|
- hai -
Ðảo Chánh ngày 30
tháng 1 năm 1964
*****
Công du Nam Hàn (South Korea)
Ðầu tháng 12 năm 1963, Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm gọi tôi vào văn phòng:
"Chú thích đi du lịch không?"
"Rất thích, nhưng chưa có cơ hội
thưa Trung Tướng".
"Bây giờ có rồi. Chú liên lạc
sang văn phòng Trung Tướng Ðôn (Trần Văn Ðôn, Tổng Trưởng
Quốc Phòng) làm thủ tục đi Ðại Hàn (South Korea) với tôi".
Không ngờ là cơ hội tốt đến
với tôi trong hoàn cảnh đang vui, nên tôi xúc tiến ngay. Sau
đó, tôi mới biết đây là phái đoàn thay mặt chánh phủ
sang Ðại Hàn (Nam Triều Tiên) dự lễ nhậm chức của Tổng
Thống Pak Chung Hi vào ngày 17 tháng 12 năm 1963 tại thủ đô
Seoul. Phái đoàn chánh thức gồm:
- Ông Phạm Ðăng Lâm, Tổng Trưởng
Ngoại Giao, Trưởng phái đoàn.
- Trung Tướng Trần Thiện Khiêm,
Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên.
- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu,
Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, thành viên.
- Ðại Tá Linh Quang Viên, Bộ Quốc
Phòng, thành viên.
- Và tôi, Thiếu Tá Phạm Bá Hoa,
Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên.
Ngoài ra còn có gia đình của Trung
Tướng Khiêm và Thiếu Tướng Thiệu, thêm Ðại Úy Nguyễn
Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Khiêm, và Ðại
Úy Nhan Văn Thiệt, sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu.
Trong nhóm đi đầu là Ðại Tá Linh
Quang Viên, và tôi. Chúng tôi rời Sài Gòn ngày 8/12/1963, dừng
lại Tokyo 5 ngày chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho gia đình của
Trung Tướng Khiêm và Thiếu Tướng Thiệu, sẽ ngoạn cảnh
và mua sắm trong khi chờ các vị dự lễ bên Seoul trở lại.
Chúng tôi đến Seoul trưa ngày 13/12/1963 khi nhiệt độ nơi
đây xuống đến 5 độ dưới không độ C. Tạm thời chúng
tôi ở khách sạn Bando tại trung tâm thủ đô Seoul. Với sự
giúp đỡ của tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây,
chúng tôi hoàn thành công tác chuẩn bị: Ðại Tá Viên đã
xong bản tường trình về tình hình chính trị trước và sau
ngày bầu cử Tổng Thống của Ðại Hàn. Và tôi đã có đầy
đủ tin tức cũng như chương trình chi tiết trong ngày lễ
cùng những ngày sau đó dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng qua những buổi thuyết trình
ngắn của tòa đại sứ, chúng tôi hiểu thêm đôi nét về
thời gian cựu Tổng Thống Lý Thừa Vãng trong thời gian lãnh
đạo quốc gia này. Theo đó, nếu so với bà Ngô Ðình Nhu nặng
về chính trị, thì hoạt động của bà Lý Thừa Vãng nghiêng
về kinh tế, và khách sạn Bando là một trong rất nhiều cơ
sở kinh doanh của đệ nhất phu nhân họ Lý. Khi ông Lý Thừa
Vãng lưu vong, Ðại Tướng Pak Chung Hi nhân danh quân đội lên
cầm quyền. Ông có vị Cố Vấn phảng phất ông Ngô Ðình
Nhu lúc đương thời, đó là ông Kim Jong Pil. Vì vậy mà khi
Ðại Tướng Pak Chung Hi chánh thức tuyên bố ứng cử Tổng
Thống, ông Cố Vấn của Ðại Tướng Pak Chung Hi đã theo khuyến
cáo của Hoa Kỳ xuất ngoại để trấn an dư luận như là
ông không dính dáng đến chính trị, nhưng thật ra ông đã
chuẩn bị xong công tác tổ chức bầu cử trước khi xuất
ngoại. Sau đó, cuộc bầu cử đã diễn tiến như dự định
và Ðại Tướng Pak Chung Hi đắc cử. Ông Kim Jong Pil lại trở
về Seoul, vẫn trong chức vụ Cố Vấn.
