Ðình Cẩn "Cố Vấn Chỉ Ðạo Miền Trung".
Ông Ngô Ðình Diệm, được Quốc
Trưởng Bảo Ðại mời về Việt Nam vào giữa năm 1954 và
nhận chức Thủ Tướng ngày 7 tháng 7 năm 1954. Thật ra, từ
trong hậu trường chính trị, ông Ngô Ðình Diệm đã được
Hoa Kỳ ủng hộ.
Ông Bảo Ðại là vị vua cuối cùng
của nhà Nguyễn, đã bị Việt Minh cộng sản cưỡng bách
thoái vị từ mùa thu năm 1945. Ðến năm 1949, chánh phủ Pháp
đưa về Việt Nam (từ Pháp) nhận chức Quốc Trưởng do Pháp
đề cử dù là có những cuộc hội họp của các nhà chính
trị Việt Nam như là sự vận động với Pháp, để giúp cho
cuộc chiến tranh xâm lược lần hai của thực dân Pháp, khả
dĩ có màu sắc cuộc chiến tranh nội bộ của Việt Nam, mà
nước Pháp có mặt để "giúp đỡ"(!) Việt Nam chống cộng
sản. Với chức vụ cao nhất nước cho dù bị giới hạn quyền
hành, nhưng ông đã không tận dụng thực dân Pháp để vừa
xây dựng quốc gia non trẻ vừa chống lại chủ nghĩa cộng
sản đang bắt rễ tại Việt Nam, mà ông lại sống trên đất
Pháp nhiều thời gian hơn là có mặt trên quê hương Việt
Nam đầy sóng gió!
Trong khi đó, Thủ Tướng Ngô Ðình
Diệm với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, ông bắt đầu có những
chống đối Quốc Trưởng, điển hình là Thủ Tướng không
sang Pháp (!) trình diện Quốc Trưởng. Thủ Tướng Ngô Ðình
Diệm xúc tiến tổ chức cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 23
tháng 10 năm 1955. Kết quả, cựu hoàng Bảo Ðại bị truất
phế khỏi chức Quốc Trưởng, và Thủ Tướng Diệm trở thành
vị Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam từ ngày 26 tháng
10 năm 1955. Từ đó, ngày này được chọn làm ngày Quốc Khánh
hằng năm. Tiếp sau, Tổng Thống Diệm công bố: "Việt Nam
là một nước Cộng Hòa", và danh xưng của Việt Nam là "Việt
Nam Cộng Hòa".
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong
những năm đầu cầm quyền, với sự ủng hộ mạnh mẽ của
Hoa Kỳ, đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận
và thiết lập bang giao. Ông đã ổn định được cuộc sống
cho non một triệu người từ miền Bắc chạy trốn chế độ
cộng sản trước khi chúng tiến vào các thành phố trên đất
Bắc theo Hiệp Ðịnh đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm
1954. Hiệp Ðịnh này chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17 mà
trên địa thế là sông Bến Hải với cầu Hiền Lương. Từ
vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa theo chế độ độc tài do đảng cộng sản Việt Nam cai
trị. Từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là nước Việt Nam Cộng
Hòa theo chế độ dân chủ tự do. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm
cũng đã cải thiện được tình hình kinh tế xã hội trong
mức độ khả quan.
Về quân sự. Theo sự cố
vấn của phái bộ quân sự Hoa Kỳ, quân đội đã được
tổ chức lại và phát triển từ cấp Tiểu Ðoàn lên cấp
Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, Quân Ðoàn, trên căn bản quân đội trong
chiến tranh qui ước. Mọi dụng cụ chiến tranh trang bị cho
quân đội, đều do Hoa Kỳ cung cấp.
Về chính trị. Ông đã thành
công đáng kể trong nỗ lực ôn hòa lẫn sử dụng võ lực
trong mục đích đem lực lượng võ trang của Bình Xuyên, của
Hòa Hảo, và Cao Ðài về hợp tác hoặc giải thể. Lực lượng
võ trang Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Ðài, là hai lực lượng
chống cộng sản quyết liệt.
Ðó là sự thành công bước đầu
không ai phủ nhận được. Nhưng, dần đần về sau, chế độ
dưới quyền Tổng Thống, trong một mức độ nào đó, đã
thể hiện tính cách "gia đình trị", bởi vì ngoài Tổng Thống
ra, còn có:
- Thứ nhất, em trai Ngô Ðình Nhu
trong chức vụ Cố Vấn Chính Trị, và vợ ông Nhu là bà Trần
Lệ Xuân, rất nhiều quyền lực trong tay, một phần có thể
là Tổng Thống Diệm vẫn còn độc thân nên vị trí của
bà trong một mức độ nào đó, như đệ nhất phu nhân.
- Thứ nhì, em trai Ngô Ðình Cẩn
trong chức vụ không hề có trong tổ chức quốc gia là Cố
Vấn Chỉ Ðạo Miền Trung, ông sống độc thân. Là người
không có văn bản bổ nhiệm nhưng lại có toàn quyền đối
với các tỉnh duyên hải miền Trung, đặc biệt là các tỉnh
Quảng Trị, Thừa Thiên/Huế, Quảng Nam Ðà Nẳng, Quảng Tín,
và Quảng Ngãi. Quyền lực của ông có thể ví bằng "vị
sứ quân" của 5 tỉnh này.
- Thứ ba, anh trai Ngô Ðình Thục,
Giám Mục địa phận Vĩnh Long, và từ năm 1960 là Tổng Giám
Mục Tổng Giáo Phận Huế. Tuy là chức sắc lãnh đạo trong
tôn giáo, nhưng tiếng nói của ông ảnh hưởng rất lớn đối
với công việc chánh quyền mà các em của ông nắm giữ.
-Thứ tư, em trai Ngô Ðình Luyện,
Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Anh quốc, được xem là người
ít dính dáng đến những tệ hại mà các anh của ông gây
ra trên quê hương Việt Nam.
Khi viết lại đoạn trên đây tôi
vẫn hiểu rằng, anh em thân thuộc với Tổng Thống, (hay Thủ
Tướng, Bộ Trưởng, Tướng Lãnh, ..v..v.. ), tự đó không
phải là cái tội, vì vị lãnh đạo không bổ nhiệm người
này cũng phải bổ nhiệm người khác. Chỉ khi nào, người
thân thuộc đó lợi dụng quyền lực người thân đã bổ
nhiệm mình mà ngang nhiên hành động vi phạm luật pháp, lúc
đó là có tội. Khi tội trạng phơi bày, người đó có bị
luật pháp trừng phạt như bất cứ người công dân nào khác
hay không, là vấn đề cần được đánh giá đúng mức.
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và hai
em của ông là Ngô Ðình Nhu và Ngô Ðình Cẩn, đã lần lượt
loại trừ một số nhà chính trị đối lập qua những hành
động trong khuôn khổ luật pháp lẫn ngoài luật pháp.
Rồi đến những lời lẽ cứng
rắn của bà Trần Lệ Xuân -em dâu ông- tại các diễn đàn
quốc tế cũng như quốc nội, đặc biệt là trong thời gian
xảy ra cuộc đàn áp Phật Giáo nhiều nơi trên toàn quốc.
Bà đã nhiều lần chỉ trích công khai với vẻ miệt thị
và tàn nhẫn về những vụ tự thiêu của các nhà sư phản
đối chánh quyền.
Những sự kiện đó đã đưa người
dân từ ủng hộ chánh phủ lúc đầu, dần dần trở nên bất
mãn, đến mức căm thù chế độ mà Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm là người trách nhiệm chính.
Vậy, sự kiện đàn áp Phật Giáo
ngày 8 tháng 5 năm 1963 và những hành động tệ hại tiếp
theo, là nguyên nhân quốc nội dẫn đến cuộc đảo chánh
ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tôi nói "nguyên nhân quốc nội", vì
theo tôi, còn có "nguyên nhân quốc tế" nữa.
Ðảo chánh.
Ngày 01 tháng 11 năm 1963, ngày lễ
"Các Thánh" (All Saints), quân đội được nghỉ buổi sáng.
Khoảng 7 giờ sáng, chuông điện thoại nhà tôi reo:
"Ðại Úy Hoa tôi nghe".
"Chú đến nhà tôi ngay".
"Vâng. Tôi đến ngay, thưa Thiếu
Tướng".
Ðó là Thiếu Tướng Trần Thiện
Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Quân Ðội Việt Nam Cộng
Hòa. Nhà tôi và nhà ông cùng ở trong khuôn viên trại Trần
Hưng Ðạo -tức Bộ Tổng Tham Mưu- cách nhau khoảng vài trăm
thước. Ông ở khu nhà lầu, tôi ở khu nhà trệt.
"Chào Thiếu Tướng".
"Chú lấy ghế ra sân với tôi".
Hoàn toàn khác lạ với mỗi lần
tôi đến nhận lệnh, nên tôi nghĩ ngay đến một vấn đề
gì đó phải là quan trọng lắm, bởi thường khi chỉ ngồi
trong nhà. Thiếu Tướng Khiêm và tôi cùng ngồi ở góc sân
sát hàng rào:
"Chú nghe đây. Lệnh mà tôi sắp
cho chú là lệnh tối mật, nếu chú tiết lộ thì chú bị
đứt đầu trước tôi. Chú không được nói với bất cứ
ai, kể cả vợ chú và chú Có. Chú nghe rõ chưa?"
"Tôi nghe rõ, thưa Thiếu Tướng".
Chú Có mà Thiếu Tướng Khiêm vừa
nói là Trung Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Thiếu
Tướng Khiêm từ năm 1960. (Trung Úy Có nói ở đây, trùng họ
tên lẫn chữ lót với Ðại Tá Nguyễn Hữu Có lúc ấy. Năm
1975, Trung Úy Có là Ðại Tá, Phụ Tá Võ Phòng/Phủ Thủ Tướng).
"Hôm nay, tôi và một số vị Tướng
Lãnh đảo chánh ông Diệm. Và những việc sau đây chú phải
làm xong trong buổi sáng. Thứ nhất, đây là danh sách mời
dùng cơm trưa tại câu lạc bộ (Bộ Tổng Tham Mưu). Thức
ăn do chú sắp xếp. Nhớ, các vị được mời phải có mặt
tại câu lạc bộ đúng 12 giờ hoặc trước đó chút ít. Thứ
nhì, đây là danh sách mời họp tại phòng họp số 1 (tầng
trệt trong tòa nhà chánh). Yêu cầu các vị này có mặt tại
phòng họp chậm nhất là trước 1 giờ trưa. Ðúng 1 giờ,
chú cho lệnh Quân Cảnh khóa cửa lại và không ai được ra
vào bất cứ vì lý do gì khi chưa có lệnh tôi. Cả hai danh
sách này, nếu chú không liên lạc được với bất cứ ai
hoặc có gì trở ngại thì chú trình ngay cho tôi. Ðến đây
chú rõ chưa?"
"Vâng. Tôi rõ, thưa Thiếu Tướng".
"Và thứ ba. Chú tổ chức an ninh
chu đáo khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu, bằng cách sử dụng
Ðại đội 1 Quân Cảnh (của Tổng Tham Mưu) và các thành phần
an ninh của Tổng Hành Dinh (Tổng Tham Mưu). Tất cả các cổng
đóng lại, tuyệt đối không được mở, riêng cổng số 1
-tức cổng chánh- bất cứ ai ra hay vào đều phải trình tôi.
Lệnh của tôi xong, chú có gì cần hỏi không?"
"Thưa Thiếu Tướng, lý do mời họp
tôi phải nói thế nào để không bị ngờ vực?"
"Tùy chú. Nhớ, chỉ một chút sơ
hở là chú đứt đầu đó. Thôi, chú vào văn phòng làm việc
đi".
Khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo
có các cổng số 1 hướng ra giao lộ Vờ Tánh và đường Cách
Mạng, cổng số 2 và số 5 hướng ra đường Võ Tánh, cổng
số 10 hướng ra đường Cách Mạng, cổng số 3 và số 4 hướng
ra đường Võ Di Nguy.
Ðảo chánh.
Ðến lúc ấy thì đây là lần thứ
hai tôi nghe thấy trong đời binh nghiệp. Lần thứ nhất, xảy
ra vào nửa đêm về sáng ngày 11 tháng 11 năm 1960, lúc đó
tôi đang học tham mưu tại Trường Ðại Học Quân Sự, tọa
lạc trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu. Nhóm lãnh đạo cuộc
đảo chánh thất bại vì không được sự ủng hộ của các
vị Tư Lệnh đại đơn vị. Ðại Tá Trần Thiện Khiêm, Quyền
Tư lệnh Quân Khu 5 kiêm Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, đưa
quân từ Sa Ðéc và lực lượng Sư Ðoàn 7 Bộ Binh từ Mỹ
Tho, về đẩy lui lực lượng đảo chánh. Ðại Tá Nguyễn
Chánh Thi -Tư Lệnh Nhẩy Dù- và các sĩ quan trong thành phần
lãnh đạo đảo chánh, đã dùng phi cơ vận tải quân sự C.47
bay sang Nam Vang -thủ đô Cam Bốt- xin tị nạn chính trị.
Và lần đảo chánh này, dù muốn
hay không muốn, tôi cũng phải can dự vào cho dù là can dự
như một sĩ quan thừa hành tin cậy. Lệnh tối mật mà tôi
vừa nhận quả là bất ngờ và phải thi hành trong thời gian
cấp bách, với lại dù diễn đạt như thế nào đi nữa thì
tôi cũng là người chịu ơn Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm,
cho nên tôi không hề nghĩ cũng như không kịp nghĩ đến điều
sắp thi hành là sai hay đúng, và nên hay không nên làm. Bởi
Thiếu Tướng Khiêm không hề biết tôi, ngược lại tôi cũng
chưa một lần phục vụ dưới quyền ông, cho đến khi ông
về nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tại Bến Kéo
tỉnh Tây Ninh vào đầu tháng 2 năm 1960, thay thế Trung Tá Trần
Thanh Chiêu bị cách chức sau vụ Trung Ðoàn 32 Bộ Binh bị
quân cộng sản đột kích lúc 3 giờ sáng ngày 29 tháng 1 năm
1960 tại Trảng Sụp, cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 6 cây số
về phía bắc, gây tổn thất nặng nề về vũ khí với một
số tổn thất nhân mạng. Lúc đó, tôi đang là Trung Úy, trưởng
ban hành quân/Phòng 3 Sư Ðoàn.