Phần chánh của phái đoàn đến
phi trường Kimpo, thủ đô Seoul, trưa ngày 17/12/1963, tức là
ngày Ðại Hàn cử hành lễ nhậm chức Tổng Thống của ông
Pak Chung Hi. Cả phái đoàn đầy đủ được hướng dẫn lên
khu Walker Hill cách Seoul khoảng 8 cây số về phía bắc, một
khu thắng cảnh rất đẹp của Ðại Hàn, chỉ dành cho khách
ngoại quốc để thu ngoại tệ. Cả một vùng rừng núi được
biến thành khu du lịch với những khách sạn, nhà hàng, các
khu giải trí với nhiều môn khác nhau, xây dựng bên các sườn
núi mà hầu hết là nhìn xuống sông Hàn (Han river) uốn khúc
dưới chân. Vào mùa này, nước sông Hàn đóng băng trắng
xóa, trông rất đẹp.
Ðến nơi, vừa mang hành lý vào
phòng là Trung Tướng Khiêm gọi tôi:
"Mấy giờ bắt đầu lễ vậy chú?"
"Dạ 3 giờ chiều, thưa Trung Tướng".
Ông nhìn đồng hồ:
"Ngay bây giờ, chú chạy đi tìm
mua cho tôi "cặp lon 3 sao", vì trong cặp tôi chỉ có "3 sao"
cho một bên áo thôi".
"Vâng".
Chẳng hiểu Ðại Úy Nguyễn Hữu
Có ở Tokyo, khi chuẩn bị hành lý cho "xếp" lại gấp gáp
thế nào mà chiếc áo đại lễ của Trung Tướng Khiêm chỉ
có một bên 3 ngôi sao, nghĩa là thiếu 3 ngôi sao cho cầu vai
bên kia (cấp hiệu Trung Tướng biểu hiện bằng 3 ngôi sao
mỗi bên cầu vai).
Nhận lệnh của Trung Tướng Khiêm
là như vậy, nhưng tôi chưa biết phải làm sao mua cho kịp.
Chợt nhớ anh sĩ quan Công Binh tại Bộ Quốc Phòng Ðại Hàn,
Thiếu Tá Choi, sĩ quan tùy viên cho phái đoàn chánh phủ Việt
Nam Cộng Hòa và anh ta trình diện Ðại Tá Linh Quang Viên tại
sân bay trước khi phái đoàn đến. Ra phòng khách, tôi nói
với anh về nhu cầu gấp rút đó và hy vọng anh ta giúp tôi
được. Anh ta hỏi:
"Anh sẵn sàng chưa?"
"Sẵn sàng".
Thế là chúng tôi lên xe của phái
đoàn có cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa và xe Cảnh Sát của Ðại
Hàn dẫn đường chạy xuống Seoul. Quanh co một lúc, cả hai
xe đậu ngoài đường cái, tôi theo Thiếu Tá Choi trên con đường
hẻm vào gian hàng nhỏ ơi là nhỏ nằm sâu trong con đường
thưa vắng người qua lại. Mua ngay "cặp lon 3 sao" mà không
cần trả giá. Chúng tôi về đến Walker Hill vừa vặn cùng
phái đoàn lên xe xuống Seoul dự lễ.
Seoul chiều ngày 17 tháng 12 năm 1963,
đang trong thời tiết 5 độ dưới không độ C. Bầu trời
u ám bao trùm thủ đô, một thành phố toàn cây trụi lá giữa
mùa đông xám xịt. Quan khách của 25 quốc gia và viên chức
của quốc gia sở tại, ngồi chật cả khán đài không mái
che ngay trước tòa nhà Quốc Hội. Lễ nhậm chức của Tổng
Thống Pak Chung Hi cử hành đúng 3 giờ chiều trong một không
khí không được trang nghiêm khả dĩ tương xứng cho buổi
lễ quan trọng này. Một phần vì thời tiết quá lạnh, một
phần do dân chúng tham dự không nhiều, và phần khác là có
một số người tập trung bên kia đường hô hào chống đối
một cách lạc lõng, họ cáo buộc cuộc bầu cử vừa rồi
là gian lận. Cảnh Sát chỉ đứng sát lòng đường để giữ
trật tự mà không có hành động nào với nhóm người biểu
tình.
Ngay sau lễ, các phái đoàn được
hướng dẫn đến nhà hát xem trình diễn văn nghệ cổ truyền
của Ðại Hàn. Rồi buổi dạ tiệc trọng thể, tổ chức
trong khuôn viên dinh Tổng Thống mừng ngày trọng đại của
Ðại Hàn Dân Quốc, khoản đãi các phái đoàn đại diện
25 quốc gia đồng minh. Ðại Hàn Dân Quốc là tên gọi của
quốc gia phía nam của Triều Tiên theo chế độ dân chủ tự
do, trong khi quốc gia phía bắc theo chế độ cộng sản độc
tài, ranh giới giữa hai quốc gia này là vĩ tuyến 38. Khi chiến
tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt (năm 1945), cũng là
lúc ba quốc gia trên thế giới bị chia đôi: Ðó là Ðức
Quốc chia làm hai quốc gia theo chiều Ðông Tây, Triều Tiên
và Việt Nam chúng ta chia làm bốn quốc gia theo chiều Nam Bắc.
Riêng hoàn cảnh chính trị của
Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) có khác so với Việt Nam Cộng
Hòa và Ðại Hàn Dân Quốc về địa lý, nhưng hoàn cảnh chính
trị là cùng chống chiến tranh ý thức hệ cộng sản, có
lẽ vì vậy mà những ngày sau đó, phải thừa nhận là chánh
phủ Ðại Hàn đã dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta và phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, sự đón tiếp rất nồng
hậu gần như riêng biệt trong số 25 phái đoàn quốc tế tham
dự. Tổng Thống Ðại Hàn -theo lời của Bộ Ngoại Giao Ðại
Hàn- chỉ tiếp phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và phái đoàn
Trung Hoa Dân Quốc. Khi tiếp phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa,
Tổng Thống nói tiếng Ðại Hàn và ông Tổng Trưởng Ngoại
Giao Việt Nam Cộng Hòa nói tiếng Pháp. Tôi rất ngạc nhiên
về điều này, vì lẽ ra ông phải nói tiếng Việt Nam. Thông
dịch buổi tiếp kiến là hai thanh niên Ðại Hàn, một nam
một nữ.
Quốc gia thứ 3 có hoàn cảnh chính
trị giống nhau là Cộng Hòa Liên Bang Ðức, nhưng có thể
do địa lý và văn hóa mà phái đoàn Cộng Hòa Liên Bang Ðức
không nằm trong chương trình riêng biệt nói trên chăng, mặc
dù phái đoàn này cũng có mặt trong lễ nhậm chức?
Trước khi rời Seoul, mỗi thành
viên trong phái đoàn chúng ta được chánh phủ Ðại Hàn tặng
2 thùng trái cây tươi (bôm và nho) do Ðại Hàn sản xuất bước
đầu về kỹ nghệ trong nông nghiệp. Ðây là chính sách quan
trọng trong sách lược quốc gia của Ðại Hàn Dân Quốc -theo
lời ông Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Ðại Hàn- từ sau
cuộc chiến tranh 1950-1953.
Trở lại Tokyo ngày 20/12/1963. Ðêm
24/12/1963, phái đoàn được ông Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa
và phu nhân tại Nhật Bản, khoản đãi phái đoàn tại nhà
riêng. Trong khi trò chuyện, bỗng mọi thứ trong nhà đều rung
chuyển nhè nhẹ, ly tách chén dĩa lắc lư kêu leng keng trong
vài chục giây đồng hồ. Ông Ðại Sứ Nghĩa (xin lỗi là
tôi không nhớ họ) trông thấy nét ngạc nhiên của phái đoàn
nên ông lên tiếng trấn an:
"Khu vực chúng ta đang ngồi vừa
bị động đất nhẹ nên không hư hại gì. Mời quí vị xem
tivi sẽ rõ".