Vài tháng sau đó, Sư Ðoàn được
lệnh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chuyển xuống Quân Khu 5,
hoạt động an ninh vùng Ðồng Tháp Mười. Bộ Tư Lệnh Sư
Ðoàn trở lại nơi đồn trú cũ là quận lỵ Sa Ðéc. Ðến
giữa năm 1960, Ðại Tá Khiêm được Tổng Thống cử giữ
chức Quyền Tư Lệnh Quân Khu 5 tại Cần Thơ kiêm Tư Lệnh
Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tại Sa Ðéc, thay Ðại Tá Nguyễn Văn Y
chuyển về trung ương. Tháng 4 năm 1961, lãnh thổ quân sự
được tổ chức lại thành 3 Vùng Chiến Thuật do 3 Quân Ðoàn
trách nhiệm:
"Quân Ðoàn I/Vùng I Chiến Thuật
tại Ðà Nẳng, bao gồm 5 tỉnh cực bắc duyên hải. Quân Ðoàn
II/Vùng II Chiến Thuật tại Plei ku, bao gồm các tỉnh Cao Nguyên
và các tỉnh duyên hải phía nam. Quân Ðoàn III lâm thời/Vùng
III Chiến Thuật tại Sài Gòn, bao gồm các tỉnh vùng đất
chuyển tiếp miền nam và trọn vùng đồng bằng Cửu Long".
Những tháng cuối năm 1961, tôi được
thăng cấp Ðại Úy và được cử giữ chức Chánh văn phòng
Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh mà vị Tư Lệnh là Ðại Tá Trần
Thiện Khiêm. Sư Ðoàn đã chuyển sang đồn trú tại Cần Thơ
và trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, cũng gọi là Khu Chiến
Thuật Hậu Giang. Ngày 6 tháng 12 năm 1962, Ðại Tá Trần Thiện
Khiêm thăng cấp Thiếu Tướng, đồng thời được cử giữ
chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu, thay Thiếu
Tướng Nguyễn Khánh lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn
II/Vùng II Chiến Thuật. Chức vụ "Tham Mưu Trưởng Liên Quân"
là chức vụ mới thành lập, trước đó chỉ là Tham Mưu Trưởng/Bộ
Tổng Tham Mưu. Ngày 17 tháng 12 năm 1962, tôi thuyên chuyển theo
Thiếu Tướng Khiêm về Bộ Tổng Tham Mưu, và từ ngày đó,
tôi giữ chức Chánh văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Vì
vậy mà tôi thi hành nhiệm vụ tối mật này một cách tích
cực.
Trở lại việc thi hành lệnh của
Thiếu Tướng Khiêm. Ðầu tiên, tôi gọi Trung Úy Nguyễn Hữu
Có và các nhân viên vào văn phòng. Trung Úy Có có trách nhiệm
liên lạc với quản lý câu lạc bộ lo bữa ăn trưa. Tiếp
đó là điện thoại đến Ðại Ðội 1 Quân Cảnh (trong khuôn
viên Bộ Tổng Tham Mưu):
"Tôi, Ðại Úy Hoa đây. Anh cho tôi
nói chuyện với Trung Úy Phụng, Ðại Ðội Trưởng (Nguyễn
Thúc Phụng)".
"Vâng. Ðại Úy chờ một chút".
Hạ sĩ quan trực trả lời.
"Chào Ðại Úy, tôi Phụng đây.
Ðại Úy đang ở đâu đó?"
"Chào anh. Tôi đang ở văn phòng.
Anh Phụng à, trong vòng 3 tiếng đồng hồ tới đây, anh có
thể tập trung tất cả anh em hay ít nhất cũng là tối đa
quân số của Ðại Ðội được không?"
"Dạ được".
"Vì vấn đề an ninh trong trại Trần
Hưng Ðạo hôm nay, anh phải cố gắng hết sức nghe anh. Khi
tập họp xong hoặc chậm lắm là 10 giờ 30, anh điện thoại
lại tôi để nhận lệnh chi tiết. Anh có gì cần hỏi thêm
không?"
" Có chuyện gì vậy Ðại Úy?"
"Lệnh của Thiếu Tướng như vậy
chớ tôi không biết gì hơn anh đâu. Thôi nghe. Anh lo phần
anh, tôi còn vài việc khác nữa. Chào anh".
Tôi mời Thiếu Tá Nguyễn Văn Luông,
Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đến văn phòng. Thiếu
Tá Luông, năm 1958 là Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 35 Bộ Binh/Sư
Ðoàn 12 Khinh Chiến, đồn trú tại Kon Tum. Lúc đó, tôi là
Trung Úy, trưởng ban 3 kiêm trưởng ban 5 Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn
này. Thì ra Thiếu Tá Luông đã nhận lệnh của Thiếu Tướng
Khiêm rồi, nhưng tôi vẫn nói thêm chi tiết về an ninh:
"Thưa Thiếu Tá, với Ðại Ðội
1 Quân Cảnh, tôi đã điện thoại cho Trung Úy Phụng rồi.
Xin Thiếu Tá đúng 1 giờ trưa, đóng tất cả các cổng lại
và đưa lực lượng bảo vệ đến bố trí ngay lúc đó. Cổng
số 2, 3, 4, 5, và 10, tuyệt đối không mở cho đến khi có
lệnh. Riêng cổng số 1, lệnh của Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng
là bất cứ giới chức nào muốn ra hay vào, xin Thiếu Tá hoặc
trưởng toán Quân Cảnh điện thoại vào tôi và chờ tôi trình
Thiếu Tướng".
"Vấn đề an ninh tòa nhà chánh,
anh lo hay tôi lo?"
"Thưa Thiếu Tá, tôi phụ trách.
Ðể cho rõ ràng, an ninh trong phạm vi trại Trần Hưng Ðạo
thì Thiếu Tá trách nhiệm, riêng phạm vi tòa nhà chánh tôi
lo. Về lực lượng, xin Thiếu Tá cho tôi 2 chiếc Thiết Giáp
AM/M8 lên tăng cường cho tôi cùng với 2 tổ đại liên đặt
trên nóc tòa nhà chánh. Xin nhắc lại, tất cả mọi việc
chỉ được thực hiện ngay trước lúc 1 giờ trưa. Xin Thiếu
Tá vui lòng chỉnh lại đồng hồ để có giờ thống nhất.
Thiếu Tá còn cần gì không?"
"Ðể tôi về lo ngay cho kịp. Chào
anh nghe".
"Chào Thiếu Tá".
Lần lượt tôi điện thoại các
vị trong danh sách 1, tức là danh sách mời dùng cơm nhưng thật
ra là quí vị trong nhóm đảo chánh, mà hầu hết các vị này
đều biết trước. Kế tiếp, tôi mời các vị trong danh sách
2, tức danh sách mời họp nhưng thật ra sẽ bị giữ để
cách ly với cuộc đảo chánh. Vì trục trặc với hai vị trong
danh sách 2, tôi điện thoại đến Thiếu Tướng Khiêm:
"Trình Thiếu Tướng, tôi Hoa đây.
Tôi đã điện thoại xong, nhưng có trở ngại là không liên
lạc được với Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền -Tư Lệnh Không
Quân- và Ðại Tá Hồ Tấn Quyền -Tư Lệnh Hải Quân- Theo
người nhà của hai vị ấy cho biết, thì Ðại Tá Hiền đang
trên không trình Sài Gòn-Ðà Lạt, tôi có dặn người nhà
trên đó khi Ðại Tá Hiền đến nơi thì điện thoại về
tôi gấp. Còn Ðại Tá Quyền thì người nhà nói có lẽ đã
đi lễ nhà thờ, nhưng tôi gọi đến nhà thờ Ðức Bà nhờ
người tìm mà không gặp. Tôi sẽ cố gắng nhưng không chắc
là tôi sẽ thực hiện được, thưa Thiếu Tướng".
"Chú ráng tìm hai ổng, phần tôi,
tôi cũng tìm cách liên lạc".
"Vâng. Chào Thiếu Tướng".
Ðến đây xin mở ngoặc để nói
thêm về Ðại Tá Hồ Tấn Quyền. Tối ngày 6 tháng 9 năm 2003,
trong lúc dự tiệc cưới tại Washington DC, vợ chồng tôi ngồi
chung bàn với cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và cựu Phó
Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại. Bỗng dưng ông Thoại nhắc đến
vụ 1 tháng 11 năm 1963, vì sau ngày Ðại Tá Quyền bị giết
ông nghe người nhà Ðại Tá Quyền nói là có một sĩ quan
nào đó ở Tổng Tham Mưu điện thoại mời Ðại Tá Quyền
đi họp không biết điều đó có đúng không? Vì nếu đúng
thì có thể Ðại Tá Quyền không bị giết nếu ông ấy đi
họp, dù rằng tối hôm ấy tôi được biết nếu có đi họp
cũng bị cách ly với cuộc đảo chánh, nhưng cách ly có thể
thoát chết.
Thế là tôi lên tiếng:
"Thưa Anh, người mời Ðại Tá Quyền
hôm ấy là tôi. Người cầm ống nói đã trả lời cho tôi
là Ðại Tá Quyền có thể đã đi nhà thờ Ðức Bà, nhưng
sau đó tôi đã hai lần điện thoại đến nhà thờ nhưng không
tìm thấy Ðại Tá Quyền".
"Ðại Tá Quyền chưa đến giờ
đi nhà thờ nên trong sân tennis với tôi". Anh Thoại quay hẳn
sang tôi và tiếp:
"Khi ông Lực, sĩ quan tùy viên, đến
mời Ðại Tá Quyền lên Thủ Ðức dự tiệc mừng sinh nhật
của Ðại Tá Quyền do anh em Hải Quân tổ chức trên đó,
có lẽ thấy Ðại Tá Quyền chần chừ nên ông Lực nói tiếp:
Ðại Tá ráng đi vì anh em muốn dành cho Ðại Tá sự bất
ngờ nên không trình trước với Ðại Tá. Rồi Ðại Tá Quyền
có vẻ nể nang nên lên xe đi. Và sau đó thì bị ông Lực
giết chết. Nếu như người nhà điện thoại đến sân tennis
báo tin Tổng Tham Mưu mời đi họp, rất có thể là Ðại Tá
Quyền không bị giết như vậy".
Xin đóng ngoặc, và trở lại hoạt
động trong văn phòng tôi.
Ðiện thoại reo:
"Ðại Úy Hoa tôi nghe".
"Phụng đây Ðại Úy. Tôi tập trung
Ðại Ðội xong rồi, Ðại Úy có lệnh gì cho tôi?"
"Cám ơn Anh, và đây là chi tiết:
Ngay bây giờ, anh sẵn sàng tại chỗ 3 Tiểu Ðội và tôi sẽ
điều động công tác trong chốc lát. Ðiều quan trọng là
3 Tiểu Ðội này phải di chuyển ngay tức thì khi có lệnh.
Phần còn lại của Ðại Ðội, anh liên lạc với Thiếu Tá
Luông (Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu) để nhận lệnh. Anh cần
biết gì thêm không?"
"Dạ không Ðại Úy".
"Xin anh đừng rời xa điện thoại
nghe anh Phụng. Chào anh".
Chuẩn bị bữa ăn hôm nay, Trung
Úy Nguyễn Hữu Có chu toàn trách nhiệm mặc dù anh không biết
tại sao lại có bữa ăn bất thường này. Bữa ăn trưa hôm
nay rất quan trọng, nhưng không quan trọng về thực khách mà
là quan trọng ở điểm là ngụy trang cho buổi họp mặt tối
mật của các vị trong nhóm lãnh đạo đảo chánh quân sự.
Tôi nói ngụy trang, vì trong vòng 3 tuần lễ trước ngày này,
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm thường có những buổi tối
đi đâu đó mà tôi không biết chính xác mặc dù hệ thống
liên lạc đặc biệt giữa tôi tại nhà, với toán cận vệ
trên xe theo sau xe Thiếu Tướng mỗi khi ra khỏi nhà, chúng
tôi giữ liên lạc thường xuyên nhưng vẫn không bám sát được
vị trí của ông. Ðiển hình trong một tối, xe bắt đầu
rời nhà Thiếu Tướng Khiêm, tôi được thông báo và mở
máy liên lạc ngay. Một lúc sau:
"Hồng Hà. Hồng Hà. Bắc Bình gọi.
Trả lời".
"Hồng Hà tôi nghe 5/5. Có gì cho
tôi. Trả lời".
"Tôi dừng xe ở đường 45 (ám danh
của đường Kỳ Ðồng), Bông Hồng đã có xe khác đón nhưng
không rờ đi dâu, tôi chỉ được lệnh chờ tại chỗ. Nghe
rõ trả lời?"
"Tôi nghe 5/5. Thi hành lệnh. Giữ
liên lạc với tôi. Trả lời".
"Nghe rõ".
Xin nói thêm. Chữ "trả lời" ở
cuối mỗi câu khi liên lạc vô tuyến là điều qui định khi
học về Truyền Tin trong trường quân sự. Chữ này cũng có
nghĩa "đến đây là hết câu".
Hồng Hà là danh hiệu của tôi.
Bắc Bình là danh hiệu của toán an ninh. Và Bông Hồng là danh
hiệu của Thiếu Tướng Khiêm. Tất cả chỉ dùng trong hệ
thống liên lạc an ninh này mà thôi.
Một buổi tối khác. Thiếu Tướng
Khiêm cũng đi một cách bí mật như vậy, trong lúc tôi tự
đặt ra những giả thuyết và phân tách để tìm giả thuyết
có thể chấp nhận được về hoạt động bất thường đó,
thì chuông điện thoại nhà tôi reo:
"Ðại Úy Hoa, tôi nghe".
"Trung Tá Ðường đây, tôi có gọi
đằng tư dinh Thiếu Tướng Khiêm để ông Cố Vấn (Ngô Ðình
Nhu) nói chuyện với Thiếu Tướng nhưng không gặp. Ông Cố
Vấn bảo tôi nói với anh và anh trình lại Thiếu Tướng Khiêm
là tình hình Sài Gòn lúc này phức tạp lắm, bọn Việt Cộng
tung những tổ đặc công vào nội thành, chuyên ám sát các
tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp. Ông Cố Vấn dặn Thiếu
Tướng không nên ra khỏi nhà sau giờ làm việc. Ðó là lệnh,
anh rõ chưa?"
"Thưa Trung Tá, tôi rõ".
"Chào anh".
Ðó là Trung Tá Phạm Thư Ðường,
Chánh văn phòng ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Ðến giờ phút
này (tức giờ phút nhận lệnh của Trung Tá Ðường) thì tôi
hiểu rằng, chẳng phải ông Cố Vấn lo cho những người dưới
quyền, mà chính là ông muốn theo dõi những người dưới
quyền ông có hành động gì có thể "phản trắc" đối với
anh em ông hay không, vì tình hình ngày càng tồi tệ thêm và
tự nó đã lung lay chiếc ghế cầm quyền của Tổng Thống
lẫn của ông Cố Vấn. Cũng vì vậy mà trong thời gian xảy
ra sự đối đầu của Phật Giáo với Chánh Phủ, dư luận
từ các nhà chính trị đối lập nói về kế hoạch Bravo 1
của ông Cố Vấn Nhu, theo đó ông Cố Vấn Nhu dự định thực
hiện cuộc đảo chánh giả để phát hiện và triệt tiêu
những ai chống đối chế độ, không phải là không có cơ
sở.
10 phút trước 1 giờ 00, tôi nhắc
Thiếu Tá Luông chuẩn bị đóng các cổng cùng lúc với việc
điều động lực lượng tăng cường cho các cổng. Mặt khác,
tôi kiểm lại các vị trong danh sách 2. Và cho đến lúc này,
vẫn còn thiếu Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền và Ðại Tá Hồ
Tấn Quyền.
Ngay lúc trước 1 giờ 00, tình hình
trong trại Trần Hưng Ðạo nói chung và tòa nhà chánh nói riêng,
như sau:
- Tất cả các cổng số 1, 2, 3,
4, 5, và 10, đều đóng lại và lực lượng canh gác được
tăng cường trước sự ngạc nhiên của các quân nhân thường
trực. Chi Ðội Thiết Giáp bố trí đằng sau tòa nhà chánh
và 2 khẩu đại liên đã sẵn sàng trên sân thượng.
- Bãi đậu xe hai bên hông tòa nhà
chánh, mỗi bên có 1 Tiểu Ðội Quân Cảnh túc trực. Tiểu
Ðội Quân Cảnh thứ 3, tập trung an ninh tầng lầu 2, bên cánh
phải (tính từ trong tòa nhà chánh nhìn ra võ đình trường),
nơi đó là văn phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham
Mưu Trưởng Liên Quân, cũng là bản doanh của quí vị lãnh
đạo đảo chánh.
Trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, rất
đông các vị trong danh sách mời ăn trưa sau khi xong ở câu
lạc bộ, như: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần
Văn Ðôn, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng vì Ðại Tướng Lê
Văn Tỵ đang dưỡng bệnh, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm,
cùng các vị Tướng Tôn Thất Ðính, Trần Tử Oai, Lê Văn
Kim, Mai Hữu Xuân, ..... Ðại Tá Ðỗ Mậu -Giám Ðốc Nha An
Ninh Quân Ðội- Ðại Tá Dương Ngọc Lắm, Ðại Tá Nguyễn
Văn Quan, ......
Trong khi đó, văn phòng tôi và văn
phòng Trung Úy Có, các sĩ quan tùy viên và hạ sĩ quan cận
vệ, kẻ ngồi người đứng chật cả phòng, vì mỗi vị Tướng
ít nhất cũng có 3 hay 4 người đi theo, nhất là trong tình
hình này.
Ðúng giờ G, tức 1 giờ trưa
ngày 01 tháng 11 năm 1963.
Cửa phòng họp số 1 đóng lại,
2 Quân Cảnh đứng gác bên ngoài. So với danh sách "mời họp"
vẫn còn thiếu Ðại Tá Hiền và Ðại Tá Quyền.
Hướng Lữ Ðoàn Phòng Vệ Phủ
Tổng Thống (góc đường Thống Nhất-Cường Ðể-Hồng Thập
Tự) và khu vực Phủ Tổng Thống -tức dinh Gia Long- súng bắt
đầu nổ.
Trong văn phòng Thiếu Tướng Khiêm
-bản doanh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng- âm thanh ồn
ào hẳn lên cùng với sự đi lại nhiều hơn, do các vị điện
thoại ra lệnh đơn vị này cơ quan khác, chen lẫn với bàn
thảo tình hình.
Một lúc sau đó, tôi vào trình Thiếu
Tướng Khiêm:
"Thưa Thiếu Tướng, tôi thấy giữ
Ðại Tá Viên (Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù) dưới
phòng họp không tiện lắm. Xin Thiếu Tướng cho phép tôi đưa
Ðại Tá Viên lên ngồi ở văn phòng tôi và tôi chịu trách
nhiệm".
"Ðược rồi. Chú đưa Ðại Tá
Viên lên phòng chú đi".
Tôi quen biết chưa nhiều với Ðại
Tá Cao Văn Viên, nhưng do bà Trần Thiện Khiêm nói lại, theo
đó thì Thiếu Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Khánh, và Ðại
Tá Viên rất thân nhau, nhất là khi ba vị này là sĩ quan cấp
úy và cùng chiến đấu ở mặt trận Na Sản trên đất Lào
trong hàng ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp. Và ba gia đình này
cũng thân nhau từ đó, vì có nhiều thời gian sống chung nhau
ở Hà Nội trong khi các ông cùng ở mặt trận. Do đó, tôi
thấy cần giúp Thiếu Tướng Khiêm tránh điều khó xử đối
với người bạn thân của ông bằng cách "giải thoát" Ðại
Tá Viên ra khỏi phòng "tạm giữ". Nguyên nhân chỉ là vậy.
Ðại Tá Cao Văn Viên, năm 1960, đang
giữ chức Tham Mưu Trưởng Tham Mưu Biệt Bộ/Phủ Tổng Thống,
lúc đó là Trung Tá. Ngay sau cuộc đảo chánh ngày 11 tháng
11 năm 1960, ông được thăng cấp Ðại Tá và nhận chức Tư
Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù đang khuyết, vì Ðại Tá Nguyễn Chánh
Thi đã chạy sang Cam-Bốt tị nạn chính trị khi đảo chánh
thất bại. Cũng vì vậy mà ông (Ðại Tá Viên) bị xếp vào
thành phần tín cẩn của Tổng Thống Diệm, và bị giữ chân
trong phòng họp số 1 cách ly với cuộc đảo chánh đang diễn
tiến.
Ðến đây xin mở dấu ngoặc để
nói thêm về cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên. Cũng nhân dịp
dự tiệc cưới ngày 6 tháng 9 năm 2003 nêu trên, tôi có đến
nhà thăm cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, sau đó dùng
cơm tối với cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên tại nhà người
bạn. Cựu Ðại Tướng Viên nói rằng:
"Những điều Anh (tức tôi) nói
về cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 trong quyển sách của
Anh về tôi là đúng, nhưng có những điều khác mà Anh chưa
biết".
"Rất đúng, thưa Ðại Tướng. Tôi
chỉ viết lại những gì mà tôi biết thôi, cho nên câu chuyện
không tròn trịa được". Tôi trả lời, và cựu Ðại Tướng
Viên nói tiếp:
"Trước khi Anh mời tôi lên ngồi
văn phòng Anh, có người xuống gọi tôi lên văn phòng gặp
ông Minh (tức Trung Tướng Dương Văn Minh, cấp bậc lúc bấy
giờ), để nghe ổng nói là ổng đảo chánh Tổng Thống Diệm,
rồi ổng hỏi tôi nghĩ sao? Tôi trả lời là chuyện lớn như
vậy mà bây giờ Trung Tướng mới nói với tôi thì tôi đâu
có quyết định được. Lúc ấy sĩ quan cận vệ của ông
Minh lăm le khẩu súng về phía tôi như sẵn sàng bắn tôi.
Tôi cũng nhắc lại với Anh là trước đó, tôi với một ông
Ðại Tá mà tôi giấu tên (theo tôi biết thì đó là Ðại
Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Ðịa Hình, tên
gọi ngụy trang của cơ quan mật vụ) cùng gọi lên gặp Trung
Tướng Minh, nhưng vừa ra khỏi phòng họp thì ổng bị còng
tay dẫn đi và đã bị giết sau đó. Còn tôi cũng bị còng
nhưng mới còng một tay thì Thiếu Tướng Ðính (Tôn Thất)
chợt thấy, ổng bảo tháo còng ra, và sĩ quan đó dẫn tôi
lên gặp ông Minh như tôi vừa nói. Tiếp đến mới nối vào
chuyện của Anh mời tôi lên ngồi ở văn phòng Anh".
Ðến đây là hết lời kể của
cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên. Tôi xin tiếp lời của một
nhân chứng khác cũng liên quan đến sự kiện này. Tối 18
tháng 5 năm 2005, tại Houston, tôi dùng cơm với anh Trịnh Bá
Lộc từ Arkansas đến thăm thành phố này. Trong bữa ăn đó
còn có cựu Ðại Tá Lê Thuần Trí, và cựu Trung Tá Hoa Hải
Ðường. Qua những câu chuyện trao đổi, trong đó có nói đến
cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Lúc ấy, anh Lộc
là Ðại Úy, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh.
Và đây là lời trao đổi giữa tôi với anh Trịnh Bá Lộc.
Khi tôi thuật lại lời kể của
cựu Ðại Tướng Viên lúc ông bị còng tay, anh Lộc nói:
"Ðại Tướng Cao Văn Viên bị còng
tay ngay trước mặt Trung Tướng Minh, và tôi đứng bên cạnh.
Lúc ấy đang đứng bên ngoài cửa văn phòng của Tổng Tham
Mưu Trưởng, tức là trên tầng lầu 2 chớ không phải ở
tầng trệt. Ðúng như Ðại Tướng Viên nói là ông bị Quân
Cảnh mới còng một tay, và chính Trung Tướng Minh ra lệnh
tháo còng ra".
"Vậy anh có biết ai ra lệnh còng
tay không?" Tôi hỏi.
Anh Lộc đáp:
"Chính tôi cũng thắc mắc điều
này, vì tôi hoàn toàn không biết ai ra lệnh".
Với lời của anh Lộc, sự kiện
nho nhỏ này trở thành cái "gút". Vì cựu Ðại Tướng Viên
nói là ông bị còng tay sau khi ra khỏi "phòng tạm giữ" ở
tầng trệt của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, và Thiếu
Tướng Ðính ra lệnh mở còng, trong khi anh Lộc thì nói Ðại
Tướng Viên bị còng tay ở tầng lầu 2 và Trung Tướng Minh
ra lệnh mở còng. Sự kiện tuy nhỏ, nhưng không rõ là vị
nào nhớ đúng, vì một vị là "nạn nhân" còn vị kia là "nhân
chứng". Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu thêm về sự kiện này.
Anh Lộc còn kể lại mẩu chuyện
ngắn về lá đơn của Ðại Tướng Viên gởi Tổng Thống
Trần Văn Hương xin giải ngũ, mà tôi bổ túc vào "Lời nói
cuối". Xin đóng ngoặc.
Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ sau,
điện thoại reo:
"Ðại Úy Hoa tôi nghe".
"Thưa Ðại Úy, có Thiếu Tá Trần
Cửu Thiên vô phòng Tổng Quản Trị lãnh huy chương, và bây
giờ xin ra cổng". Ðó là lời của trưởng toán Quân Cảnh
ở cổng số 1.
"Anh chờ tôi đầu máy".
Tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm
nhưng Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho tôi một cách
lạnh lùng:
"Anh đem vô nhốt luôn cho tôi".
"Vâng".
Xin nói thêm. Tất cả các vị trong
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đều có mặt trong phòng Thiếu
Tướng Khiêm, nên mỗi khi tôi trình điều gì với Thiếu Tướng
Khiêm, các vị khác đều nghe. Do vậy mà Trung Tướng Minh ra
lệnh giữ Thiếu Tá Thiên trong khi Thiếu Tướng Khiêm chưa
có phản ứng.
Một lúc sau, tôi gặp Thiếu Tá
Thiên trong phòng vệ sinh có Quân Cảnh đi kèm, ông Thiên trừng
mắt với tôi và không nói một lời cho dù tôi chào ông đến
hai lần. Thiếu Tá Thiên rất được sự tín nhiệm của Tổng
Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu sau khi
Thiếu Tá Thiên được đánh giá là xây dựng thành công "khu
trù mật" Vị Thanh-Hỏa Lựu thuộc tỉnh Phong Dinh (lúc bấy
giờ chưa thành lập tỉnh Chương Thiện). Thiếu Tá Thiên là
đảng viên đảng Cần Lao Nhân Vị mà ông Cố Vấn Nhu là
lãnh tụ. Vì vậy mà Thiếu Tá Thiên -trong một chừng mực
nào đó- đã xem thường ngay cả với Ðại Tá Khiêm khi Ðại
Tá Khiêm đang là Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh/kiêm Khu 33 Chiến
Thuật, chỉ vì Ðại Tá Khiêm không phải là đảng viên, cũng
không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo.
Lúc 3 giờ chiều, điện thoại tôi
reo:
"Ðại Úy Hoa tôi nghe".
"Tôi là Hiền đây anh Hoa. Anh trình
Thiếu Tướng xem bây giờ tôi đến còn kịp họp không?"
"Xin lỗi, Ðại Tá đang ở đâu
đó?"
"Tôi đang ở Bộ Tư Lệnh Không
Quân".
Ðấy là Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền,
Tư Lệnh Không Quân.
"Xin Ðại Tá vui lòng chờ đầu
máy, tôi vào trình ngay".
Tương tự như khi tôi trình với
Thiếu Tướng Khiêm về trường hợp Thiếu Tá Thiên, trình
xong, Thiếu Tướng Khiêm chưa có phản ứng thì Trung Tướng
Minh ra lệnh:
"Kêu qua nhốt luôn"
"Vâng".
Tôi báo cho Quân Cảnh phụ trách
cổng số 1, mở cổng, và hướng dẫn Ðại Tá Hiền vào phòng
họp, gọi cho đúng là "phòng tạm giữ".
Ðến lúc này thì điện thoại tôi
reo liên hồi, hết ông Tỉnh Trưởng này đến vị Tỉnh Trưởng
khác, hỏi thăm tình hình tại thủ đô ra sao? Nhóm đảo chánh
có những vị nào? Có địa phương nào gọi về ủng hộ chưa?
Các vị Tư Lệnh Quân Ðoàn Sư Ðoàn có ủng hộ không? ..v..v..
Tất cả những câu hỏi chỉ nhằm mục đích tìm hiểu thêm
tình hình, để các vị ấy quyết định ủng hộ Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm hay ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng.
Thế thôi. Do vậy mới có thêm nhu cầu chuyển ngay các bản
văn của địa phương ủng hộ Hội Ðồng sang đài phát thanh
Sài Gòn để loan tin kịp thời. Thế là tôi có thêm đường
dây điện thoại trực tiếp với đài phát thanh và hầu như
tất cả những bản văn ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách
Mạng của nhiều vị Tỉnh Trưởng, đều do tôi gợi ý. Và
khi vị ấy đồng ý là tôi chuyển đến đài phát thanh qua
điện thoại luôn. Nghĩa là từ lúc ông Tỉnh Trưởng đồng
ý ủng hộ đến khi loan tin trên làn sóng, chỉ trong vòng 3
đến 5 phút.