Vậy là, lần đầu tiên trong đời,
tôi cảm nhận được đôi chút về động đất.
Ngày 25/12/1963, tôi với Ðại Úy
Nhan Văn Thiệt -tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu- rời Tokyo
trở về Sài Gòn vì hết tiền. Ông Phạm Ðăng Lâm, Tổng
Trưởng Ngoại Giao, cũng rời Tokyo ngày ấy, nhưng ông chưa
về Việt Nam mà còn đi thăm quốc gia nào đó.
Trung Tướng Khiêm nhận chức
vụ mới.
Về đến là tôi vào văn phòng ngay
vì chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi vào gặp
Trung Tướng Trần Văn Ðôn dù hôm nay là ngày nghỉ.
"Thưa Trung Tướng, tôi vừa về
đến".
"Anh ngồi đi. Công du có vui không?"
"Rất vui, thưa Trung Tướng".
"Anh có hay tin về chức vụ mới
của Trung Tướng Khiêm chưa?"
"Dạ chưa Trung Tướng"
"Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng
đã cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III/Vùng
III Chiến Thuật rồi".
"Thưa Trung Tướng, trường hợp
này hồ sơ Trung Tướng Khiêm bàn giao cho vị nào để tôi
chuẩn bị cho kịp?"
"Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung
Tướng Kim (Lê Văn Kim). Anh chuẩn bị cần thiết để Trung
Tướng Khiêm khi về đến là bàn giao ngay và sang nhận Quân
Ðoàn III".
"Lệnh này Trung Tướng Khiêm có
biết chưa, thưa Trung Tướng?"
"Tôi chắc là chưa, nhưng dù sao
thì anh cũng nên trình với Trung Tướng Khiêm khi anh đón ổng.
Mà hôm nào Trung Tướng Khiêm về? -
"Rạng sáng ngày 1 tháng 1 (1964) về
đến, thưa Trung Tướng".
"Anh liên lạc với chánh văn phòng
Trung Tướng Kim và chánh văn phòng Trung Tướng Ðính để thu
xếp chương trình lễ bàn giao. Mọi việc đều diễn tiến
trong phạm vi nội bộ thôi. Anh có điều gì cần hỏi nữa
không?"
"Dạ không. Tôi sẽ thi hành, thưa
Trung Tướng".
Tôi rất thắc mắc là tại sao không
chờ Trung Tướng Khiêm về hãy đưa ra quyết định này. Phải
chăng Trung Tướng Dương Văn Minh cử Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm vào phái đoàn công du ngoại quốc để các vị ở nhà
không gặp trở ngại khi quyết định như vậy? Trung Tướng
Khiêm có nói với tôi rằng, ông là một trong rất ít (nếu
tôi nhớ không lầm là 4 vị) vị đứng ra lãnh đạo cuộc
đảo chánh ngày 1/11/1963), với lại chỉ riêng những lệnh
tối mật mà Trung Tướng Khiêm chỉ thị cho tôi vào sáng sớm
ngày đảo chánh, cũng đủ nói lên vị trí quan trọng của
ông đến mức nào trong cuộc đảo chánh đó. Sao lại xử
sự như vậy? Bởi đây là một cách mà trong giới cầm quyền
thường nửa đùa nửa thật là "hạ tầng công tác". Dù đúng
hay không đúng thì rõ ràng là từ chức vụ Tham Mưu Trưởng
Liên Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu đến chức vụ Tư Lệnh Quân
Ðoàn, nhìn từ bên ngoài là xuống một bậc rồi còn gì!
Tôi chuẩn bị bàn giao, kể cả
xin lệnh thuyên chuyển tất cả nhân viên văn phòng (6 người)
sang Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, đồn trú trong khuôn viên trại
Lê văn Duyệt, tọa lạc đường Lê văn Duyệt, Quận 3 Sài
Gòn (về sau là bản doanh Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô).