Bất cứ biến cố nào cũng có người
ủng hộ, người thì không, đó là lẽ đương nhiên. Trường
hợp đảo chánh đang diễn tiến cũng vậy. Theo lệnh Thiếu
Tướng Khiêm, tôi chuyển đến Truyền Tin:
"Hệ thống kiểm thính sẽ "chận
bắt" trên làn sóng vô tuyến, các công điện gởi về Phủ
Tổng Thống và trình lên văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân
ngay. Còn trên hệ thống điện thoại viễn liên ngang qua tổng
đài điện thoại Cộng Hòa trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu,
phải thu băng các cuộc đàm thoại, ghi chép lại và trình
lên vào mỗi đầu giờ.
Bây giờ xin mời quí vị quí bạn
cùng tôi rời bộ Tổng Tham Mưu để lên Biên Hòa, theo chân
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, lúc ấy Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu là
Tư Lệnh. Những tin tức về hoạt động của Sư Ðoàn này
liên quan đến ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, do Ðại
Tá Lộ công Danh -năm 1963 là Thiếu Tá, trưởng phòng 3 Sư
Ðoàn 5 Bộ Binh- kể lại cho chúng tôi nghe vào năm 1981, khi
bị giam chung ở trại tập trung tù chính trị Nam Hà, tỉnh
Hà Nam Ninh, miền bắc Việt Nam. Chuyện kể như thế này:
"Khoảng trung tuần tháng 10 năm 1963,
Ðại Tá Thiệu đã làm cho bộ tham mưu Sư Ðoàn, nhất là
các sĩ quan Phòng 2 Phòng 3 rất ngạc nhiên. Lệnh hành quân
ban hành trong thời gian thật ngắn, bộ tham mưu phải vất
vả lắm mới thi hành xong những công tác tham mưu trong việc
điều động 1 Trung Ðoàn Bộ Binh cùng với Pháo Binh, Thiết
Giáp, và Công Binh Chiến Ðấu. Khi tất cả sẵn sàng để
sáng mai hành quân, thì Ðại Tá Thiệu ra lệnh ngưng cuộc
hành quân này và lập tức điều động lực lượng sang vùng
khác.
Tuần lễ sau đó, lại chuẩn bị
một cuộc hành quân khẩn cấp để rồi đến giờ chót lại
thay đổi vùng hành quân, cũng là khẩn cấp! Chính Phòng 2
-phụ trách tình báo- cũng không hiểu vì sao lại chuyển vùng
hành quân mà Phòng 2 chưa ghi nhận sự hiện diện một lực
lượng nào của quân cộng sản ở đó cả.
Ngày 30 và 31 tháng 10 năm 1963, lại
chuẩn bị hành quân vào căn cứ Bời Lời. Ðây là một căn
cứ quan trọng của quân cộng sản, cho nên lực lượng tham
dự gần 2 Trung Ðoàn Bộ Binh, 1 Tiểu Ðoàn Pháo Binh, lực
lượng Thiết Giáp và Công Binh. Ðêm 31 tháng 10 rạng ngày
1 tháng 11 năm 1963, lệnh của Ðại Tá Tư Lệnh cho chuyển
toàn bộ các đơn vị xuống hành quân vùng Phước Tuy (trên
đường Sài Gòn-Vũng Tàu). Bộ tham mưu muốn điên đầu vì
những thay đổi mà chính các sĩ quan trách nhiệm điều động
và yểm trợ hành quân, cũng không sao hiểu nổi.
Sáng 1 tháng 11 năm 1963, các đơn
vị, thay vì di chuyển về hướng Vũng Tàu như lệnh hành quân
đã định, lại được lệnh dừng quân ở ngã ba xa lộ Biên
Hòa-Sài Gòn-Vũng Tàu, chờ lệnh mới.
Ðến 1 giờ trưa, lệnh mới được
ban hành: Theo đó, các đơn vị chuyển hướng về Sài Gòn.
Ngoài lực lượng của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, còn có một lực
lượng Thiết Giáp xuất phát từ Trung Tâm Huấn Luyện Vạn
Kiếp (đồn trú ở Bà Rịa) cùng tiến quân. Vào buổi chiều
thì bản doanh Sư Ðoàn và 1 bộ chỉ huy Trung Ðoàn đặt tại
trường đại học sư phạm, đại lộ Cộng Hòa, trong khi lực
lượng của Sư Ðoàn đã chiếm giữ các vị trí ấn định
trong phạm vi thủ đô Sài Gòn.
Lại xin mời quí vị, chúng ta dành
thêm chút thì giờ xuống Quân Ðoàn IV tại Cần Thơ, nhưng
trước khi xuống Cần Thơ, đến ngã ba Trung Lương mời quí
vị tạt vào Mỹ Tho quan sát Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tại đây.
Tư Lệnh Sư Ðoàn là Ðại Tá Bùi Ðình Ðạm. Sư Ðoàn phụ
trách Khu 41 Chiến Thuật gồm 4 tỉnh bờ bắc Sông Tiền là
Kiến Hòa, Kiến Tường, Ðịnh Tường, và Long An, gồm cả
Ðồng Tháp Mười. Vì Ðại Tá Ðạm được xem là thành phần
tín cẩn của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nên Hội Ðồng
Quân Nhân Cách Mạng đưa Ðại Tá Nguyễn Hữu Có từ Sài
Gòn xuống Mỹ Tho, khống chế Ðại Tá Ðạm để cầm chân
Sư
Ðoàn tại chỗ.
Xong, chúng ta cùng xuống Cần Thơ,
bản doanh bộ tư lệnh Quân Ðoàn IV. Trung Tá Huỳnh Văn Tồn
đã xuống bộ tư lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật,
với nhiệm vụ thuyết phục Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao ủng
hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng nhưng không thành công,
ông áp dụng biện pháp dự liệu trước là uy hiếp Thiếu
Tướng Cao án binh bất động.
Năm 1962, Ðại Tá Huỳnh Văn Cao
là Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tại Mỹ Tho, được thăng cấp
cấp Thiếu Tướng ngày 5 tháng 12 năm 1962, trước Thiếu Tướng
Trần Thiện Khiêm một ngày dù rằng hai Sắc Lệnh thăng cấp
cùng một ngày ký. Ðiều đó có nghĩa là Thiếu Tướng Cao
thâm niên hơn Thiếu Tướng Khiêm một ngày, và trong quân đội
vấn đề thâm niên là rất quan trọng về mặt chỉ huy. Không
có gì khó hiểu khi biết rằng Thiếu Tướng Cao là đảng
viên đảng Cần Lao trong khi Thiếu Tướng Khiêm vừa là khác
tôn giáo vừa là người ngoài đảng.
Quân Ðoàn IV được thành lập ngày
1 tháng 1 năm 1963, và Tổng Thống Diệm cử Thiếu Tướng Cao
giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn này từ ngày ấy.
Xin mời sang Sa Ðéc quan sát hoạt
động của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh. Ðại Tá Bùi Dzinh, Tư Lệnh
Sư Ðoàn và Trung Tá Ðoàn Văn Quảng, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn.
Trung Tá Quảng trách nhiệm khống chế Ðại Tá Dzinh và giữ
chân Sư Ðoàn tại chỗ. Năm 1961 và 1962, Trung Tá Quảng là
Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 21 Bộ Binh trong khi Ðại Tá Trần Thiện
Khiêm là Tư Lệnh. Do vậy mà lệnh của Thiếu Tướng Khiêm
được Trung Tá Quảng thi hành một cách tích cực. Nhưng theo
cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, thì trách nhiệm khống chế
Ðại Tá Bùi Dzinh án binh bất động Sư Ðoàn 9 Bộ Binh là
do cựu Ðại Tá Nhan Minh Trang -lúc đó là Thiếu Tá- theo lệnh
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng từ Sài Gòn xuống Sa Ðéc
thi hành.
Ðại Tá Bùi Dzinh và Ðại Tá Trần
Thiện Khiêm cùng học lớp "chỉ huy tham mưu" tại Hoa Kỳ năm
1959, cùng trở về Việt Nam và cùng nhận chức tại Sư Ðoàn
21 Bộ Binh vào tháng 2 năm 1960, khi Trung Tá Trần Thanh Chiêu
bị cách chức. Ðại Tá Khiêm Tư Lệnh, Ðại Tá Bùi Dzinh
Tư lệnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn. Ðại Tá Bùi Dzinh,
rất được Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu tín nhiệm.
Sư Ðoàn 9 Bộ Binh thành lập tại Qui Nhơn, và Tổng Thống
Diệm cử ông vào chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn này. Sau đó,
Sư Ðoàn 9 Bộ Binh được lệnh chuyển toàn bộ vào hoạt
động vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Bây giờ mời quí vị trở về Bộ
Tổng Tham Mưu.
Trước 5 giờ một chút, tôi trình
nhắc Thiếu Tướng Khiêm về trường hợp Ðại Tá Quyền
-Tư Lệnh Hải Quân- Thiếu Tướng Khiêm cho biết là Ðại
Tá Quyền đã bị sĩ quan tùy viên của ổng bắn chết trên
Thủ Ðức rồi.
Lúc 5 giờ chiều:
"Ðại Úy Hoa tôi nghe".
"Chào anh Hoa. Tôi là Ðại Úy Bằng
đây. Anh mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp chuyện với Tổng Thống".
Ðại Úy Bằng là sĩ quan tùy viên
của Tổng Thống Diệm, thường trực ở văn phòng Phủ Tổng
Thống.
"Vâng. Anh chờ tôi đầu máy".
Tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm
và nhấc ống nói trao cho ông:
"Mời Thiếu Tướng tiếp chuyện
với Tổng Thống".
Thiếu Tướng Khiêm chưa kịp nhận
ống nói thì Trung Tướng Minh chụp lấy ngay. Tôi không nghe
Tổng Thống Diệm nói gì mà chỉ nghe Trung Tướng Minh:
"Chúng tôi chỉ chấp nhận cho ông
đi ngoại quốc như một người bình thường".
"........................"
"Không".
Tiếp đó, Trung Tướng Minh nói với
các vị có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm sau khi ông dằn
ống nói xuống vị trí:
"Ổng đòi đi như một Tổng Thống,
tôi không đồng ý".
Lúc đó trong phòng im phăng phắc,
chừng như cách giải quyết của Trung Tướng Minh đem lại
niềm suy nghĩ cho các vị ấy thì phải. Tôi nhìn vào thái
độ của các vị mà suy đoán như vậy.
Ðiện thoại lại reo và đầu dây
bên kia vẫn là Ðại Úy Bằng mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp
chuyện với Tổng Thống. Tôi lại vào:
"Trình Thiếu Tướng, Tổng Thống
muốn nói chuyện với Thiếu Tướng".
Cũng như lúc nãy, Trung Tướng Minh
chụp ống nói lên, rồi đặt xuống máy:
"Không cần nói chuyện với ổng".
Tôi trở ra phòng và trả lời Ðại
Úy Bằng:
"Rất tiếc là Trung Tướng Minh cắt
đường dây rồi. Chào anh".
Khoảng 6 giờ chiều. Một buổi
họp ngay trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, cũng là bản doanh
của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng. Ngoài các vị có mặt
ở đây từ lúc trưa, tôi thấy có thêm Trung Tá Mai của Không
Quân (dường như là Ðỗ Khắc Mai) mà mấy phút trước đây
Quân Cảnh cổng số 1 điện thoại cho tôi biết. Buổi họp
ngắn gọn này quyết định:
"Không Quân phải chuẩn bị càng
nhiều phi tuần khu trục càng tốt, nếu đến 7 giờ sáng mai
(2/11/1963) mà Tổng Thống Diệm chưa đầu hàng thì đánh bom
xuống dinh Gia Long trong khi Thủy Quân Lục Chiến và Thiết
Giáp sẵn sàng xung phong sau khi Không Quân đánh bom xong".
Phải nói rằng, lúc bấy giờ trên
nét mặt của các vị biểu hiện ít nhiều lo âu, bởi bên
đảo chánh với dấu hiệu thành công chưa nhiều, trong khi
bên bị đảo chánh cũng chưa có dấu hiệu gì nhiều về sự
thất bại, tuy chưa có vị Tư Lệnh đại đơn vị nào lên
tiếng ủng hộ Tổng Thống.
Thiếu Tướng Ðỗ cao Trí, Tư Lệnh
Quân Ðoàn I/Vùng I Chiến Thuật ở Ðà Nẳng, đã có công
điện ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng ngay từ đầu.
Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến
Thuật ở Plei Ku, có thể là lúc đầu còn chần chừ nhưng
sau đó thì có công điện ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách
Mạng. Thật sự nếu ông có chần chừ cũng đúng thôi, vì
dù sao thì ông cũng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tín
nhiệm khi đưa ông từ Tư Lệnh Quân Khu 5 về giữ chức Tham
Mưu Trưởng/Tổng Tham Mưu, và trong cuộc đảo chánh của Ðại
Tá Nguyễn Chánh Thi ngày 11/11/1960, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh
hoàn toàn ủng hộ Tổng Thống. Ðến Quân Ðoàn III/Vùng III
Chiến Thuật là Thiếu Tướng Tôn Thất Ðính, đang trong thành
phần Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng rồi. Còn Thiếu Tướng
Huỳnh Văn Cao đang bị khống chế tại bộ tư lệnh Quân Ðoàn
IV/Vùng IV Chiến Thuật. Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh
Không Quân, và Ðại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Nhẩy Dù, đang
bị giữ tại tòa nhà chánh. Ðại Tá Hồ Tấn Quyền đã bị
giết lúc trưa. Ðại Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Sở
Khai Thác Ðịa Hình -cơ quan mật vụ của ông Cố Vấn Ngô
Ðình Nhu- cũng bị giết rồi.
Xem chừng Tổng Thống Diệm và ông
Cố Vấn Nhu, lần này không có nhiều cơ may như lần bị Ðại
Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh cách đây 2 năm, nhưng dù sao
thì Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng cũng chưa đủ yếu tố
để lạc quan về sự thành công của mình. Có lẽ cũng vì
vậy mà Thiếu Tướng Khiêm bảo tôi đích thân lái xe về
nhà đón vợ và 2 con ông, đưa đến nhà riêng của Thiếu
Tướng Lê Văn Kim trên đường Võ Di Nguy, gần khu nghĩa trang
giáp ranh với cổng số 3 của bộ Tổng Tham Mưu, tạm vắng
mặt tại nhà. Khu này tương đối vắng vẻ. Khi xe trên đường
đến nhà Thiếu Tướng Kim, bà Khiêm hỏi tôi:
"Chú Hoa, chú biết ai làm đảo chánh
không?"
"Dạ biết. Nhiều vị lắm, có Trung
Tướng Minh, Trung Tướng Ðôn, Thiếu Tướng Ðính, Thiếu Tướng
Kim, Thiếu Tướng Xuân, .... đông lắm".
"Nếu có ai hỏi thì chú đừng nói
có "nhà tôi" nghe chú".
"Vâng".
Thật ra thì Thiếu Tướng Khiêm
không cho gia đình biết những gì mà ông và các vị khác cùng
làm, cho nên bà Khiêm tỏ ra âu lo dự phòng của người đàn
bà bình thường vậy thôi.
Trở lại tình hình tại văn phòng,
và lúc này vào khoảng giữa đêm.
"Ðại Úy Hoa tôi nghe".
"Trung Tá Minh đây em".
Ðó là Trung Tá Nguyễn Văn Minh mà
các bạn ông thường gọi là "Minh đờn", Tỉnh Trưởng tỉnh
An Giang. Là một vị Tỉnh Trưởng rất được lòng Tổng Thống
và ông Cố Vấn. Tôi quen biết với Trung Tá Minh nhiều là
trong thời gian tôi giữ chức chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn
21 Bộ Binh tại Cần Thơ. Trung Tá Minh có tiếng là sĩ quan
xử sự rất khéo với cấp trên và "chơi ngọt" với cấp
dưới, nếu như cấp dưới đó là thân cận với cấp trên
của ông. Dạo đó, cứ mỗi khi ông xuống Cần Thơ là y như
rằng, ông ghé cho tôi tí tiền còm kèm theo câu "em cầm lấy
uống cà phê chơi" mà tôi có bao giờ uống cà phê đâu.
"Thưa Trung Tá, dường như Trung Tá
chưa có công điện ủng hộ Hội Ðồng phải không?"
"Tình hình đến giờ ra sao rồi
em?"
"Trung Tá theo dõi đài phát thanh
thì rõ vì tất cả những thông tin đó là chính xác. Bây giờ
tôi thử đọc bản văn ủng hộ Trung Tá nghe, nếu Trung Tá
đồng ý thì tôi chuyển sang đài phát thanh ngay, chỉ vài phút
sau đó là Trung Tá nghe công điện ủng hộ của Trung Tá và
tỉnh An Giang phát đi trên làn sóng đài Sài Gòn".
Thế là tôi đọc bản văn luôn,
và Trung Tá Minh đồng ý ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách
Mạng.
Ðến khoảng 3 giờ sáng (2/11/1963),
Truyền Tin mang vào công điện của ông Tỉnh Trưởng Lâm Ðồng
(nay là ấn bản lần thứ 4 mà tôi vẫn không nhớ tên ông).
Công điện này gởi Phủ Tổng Thống với nội dung:
"... Quân Dân Cán Chánh tỉnh Lâm
Ðồng nguyện ủng hộ Tổng Thống và gia đình, chống lại
cuộc đảo chánh của bọn phản loạn .."
Tôi mang vào trình Thiếu Tướng
Khiêm. Xem xong, ông trao cho Trung Tướng Minh, lướt qua nội
dung, ông lại đưa cho Thiếu Tướng Ðính và kèm theo khẩu
lệnh:
"Toa" kiếm người thay thằng này
đi".
Sở dĩ Trung Tướng Minh trao cho Thiếu
Tướng Ðính vì tỉnh Lâm Ðồng thuộc Quân Ðoàn III/Vùng
III Chiến Thuật mà Thiếu Tướng Ðính đang là Tư Lệnh.
Vài ngày sau đó, ông Tỉnh Trưởng
Lâm Ðồng, người gởi công điện nói trên, sau khi từ văn
phòng Trung Tướng Khiêm (Thiếu Tướng Khiêm thăng cấp Trung
Tướng chiều 2.11.1963) trở ra, ông hỏi tôi với vẻ khó chịu:
"Tôi có gởi công điện ủng hộ
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng mà tại sao tôi bị cách chức.
Anh có biết lý do không?"
"Dạ không Thiếu Tá. Nhưng tôi biết
là quí vị trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng có xem công
điện Thiếu Tá gởi về Phủ Tổng Thống, do hệ thống Truyền
Tin/Tổng Tham Mưu "chận bắt" tất cả những làn sóng như
vậy".
Ông quày quả ra khỏi phòng mà chẳng
buồn chào trả lại.
Thật ra thì đến gần sáng ngày
2 tháng 11 năm 1963, ông có công điện ủng hộ Hội Ðồng,
nhưng điều đó đã quá trễ. Trong cuộc sống, biết nhận
đúng thời cơ là tốt nhất, vì hành động sớm quá hay muộn
quá thường là không mang lại kết quả tốt, đôi khi chuốc
lấy nguy hại là khác.
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị
giết.
Khoảng 5 giờ sáng ngày 2 tháng 11
năm 1963, điện thoại reo trong khi tôi đang bận cuộc đàm
thoại khác nên Thiếu Tướng Khiêm nhấc ống nói sau mấy
lượt chuông reo, và qua cuộc nói chuyện ngắn của Thiếu
Tướng Khiêm với các vị có mặt, tôi biết đầu dây bên
kia là người thân cận của Tổng Thống, nhưng chưa nghe nội
dung. Ngay tức thì, các vị gọi nhau vào họp thật nhanh, tiếc
là tôi ngồi phòng ngoài nên chỉ nghe lỏm bõm mà thôi dù
rằng cửa ngăn giữa phòng tôi với phòng Thiếu Tướng Khiêm
mở thường xuyên từ lúc 1 giờ trưa hôm qua. Do công việc
đòi hỏi tôi ra vào văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân một
cách nhanh chóng nên tôi phải sang ngồi ở phòng sĩ quan tùy
viên, vì phòng này khi mở cửa thì nhìn thẳng vào bàn viết
của Thiếu Tướng Khiêm, nơi đang là bản doanh của Hội Ðồng
Quân Nhân cách Mạng. Nghe Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh,
tôi mới biết là một phái đoàn do Thiếu Tướng Mai Hữu
Xuân dẫn đầu sẽ vào nhà thờ Cha Tam đón Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu về Bộ Tổng Tham
Mưu. Lúc ấy tôi trông thấy vài vị sĩ quan cấp tá đi vô
đi ra phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, nhưng không rõ những
vị này có được cử trong phái đoàn hay không.
Một lúc sau, Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm gọi tôi:
"Chú theo dõi khi đoàn xe đón Tổng
Thống và ông Cố Vấn về đến thì hướng dẫn xe đậu ở
sân vận động cạnh tòa nhà chánh, cho Quân Cảnh gác chung
quanh và không cho bất cứ ai đến gần. Xong, chú lên trình
tôi".
"Vâng".
Trong thời gian chờ đợi, các vị
bàn thảo với nhau chung quanh vấn đề cách giải quyết Tổng
Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu sao cho ổn vì sợ phật lòng
khối Thiên Chúa Giáo lẫn Phật Giáo. Ngay lúc đó, ngoài cửa
phòng tôi có một người xin gặp tôi nói là ông được lệnh
mang quần áo đến đây để Tổng Thống và ông Cố Vấn đi
ngoại quốc. Tôi mời ngồi nhưng thật ra tôi cũng không rõ
lệnh này từ đâu. Tôi ngờ rằng lệnh đó xuất phát từ
Trung Tướng Ðôn vì ông là người hậu thuẫn mạnh mẽ ý
kiến đưa Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu xuất ngoại,
được hiểu là "lưu vong". Trình xong với Thiếu Tướng Khiêm
thì tôi không theo dõi được nữa vì phải xuống lầu đón
đoàn xe sắp vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu.
Theo hướng dẫn của tôi, chiếc
Thiết Vận Xa M113 vào vị trí, và một tiểu đội Quân Cảnh
bao quanh. Tôi trở lên văn phòng:
"Trình Thiếu Tướng, Thiết Vận
Xa chở Tổng Thống và ông Cố Vấn đã vào sân vận động
và có Quân Cảnh bảo vệ".
"Mình xuống đi".
Ðó là lời Trung Tướng Dương Văn
Minh. Nói xong là ông đứng lên trong khi Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm nét mặt không vui:
"Các "toi" xuống đi, thấy ổng dù
sao "moi" cũng bùi ngùi!"
Tuy nói vậy, nhưng khi các vị rời
khỏi phòng thì Thiếu Tướng Khiêm cũng từng bước theo sau,
và tôi là người tháp tùng sau cùng. Khi xuống đến bậc thang
chót của tầng trệt thì Thiếu Tướng Khiêm đứng lại, vì
các vị đã dừng chân hành lang bên ngoài, lúc ấy có Thiếu
Tướng Xuân và một sĩ quan nữa mà tôi không thấy rõ là
vị nào, đang trình bày gì đó với các vị. Bỗng các vị
cùng quay vào, Thiếu Tướng Khiêm ngạc nhiên:
"Việc gì vậy?"
"Hai ổng chết rồi". Trung Tướng
Minh trả lời ngắn ngủn. Tất cả cùng trở lên lầu.
Lúc bấy giờ, người Mỹ, từ phòng
nhỏ ngay phía sau tấm vách ngăn với bàn làm việc của Thiếu
Tướng Khiêm bước ra, Trung Tướng Minh cho ông ta biết là
ông Diệm và ông Nhu đã chết rồi. Rõ ràng là người Mỹ
này tỏ ra bực tức, và một lúc sau ông ta ra về.
Người Mỹ mà tôi vừa nói, tôi
không biết tên. Ông ta có vóc dáng trung bình, mặc thường
phục, có mặt tại phòng Thiếu Tướng Khiêm từ trưa hôm
qua (1/11/1963), nhưng ông ta chỉ ở trong phòng nhỏ đó mà không
bước ra phòng các vị Tướng lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân
Cách Mạng làm việc dù chỉ cách vài bước đi. Ông ta có
xách cái cặp bình thường như những cái cặp mà các vị
Tướng Lãnh thường xách theo khi đi làm. Về sau tôi nghe nói
đó là Trung Tá Conein, cũng có người nói là ông Lansdale. Tôi
vẫn không xác định được là ai, nhưng rõ ràng là cuộc
đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm được một số vị
Tướng Lãnh Việt Nam thực hiện dưới bàn tay đạo diễn
của Hoa Kỳ hay ít ra cũng được Hoa Kỳ đồng ý. Cho dù thế
nào đi nữa, chúng ta cũng nhận ra được sự kiện ông Ngô
Ðình Diệm "lên ngôi" là do Hoa Kỳ từ đằng sau, và cũng
bởi Hoa Kỳ mà ông Diệm bị "hạ bệ". Nhưng liệu có phải
Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy ra lệnh cho vị Tướng Lãnh
nào đó của đất nước Việt Nam khốn khổ này giết chết
Tổng Thống của họ không? Hay cái chết của Tổng Thống
Diệm không có trong dự định của Hoa Kỳ khi họ buộc phải
thay người lãnh đạo Việt Nam cho phù hợp với chiến lược
đang thực hiện? Ôi, chính trị!
Tôi xin mở ngoặc để viết vào
đoạn này những lời mà cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm
cho tôi biết vào tối 21 tháng 10 năm 2003, liên quan đến cuộc
đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ông nói:
"Về việc chú thắc mắc không biết
người Mỹ tham dự đảo chánh là ông Conein hay Lansdale, Anh
cho chú biết đó là Trung Tá Conein, ổng cũng cùng nhóm với
ông Lansdale. Anh nói thêm với chú, ông Conein là trưởng toán
sĩ quan Hoa Kỳ đã từng nhẩy dù xuống miền Bắc hồi năm
1945 để giúp ông Hồ đánh Nhật. Lúc đó ai là kẻ thù của
Nhật là bạn của Hoa Kỳ. Về phía Hoa Kỳ, ông ta là người
biết nhiều về ông Hồ và Việt Minh cộng sản thời đó.
Bây giờ Anh nói về cuộc đảo chánh (1/11/1963). Trước ngày
đảo chánh, Anh (tức cựu Ðại Tướng Khiêm) nói như một
điều kiện liên quan đến Tổng Thống Diệm rằng: "phải
để Tổng Thống bình yên và xuất ngoại". Lúc đó Trung Tướng
Dương Văn Minh đồng ý, Thiếu Tướng Lê Văn Kim cũng đồng
ý. Sở dĩ Anh nói Trung Tướng Minh và Thiếu Tướng Kim, vì
hai ông này là hai nhóm riêng chớ không phải là một nhóm
đâu nghe chú. Khi biết ông Diệm bị giết cùng với ông Nhu,
Ðại Tá Quyền (Hồ Tấn Quyền) bị giết, Ðại Tá Tung (Lê
Quang Tung) cũng bị giết, đến em của ông Tung là Lê Quang
Triệu cũng bị lừa rồi giết chết. Ông Viên (Cao Văn Viên)
thì bị còng tay. Họ hành động lén nên Anh với chú ngồi
trên lầu có hay biết gì đâu. Mấy ổng ngồi bên phòng của
Ðại Tướng Tỵ (Lê Văn Tỵ. Lúc ấy Ðại Tướng Tỵ dưỡng
bệnh ngoài Vũng Tàu, Trung Tướng Trần Văn Ðôn Quyền Tổng
Tham Mưu Trưởng) rồi quyết định với nhau".
Ngưng một chút, ông tiếp:
"Chú thấy chưa? Nhóm ông Minh với
nhóm ông Kim độc ác quá! Ông Diệm gọi điện thoại bảo
cho xe đến đón, tức là ổng đầu hàng rồi, tại sao lại
giết người đầu hàng? Trước đó, ông Minh ông Kim đồng
ý với Anh là để ông Diệm bình yên và lưu vong, tại sao
lại giết? Cho nên từ đó Anh bất mãn với ông Minh ông Kim".
Xin mở ngoặc nhỏ. Tôi nghĩ: "Có
lẽ vì sự chia phe chia nhóm này mà khi cử Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm đi Seoul, Ðại Hàn, dự lễ nhậm chức của Tổng
Thống Pak Chung Hi (Phác Chánh Hi), để rồi ra quyết định
cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 khi Trung
Tướng Khiêm còn ở Tokyo chăng?" Lại thêm chút ánh sáng về
sự kiện này. Nhân khi cựu Ðại Tướng Khiêm từ Houston (Ông
chuyển từ Virginia xuống cư trú ở Houston từ giữa năm 2005)
lên Virginia hồi tháng 7 năm 2005 thăm cựu Ðại Tướng Viên
vì sức khỏe của ông có phần suy yếu. Khi nhắc lại sự
kiện Trung Tướng Khiêm bị cử sang Quân Ðoàn 3, cựu Ðại
Tướng Viên nói:
"Cũng vì việc anh giúp tôi trở
lại Lữ Ðoàn Nhẩy Dù mà anh bị mấy ảnh (có lẽ ám chỉ
Trung Tướng Minh, Trung Tướng Ðôn, à) đẩy qua Quân Ðoàn
3 đó".