Tuy Trung Tướng Khiêm đã dặn tôi
và nhắc lại một lần trước khi tôi rời Tokyo ngày 25/12/1963,
khi ông và gia đình về đến Tân Sơn Nhất, chỉ một mình
tôi cùng mấy nhân viên trong tư dinh đón mà thôi, vì ông cho
rằng đây chẳng qua là chuyện gia đình chớ không phải là
phái đoàn công du trở về. Chính vì vậy mà ông chọn chuyến
phi cơ về đến thủ đô khi Sài Gòn còn chìm trong giấc ngủ.
Ðúng 3 giờ sáng ngày 1/1/1964, Trung
Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Thiệu và hai gia đình về đến.
Phi cơ dừng hẳn lại. Tắt máy. Tôi ra tận cầu thang đón
ông. Chỉ vài bước đi:
"Xin Trung Tướng đi chậm một chút
vì tôi có nhận lệnh của Trung Tướng Ðôn, thưa Trung Tướng".
"Chuyện gì vậy?"
"Trung Tướng có được tin gì về
lệnh cử Trung Tướng giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III chưa?"
"Chưa. Mà ai nói với chú vậy?"
"Dạ, Trung Tướng Ðôn".
"Ổng nói với chú hồi nào?"
"Dạ ngay khi tôi về đến Sài Gòn.
Và Trung Tướng Ðôn có nói là công tác bàn giao sau khi Trung
Tướng về đến. Tôi đã chuẩn bị hồ sơ bàn giao xong rồi
thưa Trung Tướng".
Trung Tướng Khiêm đứng hẳn lại
và im lặng một lúc:
"Ổng có nói gì nữa không?"
"Dạ không".
"Sáng mai tôi gặp mấy
ổng".
Trung Tướng Khiêm nhìn vào nhà ga
bên khu vực dành riêng cho các nhân vật quan trọng:
"Ai đón mà đông vậy?"
"Dạ các vị Trưởng Phòng/Tổng
Tham Mưu. Tôi xin lỗi Trung Tướng, vì các vị ấy nói quá
nên tôi không thể nói dối về ngày giờ Trung Tướng về.
Với lại tôi nghĩ là không nên cứng nhắc quá với các vị
"tay phải tay trái" của Trung Tướng, e không có lợi".
Ði được mấy bước, bà Khiêm
quay lại:
"Chú Hoa. Bộ có chuyện hả?"
Tôi thuật tóm tắt cho bà Khiêm
nghe, bà có ý trách:
"Sao mấy ổng kỳ vậy?"
"Tôi cho là điều không bình thường,
dù rằng Trung Tướng Ðính cần giảm bớt chức vụ Tư Lệnh
Ðoàn III để chu toàn chức vụ Tổng Trưởng An Ninh".
"Chú biết ai thay "nhà tôi" không?"
"Dạ Trung Tướng Kim".
Bà Khiêm buột miệng:
"Họ hàng với ông Ðôn rồi".
Sáng ngày 2/1/1964, Trung Tướng Khiêm
từ phòng Trung Tướng Ðôn trở về, ông gọi tôi:
"Chú tổ chức bàn giao chức vụ
Tham Mưu Trưởng Liên Quân với chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn
III ngay chiều nay. Không có ai chủ tọa hết".
Lời nói và giọng nói của ông
cho phép tôi suy đoán là ông đang tức giận.
"Vâng. Tôi thi hành ngay thưa Trung
Tướng".
Ngay chiều hôm ấy, Trung Tướng
Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn Kim tại Bộ Tổng Tham
Mưu, sau đó sang Quân Ðoàn III nhận quân kỳ tiêu biểu chức
vụ Tư Lệnh từ tay Trung Tướng Tôn Thất Ðính. Cả hai lễ
bàn giao đều tổ chức trong văn phòng mỗi nơi một cách nhanh
chóng.