Cựu Ðại Tướng Khiêm nói tiếp:
"Có điều là Anh không rõ tại sao
Hoa Kỳ loại Tổng Thống Diệm?"
"Thưa Anh, có lúc Em nghĩ: phải chăng
Tổng Thống Diệm không đồng ý cho quân bộ chiến Hoa Kỳ
lập căn cứ trên đất Việt Nam trong chiến lược Domino làm
bức tường quân sự ngăn chận cộng sản tràn xuống Ðông
Nam Á mà Tổng Thống Diệm bị loại chăng?"
"Ðiều này Anh có nghĩ đến, nhưng
không biết có còn gì nữa không? Còn việc chú nêu nghi vấn
Trung Tướng Minh có phải là người ra lệnh giết ông Diệm
ông Nhu không, chú nghĩ coi nếu hổng phải ổng thì ai dám
ra lệnh đó".
"Tất nhiên là em nghĩ như vậy,
nhưng đây là vấn đề lịch sử, khi em chưa nắm được bằng
chứng xác thực về điều em đã nghĩ, thì em không dám khẳng
định mà chỉ nêu nghi vấn sau khi phân tách một số sự kiện
liên quan thôi. Chính Trung Tướng Trần Văn Ðôn trong quyển
Việt Nam Nhân Chứng, cũng nêu nghi vấn như vậy Anh Tư". (bà
Khiêm thứ tư nên những cộng sự viên chung quanh thường gọi
như vậy).
Những điều mà cựu Ðại Tướng
Khiêm nói không phải chỉ có thế, và tôi sẽ bổ túc vào
những bài những đoạn liên quan trong cuộc Chỉnh Lý ngày
30/1/1964, cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13/9/1964 dẫn
đến sự kiện ông và gia đình lưu vong, đến cuộc "Ðảo
Chánh" ngày 19/2/1965 dẫn đến sự kiện Ðại Tướng Nguyễn
Khánh lưu vong sang Hoa Kỳ tá túc nhà Ðại Tướng Khiêm.
Vẫn trong dấu ngoặc này, tôi thuật
thêm một đoạn ngắn trong lúc nói chuyện với cựu Ðại
Tướng Khiêm sau khi ông và gia đình du lịch Pháp quốc về
lại Houston hồi đầu năm 2007. Nhân lúc vui vẻ, tôi hỏi:
"Thưa anh Tư. Hồi đảo chánh 1 tháng
11 năm 1963, bắt đầu từ phía Hoa Kỳ hay từ phía Việt Nam
mình anh Tư?".
"Từ phía Hoa Kỳ".
"Vậy ai là người nối vào Việt
Nam mình anh Tư?"
"Ông S.".
"Ông ấy nối vào ai vậy anh Tư?"
"Nối vào anh, nhưng anh thấy việc
lớn quá nên giới thiệu với Trung Tướng Minh (Dương Văn)".
Thưa quí vị, cựu Ðại Tướng
Khiêm có nói tên đầy đủ của người Mỹ này, nhưng ông
không muốn tôi nêu tên ông ta dù ông S. đã chết rồi. Do
vậy tôi chỉ có thể viết tên ông ta vào đây với mẫu tự
đầu mà thôi. Trong năm 1963, tôi có dịp nói chuyện với ông
S. này trong những lúc ngồi chờ vào gặp Thiếu Tướng Khiêm.
Ông ta trong ngành tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài
Gòn, và nói tiếng Pháp sành sỏi.
Xin đóng ngoặc.
Với câu chuyện ngắn trên đây
giúp tôi nghĩ, có lẽ từ vị trí quan trọng của cựu Ðại
Tướng Khiêm lúc ấy nên ông đưa điều kiện với Trung Tướng
Dương Văn Minh và Thiếu Tướng Lê văn Kim, theo đó ông tham
gia đảo chánh nhưng phải để Tổng Thống Ngô Ðình Diệm
lưu vong. Tôi nói "vị trí quan trọng" vì lẽ lúc ấy cựu
Ðại Tướng Khiêm đang giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân,
và là người mà tình báo Hoa Kỳ móc nối đầu tiên vào cuộc
đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm.
Liệu nguyên nhân chính dẫn đến
cuộc đảo chánh này là do kế hoạch của chánh phủ Hoa Kỳ,
hay bắt nguồn từ chính sách đàn áp Phật Giáo của Tổng
Thống Ngô Ðình Diệm? Tôi nghĩ, nếu không có sự kiện đàn
áp Phật Giáo thì Hoa Kỳ cũng bằng cách nào đó để thực
hiện cuộc lật đổ, vì nếu không thì mục tiêu thiết lập
căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không thực
hiện được, và như vậy có nghĩa là một "mắt xích" trong
chiến lược Domino của họ không hoàn thành.
Phải chăng sự mâu thuẫn giữa
chánh phủ với Phật giáo ngày càng tệ hại, lại là cơ hội
thuận lợi cho Hoa Kỳ nhập cuộc theo cách của họ? Và cho
dù thế nào đi nữa, rõ ràng là họ đã thành công.
Giả thuyết rằng, nếu cuộc đảo
chánh không phải bắt nguồn từ Hoa Kỳ, thì liệu quí vị
Tướng Lãnh Việt Nam có tự mình quyết định đảo chánh
để đem lại sự bình đẳng giữa hai tôn giáo lớn nói riêng,
và ổn định tình hình nội bộ nói chung không? Tôi nghĩ,
chắc là không. Vì thực hiện một cuộc đảo chánh, đã khó,
nhưng được hay không được Hoa Kỳ ủng hộ là điều khó
hơn, vì cho dù có thành công mà không được Hoa Kỳ ủng hộ
thì sớm muộn gì cũng bị đồng đội lật đổ. Còn nữa,
nếu lật đổ thành công rồi, mà chưa chuẩn bị một sách
lược lãnh đạo vừa chống cộng sản vừa xây dựng quốc
gia, thì quí vị cầm quyền sẽ bị bối rối với những kế
hoạch vá víu trong khi tình hình đòi hỏi mục tiêu và đường
lối thực hiện phải rõ rệt, dứt khoát, và thực hiện ngay.
Vị Tướng nào đã ra lệnh giết
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu,
và ai là người xuống tay giết hai ông? Hoặc giả là so dự
nhầm lẫn nào đó giữa người ra lệnh với người nhận
lệnh? Theo bác sĩ Huỳnh Văn Hưởn, Y Sĩ trưởng bệnh xá
Tổng Tham Mưu lúc ấy (về sau có lúc là Tổng Trưởng Y Tế),
người phụ trách khám nghiệm và lau vết thương cho hai ông,
thì cả hai ông vừa bị bắn vừa bị đâm bằng lưỡi lê.
Hai trong số ít người liên quan trực tiếp đến cái chết
của ông Diệm và ông Nhu là Trung Tướng Mai Hữu Xuân và Thiếu
Tá (đã thăng cấp) Nguyễn Văn Nhung, cả hai đã chết rồi.
Chỉ còn lại cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh và cựu Ðại
Tá Dương Hiếu Nghĩa, là hai vị có tiếng nói chính xác hơn
hết. Chữ "trực tiếp" mà tôi dùng ở đây có nghĩa là người
ra lệnh giết, người giết, hoặc người nghe thấy người
ra lệnh hay trông thấy người giết. Và liệu cựu Chuẩn Tướng
Phan Hòa Hiệp có thể là nhân chứng chính xác nữa trong vụ
này không?
Xin mở ngoặc. Tôi bổ túc đoạn
trên vào tháng 10 năm 2003, thì cựu Ðại Tướng Dương Văn
Minh đã từ trần trước đó mấy tháng. Vậy, nhân chứng
còn lại là cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa. Nhưng năm 2006,
cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa đã xuống tóc vào chùa tu
học. Xin đóng ngoặc.
Nếu như Trung Tướng Dương Văn
Minh ra lệnh giết thì tại sao khi tôi trình đoàn xe đón Tổng
Thống và Cố Vấn về đến, ông lại gọi các vị có mặt
cùng xuống gặp hai vị ấy, vì chính ông phải biết việc
gì xảy ra rồi chớ? Hoặc cũng có thể là Trung Tướng Minh
đã ra lệnh giết nhưng vẫn ra vẻ như không hay biết gì về
cái chết của hai ông ấy? Chính trị mà! Trong số các vị
có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, tôi không trông thấy
nét mặt, cử chỉ, hay thái độ của vị nào biểu lộ một
chút gì khác thường giữa các vị với nhau trước khi lần
lượt bước xuống thang lầu để gặp Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Hoặc là không ai ra lệnh
giết, hoặc là vị nào đó quá kín đáo chăng?
Khi đoàn xe rời nhà thờ Cha Tam
trở về Bộ Tổng Tham Mưu trên chiếc M113 chở ông Diệm và
ông Nhu chỉ có Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung và vài quân nhân
trách nhiệm trên chiếc Thiết Vận Xa này. Thiếu Tá Dương
Hiếu Nghĩa ngồi xe Jeep cùng với Ðại Úy Phan Hòa Hiệp (cấp
bậc trong lúc đảo chánh). Ðại Úy Hiệp cho biết như vậy.
Sở dĩ tôi nói đến Thiếu Tá Nghĩa là vì có dư luận cho
rằng Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc Thiết Vận Xa M113
với Ðại Úy Nhung.
Nếu thật sự Thiếu Tá Nghĩa cùng
ngồi trên chiếc Jeep với Ðại Úy Hiệp, điều đó cũng chưa
đủ yếu tố để loại trừ giả thuyết Thiếu Tá Nghĩa không
phải là sát thủ, vì có lúc đoàn xe phải dừng trước cổng
xe lửa chắn ngang đường khi xe lửa chạy qua. Ðó là khoảng
thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ cho một sát thủ ra
tay. Nhưng cũng không thể căn cứ vào đây mà cho rằng Thiếu
Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan đã giết Tổng Thống Diệm
và ông Cố Vấn Nhu, vì Thiếu Tá Nghĩa là một sĩ quan bộc
trực, thẳng tính, rất nhiệt tâm với nhiệm vụ trong binh
chủng Thiết Giáp, và chưa hề có tai tiếng gì trước biến
cố chính trị này. Ðồng ý rằng, Thiếu Tá Nghĩa là một
sĩ quan rất can đảm, và khi lâm trận thì vị chỉ huy này
không nương tay với kẻ thù, nhưng giết một người không
phải là kẻ thù mà người đó lại là một Tổng Thống hay
Cố Vấn của Tổng Thống, thì điều đó không phải là điều
mà Thiếu Tá Nghĩa hành động như một sát thủ. Nhưng những
lý lẽ trên đây cũng chưa đủ để loại trừ giả thuyết
"Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan thi hành lệnh giết
Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu". Và đối với tôi,
Thiếu Tá Nghĩa vẫn là một nghi vấn nhưng mức độ thấp
hơn nghi vấn đối với Ðại Úy Nhung.
Với Ðại Úy Nhung. Chính xác là
Ðại Úy Nhung ngồi trên chiếc thiết vận xa M113 chở Tổng
Thống và Cố Vấn. Ðại Úy Nhung, ít ra là hai lần trước
biến cố chính trị này, anh khoe với tôi rằng, mỗi lần
anh giết một người thì anh khắc lên báng súng của anh một
vạch. Anh đưa báng súng cho tôi xem, lúc ấy có năm vạch khắc
theo chiều thẳng đứng ở bên trái báng súng. Căn cứ vào
lời nói và dấu tích trên báng súng, tôi cho rằng Ðại Úy
Nhung là một sĩ quan đã từng giết người nếu không nói
là thông thạo thì cũng là quen tay. Xin nói thêm, hành động
giết người và hành động bắn chết địch quân ở chiến
trường là hai hành động khác nhau. Nhưng như vậy cũng chưa
thể kết luận Ðại Úy Nhung là sát thủ trong trường hợp
này, vì không trông thấy tận mắt và cũng không nghe chính
Ðại Úy Nhung tự nói về sự kiện đó.
Nhưng nhìn vào khía cạnh khác, tôi
có nghi vấn cao nhất về Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung với cái
chết của Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu. Ðại Úy Nhung
là sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh, mà tùy
viên thì luôn luôn có mặt bên cạnh vị Tướng của mình.
Trong trường hợp này, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân cùng đoàn
tùy tùng có nhiệm vụ đến nhà thờ Cha Tam (trong Chợ Lớn)
đón Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu về Bộ Tổng Tham
Mưu, Ðại Úy Nhung không có lý do gì để có mặt trong thành
phần này cả. Nếu cho rằng, Ðại Úy Nhung tự ý tháp tùng
để sau này khoe với bạn bè là anh đã góp mặt trên đoàn
xe lịch sử đó đi nữa thì tại sao Ðại Úy Nhung -và chỉ
một mình Ðại Úy Nhung- được ngồi trên chiếc Thiết Vận
Xa M113 chở Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Sự kiện
này phải được Thiếu Tướng Xuân chỉ định hay ít ra cũng
là đồng ý. Và liệu có phải Thiếu Tướng Xuân tự mình
ra lệnh cho Ðại Úy Nhung hay là thi hành theo lệnh của Trung
Tướng Minh? Tôi nói như vậy vì chỉ có Trung tướng Minh -người
đứng đầu nhóm lãnh đạo đảo chánh- mới có thẩm quyền
ra lệnh cho Thiếu Tướng Xuân mà thôi. Với lại Ðại Úy
Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Minh thì không vị
Tướng nào dám sử dụng Ðại Úy Nhung trong nhiệm vụ giết
Tổng Thống và Cố Vấn được. Vậy, Ðại Úy Nhung có mặt
trong đoàn xe "lịch sử" này và một mình ngồi trong xe chở
Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, phần chắc phải là
do lệnh của Trung Tướng Dương Văn Minh.
Nếu chính xác là Trung Tướng Minh
ra lệnh cho sĩ quan tùy viên của mình là một thành viên trong
đoàn xe lịch sử này thì lệnh đó có mục đích gì, chẳng
lẽ cho Ðại Úy Nhung đi theo chơi? Suy đoán như vậy nghe không
ổn chút nào. Nhưng đến đây cũng chưa thể quả quyết rằng
Ðại Úy Nhung là người hạ sát Tổng Thống Diệm và ông
Cố Vấn Nhu bằng súng và lưỡi lê, vì đây là vấn đề
lịch sử nên không thể kết luận thủ phạm khi chưa đủ
chứng cớ chính xác, mà đương sự đã chết rồi. Thôi thì
để anh yên nghỉ!
Ðến đây, tôi có câu chuyện ngắn.
Hai mươi tám năm sau, vào giữa tháng 11 năm 1991, tôi và một
số bạn có dịp dùng cơm tại nhà cựu Ðại Tá Nguyễn Linh
Chiêu (Orange County, nam California) mà tôi thường gọi ông là
"đại ca", vì ông lớn tuổi hơn tôi và thâm niên hơn tôi
nhiều. Hôm ấy "đại ca" tôi thuật lại câu chuyện có liên
quan đến câu tự hỏi của tôi nêu trên. Chuyện như thế
này:
Ðầu năm 1991, nhân chuyến ông sang
Paris dự lễ cưới của vị Tướng đã một thời là Tổng
Tham Mưu Trưởng quân đội quốc gia Việt Nam trong khuôn khổ
quân đội Liên Hiệp Pháp, "đại ca" tôi tổ chức bữa ăn
thân mật sau khi được cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh và
cựu Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhận lời. Mục đích của
bữa ăn là anh Chiêu -bạn thân của hai vị cựu Tướng Lãnh
thực khách- muốn giúp hai vị làm hòa nhau mà tình bạn giữa
hai ông đã rạn nứt từ sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm
1963. Theo anh Chiêu thì mục đích đã đạt được, và trong
không khí vui vẻ đó, anh có nêu câu hỏi với cựu Ðại Tướng
Minh:
"Anh có thể cho biết câu "mission
accomplie" mà anh Xuân (tức Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân) trình
với anh hôm 2 tháng 11 năm 1963 có nghĩa như thế nào không?"
"Nhiệm vụ hoàn thành thì báo cáo
hoàn thành. Có vậy thôi"
Anh Chiêu chưa chịu thua và hỏi
lại, thì cựu Ðại Tướng Minh nói:
"Anh hiểu sao thì hiểu"
Câu trả lời đúng là hiểu sao
thì hiểu.
Hết câu chuyện.
Cũng vào cuối năm 1991, người bạn
mới quen của tôi ở San Jose, tiến sĩ sử học Hoàng Ngọc
Thành, lúc ấy đang viết cuốn "Những Ngày Cuối Cùng Của
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm", tôi có cung cấp cho ông một
số dữ kiện cần thiết theo yêu cầu của ông. Ông nói rằng,
ông được đọc một tài liệu mà cựu Ðại Tướng Minh viết
theo lệnh của nhà cầm quyền cộng sản (sau tháng 4/1975),
theo đó, cựu Ðại Tướng Minh nhận là ông đã ra lệnh giết
Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Nghe thì nghe vậy nhưng
thật ra tôi cũng không hiểu là bằng cách nào mà ông bạn
tôi xem được tài liệu đó nữa. Với tôi, những gì mà người
chiến sĩ chống cộng sản cho dù người đó là một Tổng
Thống hay một sĩ quan bình thường, phải viết theo lệnh của
cộng sản trong trại tập trung hay tại cơ quan của chúng,
và viết dưới sự hướng dẫn của những tên gọi là cán
bộ Công An cho đến khi chúng chấp nhận mà chúng gọi là
"đạt yêu cầu", thì không thể xem đó là chính xác được.
Vì vậy mà theo tôi, không nên căn cứ vào đó để kết luận
cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh là người ra lệnh giết Tổng
Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, cho dù ông có khai thật với
cộng sản cũng vậy. Nhưng dù thế nào đi nữa, với tôi,
cựu Ðại Tướng Minh vẫn là vị duy nhất mà tôi đặt nghi
vấn cao nhất về người đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.
Cuối năm 1993, nhân đến nhà người
bạn cùng khóa với tôi để thăm một vị Tướng trước kia
phục vụ tại Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu, và nhân lúc câu chuyện
xoay quanh cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, bạn tôi
nói rằng: "Tôi có người bạn thân, trước kia thường chơi
quần vợt với Ðại Tướng Minh, một hôm Ðại Tướng Minh
có nói là trước khi chết, ông để lại tập hồi ký cho
các con ông. Nếu đúng như vậy thì câu trả lời chính xác
chỉ có được khi cựu Ðại Tướng Minh an giấc ngàn thu chăng?
Năm 2003, cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh từ trần, nhưng
tôi không rõ là ông có để lại cuốn nhật ký như lời bạn
tôi đã nói hay không.
Ðến cựu Ðại Tá Dương Hiếu
Nghĩa, năm 1998 định cư tại tiểu bang Washington. Theo tôi,
anh Nghĩa là một trong những nhân chứng của cuộc đảo chánh
ngày 1 tháng 11 năm 1963 nói chung, và có thể là nhân chứng
duy nhất trong vụ giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn
Nhu nói riêng. Tôi với anh là bạn thân từ năm 1961 khi anh
đang là Quận Trưởng quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long. Khi vào
tù, chúng tôi bị giam chung "lán trại" giữa rừng già Yên
Bái, ăn chung mâm, ngủ sát cạnh nhau trên vạt giường làm
bằng cây chổm trong nhiều năm liền. Có những lúc nhắc đến
ngày 1 tháng 11 năm 1963, tôi cố gắng tìm hiểu những nghi
vấn về cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn
Nhu, nhưng không bao giờ anh hé môi nửa lời về điều đó.
Tôi biết anh Nghĩa có nói với Trung
Úy Ðồng, Phòng 3 Tiểu khu Vĩnh Long khi anh là Tỉnh Trưởng
tỉnh này, theo đó, "anh biết người giết ông Diệm và ông
Nhu, nhưng chưa thể nói được". Tôi tin lời anh Nghĩa, nhưng
không biết là lúc nào anh mới nói được. Bởi vì chưa thể
nói được, có nghĩa là sẽ nói chớ không phải không nói.
Dưới đây là bài viết của cựu
Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, anh gởi tặng tôi một bản do
cựu Ðại Tá Nhan Minh Trang trao lại. Ðược sự đồng ý của
anh Nghĩa qua đường dây điện thoại vào đầu tháng 11 năm
1998, tôi xin trích phần liên hệ đến cái chết của Tổng
Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu đưa vào
ấn bản lần thứ 3 vào tháng 12 năm 1998. Với hy vọng phần
trích đăng này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những tin tức
về cái chết có tầm vóc lịch sử của hai vị lãnh đạo
Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tạo nên tiếng vang quốc
nội lẫn quốc tế trong những năm 50 và 60. Tiếng vang tốt
hay không tốt, hoặc cả hai, điều đó tùy quí độc giả.
Phần trích thuật bắt đầu.
"Tôi có dịp đến Houston khoảng
tháng 7 năm 1995, được người bạn tặng cuốn "Ðôi Dòng
Ghi Nhớ" của anh Phạm Bá Hoa, cựu Ðại Tá Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa. Không như "Lời Trần Tình" quá khiêm nhường
của anh, quyển sách tuy không chánh thức là một sử liệu,
nhưng nó đóng góp rất nhiều cho các sử gia, vì anh được
ở vào một vị trí rất quan trọng trong guồng máy hành chánh
và quân sự trong một giai đoạn lịch sử 1960-1968. Những
sự việc mà anh ghi lại thật là trung thực, rất đầy đủ
từng chi tiết, cũng như anh đã phân tách sự việc rất vô
tư, khách quan. Trong quyển sách, anh nói không ít về cái chết
của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm".
"Về sự việc lịch sử này, đã
có rất nhiều người -kể cà người Mỹ- hỏi tôi từ sau
ngày 2 tháng 11 năm 1963 cho tới giờ này. Ai cũng muốn biết
rõ chi tiết của sự việc đã xảy ra trên chiếc Thiết Vận
Xa trong đoàn xe mà cá nhân tôi có trách nhiệm an ninh hộ tống
hôm đó. Tác giả quyển "Ðôi Dòng Ghi Nhớ" chỉ nêu lên một
số dữ kiện, một số suy luận, một số giả thuyết, và
nghi vấn chung quanh sự việc nói trên, mà không hề có ý xác
quyết ai là người đã ra lệnh và ai là người đã thi hành
lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô
Ðình Nhu. Ðây là điểm hoàn toàn khác biệt với một vài
quyển hồi ký khác đã được xuất bản mà tôi có dịp đọc".
"Liên quan đến sự việc này, tôi
muốn nói đến vài quyển hồi ký mà tác giả đã có nhận
xét thiếu chính xác, có khi còn sai lạc hẳn. Sự việc cũng
không được phân tách cho đúng lý đúng tình. Có tác giả
đã kể lại sự việc mà chính mắt tác giả không mục kích
được, tai cũng chỉ nghe lỏm bõm diễn tiến mà người thuật
cũng không phải người trong cuộc. Hoặc là viết theo một
số dữ kiện do quá nhiều người thuật lại theo cái nghe
được hay theo lập luận một chiều. Ðặc biệt là cựu Trung
Tướng Nguyễn Chánh Thi, tác giả " Việt Nam, Một Trời Tâm
Sự", ông đã dựa trên lời khai nguyên văn của Ðại Úy Nguyễn
Văn Nhung (đúng ra là Thiếu Tá vì lúc bị bắt là ngày 30/01/1964,
anh Nhung đã thăng cấp Thiếu Tá rồi. PBH) mà ông được đọc
sau ngày "Chỉnh Lý 30 tháng 1 năm 1964", nên sự việc đó ông
viết rất chính xác. Nói rất rõ là ai thi hành lệnh giết
Tổng Thống và giết bằng cách nào..."
"Sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963,
Trung Tướng Dương Văn Minh chỉ định Thiếu Tướng Mai Hữu
Xuân và Ðại Tá Dương ngọc Lắm, vào nhà thờ Cha Tam trong
Chợ Lớn "đón họ" về đây (Họ, tức Tổng Thống Diệm
và ông Cố Vấn Nhu. Về đây, tức về Bộ Tổng Tham Mưu.
PBH). Tôi có mặt tại chỗ, vì tôi cùng Trung Ðội Thiết Vận
Xa vừa từ dinh Gia Long về tới, và trình Trung Tướng Minh
là Tổng Thống và ông Cố Vấn không có trong dinh Gia Long.
Do đó, tôi nhận lệnh của Trung Tướng Minh tiếp tục
cho Trung Ðội Thiết Giáp hộ tống Thiếu Tướng Xuân và Ðại
Tá Lắm vào nhà thờ Cha Tam "đón họ" (nguyên văn của Trung
Tướng Minh). Như vậy, tôi được biết Thiếu Tướng Xuân
nhận lệnh trực tiếp của Trung Tướng Minh, nhưng tôi không
biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận lệnh mật gì của Trung
Tướng Minh không. Cũng ngay lúc đó, tôi được Ðại Tá Nguyễn
Văn Quan -bạn thân của Trung Tướng Minh- cho biết, trong khi
tôi xuống dinh Gia Long thì ông Diệm và ông Nhu đã bí mật
vào trong Chợ Lớn, và hiện ở nhà thờ Cha Tam. Từ nhà thờ,
hai ông đã liên lạc điện thoại với các Tướng Lãnh. Ngay
sau đó, Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng quyết định dứt
khoát, ít nhất là số phận của ông Ngô Ðình Nhu, bằng mọi
cách phải diệt trừ hậu họa. Thiếu Tướng Xuân, Ðại Tá
Quan, Ðại Tá Lắm, Ðại Tá Ðỗ Mậu, ... đều có mặt trong
cuộc thảo luận để lấy quyết định có tính cách lịch
sử nói trên, cùng với Trung Tướng Dương Văn Minh, Thiếu
Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Phạm Xuân
Chiểu. ..v..v.."
"Tôi cũng được Ðại Tá Quan cho
biết thêm rằng, Trung Tướng Minh, người chỉ huy cuộc đảo
chánh, đã nhanh chóng đưa ra quyết định rất dứt khoát để
Hội Ðồng lấy quyết định chung. Các vị hiện diện lúc
đó, không ai góp thêm ý kiến gì. Lúc đó im lặng được
xem là đương nhiên chấp thuận đề nghị của Trung Tướng
Minh. Thật ra, từ 11 giờ đêm 1 tháng 11 năm 1963, trong lúc
tình hình chưa ngã ngủ hẳn, các Tướng Lãnh đã có bàn bạc
riêng với nhau trước về số phận của ông Ngô Ðình Nhu
rồi. Riêng đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thì hầu
hết đều tán thành cho Người (viết hoa) đi ra ngoại quốc,
không thấy vị nào phát biểu khác hơn. Do đó, khi Thiếu Tướng
Xuân nhận lệnh đi đón Tổng Thống là ông biết mình sẽ
phải làm gì rồi, ít nhất là đối với ông Cố Vấn Ngô
Ðình Nhu. Còn đối với Tổng Thống thì lúc bấy giờ tôi
hoàn toàn không biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận được
mật lệnh gì thêm từ Trung Tướng Dương Văn Minh hay không."
"Ðoàn xe khởi hành từ Bộ Tổng
Tham Mưu khoảng 6 giờ sáng. Hai xe Quân Cảnh dẫn đầu, xe
Jeep của tôi và Ðại Úy Phan Hòa Hiệp, kế đó là xe Jeep
Thiếu Tướng Xuân rồi xe Ðại Tá Lắm, và đoàn xe hộ tống
gồm Trung Ðội Thiết Vận Xa 5 chiếc (4 xe đi đầu có bộ
binh tùng thiết, và xe sau cùng là của Trung Ðội Trưởng).
Tôi xin nói rõ thêm. Tôi thấy không có dự trù xe nào chở
Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, nên tôi có hỏi Thiếu Tướng
Xuân trước khi khởi hành, thì ông nói nhanh và cộc lốc "không
cần". Tôi nghĩ, chắc là ông đã có phương cách rồi nên
không muốn chúng tôi quấy rầy làm mất luồng suy tính của
ông trong lúc ông có mission (nhiệm vụ) quá đặc biệt, có
lẽ đặc biệt hơn bao giờ hết trong cuộc đời Cảnh Sát
Công An của ông. Trước khi khởi hành, tôi và Ðại Úy Hiệp
nhìn thấy Ðại Úy Nhung ngồi trên một trong bốn chiếc thiết
vận xa sau xe Jeep chúng tôi. Ðại Úy Hiệp hỏi tôi về sự
hiện diện của vị sĩ quan bộ binh lạ mặt này. Tôi giải
thích sơ qua, đó là Ðại Úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Trung
Tướng Dương Văn Minh, và có xác nhận với Ðại Úy Hiệp
rằng: "Ðại Úy Nhung có hỏi tôi để được cùng đi với
Trung Ðội Thiết Vận Xa. Tôi nghĩ, có lẽ Ðại Úy Nhung có
nhiệm vụ gì đó do Trung Tướng Minh đích thân giao cho, nên
tôi không tiện hỏi vì không liên quan gì đến nhiệm vụ
an ninh hộ tống của chúng mình".