Từ ngày Trung Tướng Trần Văn Ðôn
nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng
(2/11/1963), giờ làm việc trong quân đội được ấn định
từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, được nghỉ nửa giờ
để ăn trưa tại chỗ, nhưng tại văn phòng chúng tôi thông
thường là phải đến 6 giờ chiều mới ra về.
Trung Tướng Khiêm khá xông xáo trong
công tác đi thăm các đơn vị, các tiểu khu trực thuộc, nhưng
theo cách nhìn của tôi thì ông không bộc lộ hết nhiệt tình
như lúc giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Xin đừng
nghĩ rằng, nét nhìn của tôi bị ám ảnh bởi quyết định
từ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu
đến Tư Lệnh Quân Ðoàn III của Trung Tướng Khiêm mà có,
vì tôi là một sĩ quan tham mưu đặc biệt dưới quyền trực
tiếp của Trung Tướng Khiêm từ năm 1960, nên tôi khá quen
với thái độ cũng như cử chỉ của ông trong những lúc vui
buồn, suy tư, hay tức giận.
Khoảng từ trung tuần tháng 1/1964,
tức là nửa tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn
III, Trung Tướng Khiêm (tại Sài Gòn) với Trung Tướng Nguyễn
Khánh (tại Ðà Nẳng), rất thường liên lạc nhau qua điện
thoại viễn liên, và rõ ràng là Trung Tướng Khánh khích Trung
Tướng Khiêm trong việc phục hồi danh dự vì bị thuyên chuyển
mà không được biết trước.
Trung Tướng Khiêm là người ít
nói, không thích tiếp xúc với các cơ quan truyền thông, cũng
chẳng thích phô trương, và con đường chính trị -theo tôi-
cũng không phải là hướng đi của ông, nên tôi không nghĩ
là ông dễ dàng bị Trung Tướng Khánh dẫn đến một cuộc
chính biến nữa để gọi là phục hồi danh dự cho ông, đành
rằng ông đang buồn phiền và chắc là buồn phiền về vấn
đề ấy.
Chỉnh Lý.
Nhưng tôi lầm, vì cuộc đảo chánh
quân sự lại xảy ra khá đột ngột.
Vào những ngày cuối tháng 1/1964,
Trung Tướng Khánh từ Ðà Nẳng điện thoại bảo tôi cho xe
đón ông trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất (thường thì
đón ông bên nhà ga dân sự) và tuyệt đối không cho ai biết
là ông về Sài Gòn. Tôi trình Trung Tướng Khiêm và dùng xe
của Trung Tướng Khiêm đi đón Trung Tướng Khánh. Lúc ấy
đã hết giờ làm việc trong ngày. Sau đó, hai vị cùng ngồi
chung xe đi đâu đó mà tôi không rõ vì xe an ninh không được
chạy theo như lệ thường. Ðiều này làm cho tôi tự hỏi:
"Liệu có cuộc đảo chánh nữa hay không, vì sự vắng mặt
bất thường này giống như những ngày cuối tháng 10/1963 vậy?"
Mờ tối ngày 29/1/1964, sau khi từ
bộ tư lệnh Quân Ðoàn III về đến nhà, Trung Tướng Khiêm
gọi tôi đến nhà ông ngay. Vào cửa, tôi thấy bàn ăn đã
sẵn sàng nhưng gia đình ông chưa người nào ngồi vào bàn,
ông chỉ tôi ngồi đối diện ông ngay trong phòng khách, và
ông ra lệnh:
"Việc này đối với chú là lần
thứ hai. Tôi muốn nói là chú biết việc gì phải làm. Chú
mà hé môi với bất cứ ai trước khi thực hiện thì chú bị
đứt đầu nghe chưa".
"Vâng".
Trong một thoáng thật nhanh tôi liên
tưởng đến sự đi đâu đó của hai vị giống như trước
ngày 1 tháng 11 năm ngoái (1963). "Ðảo chánh nữa chăng, vì
Trung Tướng Khiêm vừa nói đây là lần thứ hai?" Ông tiếp:
"Vào sáng sớm mai, tôi + Trung Tướng
Khánh + và Ðại Tá Viên (Cao Văn), lật đổ nhóm ông Minh ông
Ðôn, vì các ông này có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung
lập mà trung lập thì sớm muộn cũng vào tay cộng sản. Chú
rõ chưa?"