"Tôi không muốn nói rõ với Ðại
Úy Hiệp, nhưng cá nhân tôi đã biết là Ðại Úy Nhung được
Trung Tướng Minh sai đi theo đoàn xe để thi hành quyết định
của Hội Ðồng. Quyết định liên quan đến ông Cố Vấn
Ngô Ðình Nhu. Quyết định này đã được chuyển thành lệnh
và được Trung Tướng Minh trao cho Ðại Úy Nhung thi hành. Vì
chắc chắn Trung Tướng Minh không còn thấy ai hơn người sĩ
quan cận vệ thân tín này để thi hành một công tác đặc
biệt, khó khăn và quan trọng nói trên. Tôi dùng danh từ "mật"
là vì nếu Trung Tướng Minh có dặn dò điều gì với Ðại
Úy Nhung thì không một ai trong Hội Ðồng nghe thấy được.
Và nếu có ra lệnh cho Ðại Úy Nhung thi hành quyết định
công khai của Hội Ðồng, về một mình ông Cố Vấn Nhu hay
cho cả hai ông, thì cũng không một ai trong Hội Ðồng nghe
thấy được. Nhưng tôi khẳng định là Trung Tướng Minh có
sai Ðại Úy Nhung -tức là đã ra lệnh cho Ðại Úy Nhung- và
lệnh được đưa ra theo quyết định của Hội Ðồng Quân
Nhân Cách Mạng. Ít nhất là liên hệ đến ông Cố Vấn Ngô
Ðình Nhu. Tôi xin nói rõ lại một lần nữa, là chỉ liên
quan đến ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Vì nếu Trung Tướng Minh
không ra lệnh thì không còn ai trong Hội Ðồng có đủ thẩm
quyền để ra lệnh đặc biệt này? Cũng như nếu không sai
Ðại Úy Nhung, thì tại sao Ðại
Úy Nhung lại phải nói với
tôi cho anh được ngồi trên chiếc thiết vận xa để được
cùng đi vào Chợ Lớn?"
"Nhưng tôi cũng xác định là dù
có sai Ðại Úy Nhung hay ra lệnh cho Ðại Úy Nhung, Trung Tướng
Minh cũng là sai mật hay dặn dò mật mà thôi. Như vậy là
đến đây, chúng ta không còn thắc mắc gì về người nào
đã ra lệnh và lệnh xuất phát từ đâu. Cá nhân hay tập
thể Hội Ðồng, Ðại Tá Dương Ngọc Lắm, chắc chắn phải
biết rõ mật lệnh mà Trung Tướng Minh đã giao cho Thiếu Tướng
Xuân. Vì nếu không thì tại sao đích thân ông đến gặp tôi
để dặn dò tôi trước khi đoàn xe khởi hành:
"Nè, mấy người đừng có nói gì
bậy bạ nghe".
"Tôi cũng biết chắc chắn ngay từ
lúc bàn thảo kế hoạch sơ khởi trước tháng 11 năm 1963,
các vị Tướng Tá trong nhóm lãnh đạo đảo chánh đã có
dự trù một giải pháp dứt khoát đối với ông Cố Vấn
Ngô Ðình Nhu. Sự dự trù đã trở thành quyết định từ
sau 1 giờ trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ðó là truy tố ra tòa
và xử ngay trong nước, không cho ra ngoại quốc. Tôi xin lặp
lại, sơ khởi là như vậy. Nhưng theo lời Ðại Tá Nguyễn
Văn Quan (không phải Ðại Tá Ðặng Văn Quang. PBH) nói với
tôi, lúc khuya rạng sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963 khi chưa được
tin Tổng Thống và ông Cố Vấn rời khỏi dinh Gia Long, đa
số trong Hội Ðồng không còn ý đưa ông Cố Vấn Nhu ra tòa
nữa, mà nhất quyết phải trừ hậu họa bằng mọi cách.
Rõ ràng là như vậy. Lúc bấy giờ tình hình chưa ngã ngũ.
Dinh Gia Long chưa chiếm được, lực lượng phòng vệ Phủ
Tổng Thống chưa buông súng đầu hàng, vì cũng chính ông Cố
Vấn được qui trách cho mọi xáo trộn trong nước, làm mất
lòng Dân Quân Cán Chánh, ... "
"Riêng đối với Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm, tuy chưa có quyết định dứt khoát, nhưng qua trao
đổi ngoài hành lang thì đa số các vị trong Hội Ðồng có
ý tán thành một giải pháp ôn hòa. Ðó là, để ổng ra ngoại
quốc một mình như một dân thường, không được hưởng
lễ nghi quân cách của một Tổng Thống. Biện pháp này coi
như là một ân huệ đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.
Tuy nhiên, theo lời Ðại Tá Quan xác nhận lại với tôi, thì
Trung Tướng Minh vẫn còn im lặng, chưa có ý kiến".
"Khi được biết Tổng Thống và
ông Cố Vấn đã bí mật rời khỏi dinh Gia Long, thì tình hình
thật sự có thay đổi trong chiều hướng bất lợi cho hai
ông. Khi còn chưa rõ hai ông ở đâu thì Hội Ðồng có phần
lo âu, vì dù đảo chánh có thành công mà hai ông chạy thoát
được thì tình hình chính trị ra sao đây? Chẳng những không
có sự ổn định trong tương lai, mà sẽ có một sự chia rẽ
có thể dẫn tới tranh chấp quyền lực, nếu không muốn nói
là nội chiến ngay tại miền nam Việt Nam! Và nỗ lực chống
cộng sản sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Nhất là đến giờ
này, Tướng Huỳnh Văn Cao ở Vùng IV Chiến Thuật chưa chịu
tuyên bố chánh thức trên đài phát thanh đứng về phía Hội
Ðồng, mặc dầu được yêu cầu nhiều lần. Vùng IV có 3
Sư Ðoàn Bộ Binh được kềm giữ trong thế án binh bất động
nhờ công của Thiếu Tá Nhan Minh Trang, Thiếu Tá Huỳnh Văn
Tồn, và Ðại Tá Nguyễn Hữu Có".
"Do đó, từ quyết định ôn hòa
trước đó, đã có một số không ít thành viên trong Hội
Ðồng bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn và quyết liệt hơn,
nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, linh hồn của cuộc đảo
chánh. Ông không muốn thấy ngày 11 tháng 11 năm 1960 tái diễn
(11/11/1960 là ngày Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh thất
bại phải vượt thoát lưu vong. PBH). Chúng ta phải thấy được
trách nhiệm nặng nề của người chỉ huy cuộc hành quân
đảo chánh lúc bấy giờ, mới biết được mức độ lo âu
nóng ruột của Trung Tướng Dương Văn Minh như thế nào. Từ
đó mới thấy thái độ của Trung Tướng Minh qua đề nghị
của Trung Tướng để Hội Ðồng lấy quyết định về trường
hợp cá nhân của ông Ngô Ðình Nhu, dứt khoát, không thể
do dự hay yếu mềm được."
"Có người nói là trước khi đoàn
xe khởi hành, Trung Tướng Minh đứng trên lầu tòa nhà chánh
Bộ Tổng Tham Mưu, hướng về Thiếu Tướng Xuân hay Ðại
Úy Nhung, đưa ra hai ngón tay (ý nói là cả hai người), nhưng
tôi xác nhận là hoàn toàn không trông thấy. Tôi biết rõ
tính trầm tĩnh và suy tính chín chắn của Trung Tướng Minh,
nên tôi chắc chắn là ông không bao giờ có hành động vào
phút chót quá lộ liễu như vậy. Nếu có ra lệnh, chắc chắn
ông đã có đắn đo suy tính kỹ càng trước rồi, và ông
đã phải dặn dò ngay Ðại Úy Nhung chớ không bao giờ ông
lại ra lệnh để cho người ta thấy dễ dàng như vậy."
"Tôi xin mở thêm dấu ngoặc ở
đây. Trước khi khởi hành, tôi có ghé ngang bộ chỉ huy Thiết
Giáp hành quân đặt trên chiếc bán xích xa đậu cạnh tòa
nhà chánh, báo cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiện biết về hướng
đi và nhiệm vụ của tôi. Tôi tuyệt đối không nói thêm
điều nào, vì Trung Tá Thiện không phải là thành viên của
nhóm đảo chánh. Trung Tá Thiện là cán bộ nòng cốt của
đảng Cần Lao, là người tín cẩn của Tổng Thống và ông
Cố Vấn, nên bị giữ ở phòng họp từ trưa hôm qua (1/11/1963).
Tôi xin với Trung Tướng Minh cho tôi lãnh ông ra và tôi hoàn
toàn trách nhiệm. Ðược chấp thuận, và Trung Tá Thiện chỉ
huy Thiết Giáp trong cuộc hành quân này. Sau đảo chánh, ông
được thăng cấp Ðại Tá và giữ nguyên chức vụ Chỉ Huy
Trưởng binh chủng Thiết Giáp."
"Ðoàn xe đến nhà thờ Cha Tam, Ðại
Úy Hiệp giúp tôi lo bố trí an ninh. Tôi đến gặp Thiếu Tướng
Xuân và Ðại Tá Lắm để nhận lệnh. Cả hai ông, không ai
chịu vào nhà thờ để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn.
Tôi không rõ tại sao, dù đó là nhiệm vụ của hai ông, và
bảo tôi đại diện Hội Ðồng vào mời Tổng Thống và ông
Cố Vấn ra xe là được rồi. Tôi vào nhà thờ qua cổng nhỏ
bên mặt cổng chánh. Nhưng khi bước vào khỏi cổng khoảng
10 thước, tôi sực nhớ là mình vào một cơ sở tôn giáo
không nên mang theo vũ khí. Tôi vội trở ra cổng, cởi súng
lục trao cho tài xế của tôi. Lúc này người dân chung quanh
thấy có việc lạ, tò mò đứng lố nhố đầy cả ngã ba
trước rào sắt của nhà thờ. Binh sĩ cũng không gắt gao cho
lắm, và chắc chắn bây giờ người dân đã biết được
là Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu đang ở trong nhà thờ này."
"Tôi lại bước
vào nhà thờ lần
thứ hai, không súng, và vẫn một mình. Tôi không nhìn lại
phía sau, nhưng nghĩ bụng là anh em Thiết Giáp ở ngoài rào
sắt, chắc cũng đã bố trí theo dõi và an ninh cho tôi, vì
biết rằng, tôi vào đây không một tấc sắt trong tay. Tôi
mạnh dạn bước tới. Rẽ về tay mặt. Ði tới khoảng 20
thước thì thấy từ phía dãy nhà bên hông phải của nhà
thờ có 4 người đi về hướng tôi. Ðó là Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm tay cầm gậy, ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, và 2 người
mặc thường phục. Tôi nghĩ bụng, một trong hai người mặc
thường phục có xách chiếc cặp da phải là Ðỗ Thọ, tùy
viên của Tổng Thống. Người thứ tư tôi không biết. Mãi
sau này tôi mới biết là Ðại Úy An, sĩ quan cận vệ của
Tổng Thống. Tôi nghĩ, chắc là Tổng Thống đã được Hội
Ðồng báo trước rồi, nên khi nghe thấy xe tới nhà thờ là
Tổng Thống đi ra. Tôi đứng lại. Chờ. Nhưng vẫn không để
ý xem hai sĩ quan này có võ trang hay không. Và khi Tổng Thống
đến còn cách tôi khoảng 3 thước, tôi đứng nghiêm lại,
đưa tay lên mũ, chào đúng lễ nghi quân cách, và giữ nguyên
tư thế đứng nghiêm đó, tôi nói: "Thưa Tổng Thống, chúng
tôi có lệnh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đến đây
mời Tổng Thống và ông Cố Vấn về Bộ Tổng Tham Mưu. Có
Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đại diện cho Hội Ðồng, đang
đứng trước cửa chờ Tổng Thống".
"Tổng Thống đứng lại nghe tôi
trình bày và có nói một câu ngắn mà tôi nghe không rõ. Sau
đó, Ðại Úy Ðỗ Thọ bảo tôi đi trước, Tổng Thống sẽ
theo sau. Nhưng tôi đứng nép qua một bên, mời Tổng Thống
đi trước ra hướng cổng nhỏ bên phải. Cả 4 người qua
hết rồi, tôi mới lững thững bước theo sau, cách xa độ
3 thước. Dù sao, trong cương vị sĩ quan, tôi vẫn bắt buộc
phải giữ lễ độ đối với Tổng Thống dù đang trong hoàn
cảnh này. Và đi sau cũng có thể là một hành động phản
ứng đề phòng tự nhiên của tôi, chớ hoàn toàn không có
ý gì khác. Tôi đinh ninh rằng, Thiếu Tướng Xuân đã phải
có mặt trước cổng để hướng dẫn Tổng Thống lên xe về
Tổng Tham Mưu, vì đó là nhiệm vụ của ông. Ðến cổng rào,
vì là cổng nhỏ bên hông nên 4 người phải tuần tự qua
cổng. Tổng Thống đi trước, đến Ðại Úy Thọ, rồi mới
đến ông Cố Vấn, và Ðại Úy An. Tôi là người thứ 5 ra
khỏi cổng sau cùng".
"Ngay lúc bấy giờ, tôi chợt thấy
có chiếc Thiết Vận Xa đậu ngay cổng nhỏ này, cánh cửa
sau xe mở rộng, gác nằm xuống sát mặt lề đường. Tôi
thấy Thiếu Tướng Xuân và Ðại Úy Nhung đã có mặt tại
chỗ. Không có Ðại Tá Lắm. Thiếu Tướng Xuân bảo Ðại
Úy Ðỗ Thọ trao cho ông chiếc cặp da của Tổng Thống mà
Ðại Úy Thọ đang xách. Ông Xuân xách chiếc cặp đi ngay,
không nói lời nào khác ngoài việc khoác tay ra lệnh cho Ðại
Úy Thọ và Ðại Úy An đi theo ông".
"Ðại Úy Nhung hướng về phía Tổng
Thống và ông Cố Vấn Nhu, nói như ra lệnh: "Mời hai ông lên".
Vừa nói vừa chỉ vào cửa Thiết Vận Xa đã mở. Lúc này
Tổng Thống và ông Cố Vấn đứng cách cửa Thiết Vận Xa
khoảng 1 thước. Tổng Thống không nói lời nào, chưa có một
phản ứng nào về thái độ kém nhã nhặn của người sĩ
quan mà ông chưa hề biết mặt. Tổng Thống còn đang tần
ngần, sững sờ, thì ông Cố Vấn Nhu đã lên tiếng với vẻ
mặt bất bình:
"Tại sao lên xe này? Không còn xe
nào khác hay sao?"
"Không có. Vì lý do an ninh, tình
hình đang hỗn loạn. Dân chúng đang muốn giết hai ông đó.
Hai ông phải lên xe này thôi, để được bảo vệ".
"Ðại Úy Nhung c |