"Dạ rõ".
"Sau giờ này, chú điều động xe
truyền tin hành quân của Quân Ðoàn về đậu sau nhà chú.
Nhà chú có chỗ kín đáo hông?"
"Dạ có. Sau nhà tôi là vườn chuối,
tôi đốn bớt vài cây cho xe vào và sẽ thực hiện khi trời
tối. Bên trái nhà tôi là Thiếu Tá Ðào Ngọc Thọ, và bên
phải là gia đình Thiếu Tướng Thiệu. Mình ở Quân Ðoàn,
hệ thống liên lạc hành quân là chuyện bình thường, chắc
chẳng ai quan tâm đâu, thưa Trung Tướng".
"Ðích thân chú phải lên máy liên
lạc trực tiếp với Thiếu Tướng Thiệu (ở Biên Hòa) và
Thiếu Tướng Có (ở Mỹ Tho). Làm như vậy để biết chắc
là mình giữ liên lạc được với hai ổng thôi, và khi liên
lạc được rồi phải giữ máy thường trực cho tôi. Công
tác này phải xong trước 2 giờ sáng. Nếu có gì trở ngại,
chú trình tôi ngay. Chú rõ chưa?"
"Dạ rõ".
"Chú gọi chú Có sang ngủ nhà chú
đêm nay. Chú Có không được quyền biết trước công tác
này. Chú với chú Có đem xe truyền tin đến sân nhà Trung Tướng
Khánh (sát bên phải cổng số 1 Tổng Tham Mưu) trước 3 giờ
sáng, nhưng không nên sớm quá. Ðúng 3 giờ sáng, Ðại Tá
Viên và Tiểu Ðoàn Dù vào cổng số 1. Chú đón tại cổng,
mời Ðại Tá Viên vào nhà ông Khánh, và hướng dẫn Tiểu
Ðoàn lên bố trí chung quanh tòa nhà chánh. Phần an ninh trại
Trần hưng Ðạo, chú với Trung Tá Luông tổ chức như lần
trước. Chú cần hỏi gì thêm không?"
"Dạ không".
"Chú chỉnh đồng hồ theo đồng
hồ tôi đây. Trung Tá Luông sẽ nhận lệnh sau".
Sau khi rời khỏi nhà Trung Tướng
Khiêm, tôi sang Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn, mời Ðại Úy Truyền
Tin (dường như là Ðại Úy Nguyễn Hữu Phụng) lên văn phòng:
"Trung Tướng Tư Lệnh vừa ra lệnh
cho tôi, đêm nay Trung Tướng cần giữ liên lạc thường trực
với Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, để theo dõi cuộc hành quân vào căn
cứ Hố Bò (của cộng sản), vì có tin là một tên quan trọng
của chúng vừa đến nơi đây (tôi bịa ra tin này). Ngay bây
giờ, anh có thể cho anh em trên chiếc xe AN/GRC 26 chuẩn bị
di chuyển sang nhà tôi bên Tổng Tham Mưu".
"Tôi cho lệnh chuẩn bị ngay. Khi
xong, xe đến đây chờ lệnh Thiếu Tá".
Cũng phải mất nửa tiếng đồng
hồ dọn đường, chiếc xe truyền tin mới vào được vị
trí. Lúc đó tối lắm rồi, tôi trợ giúp anh em truyền tin
dựng cột antenne vì liên lạc xa. Ðại úy Nguyễn Hữu Có
vừa đến và tiếp tay, nên công tác chuẩn bị cho hệ thống
liên lạc hành quân được nhanh chóng. Ðại úy Có không thấy
tôi nói lý do sự có mặt xe này tại đây nên cũng không hỏi,
vì thật ra giữa chúng tôi hiểu nhau về những vấn đề bảo
mật, nếu một bên không nói thì bên kia không bao giờ hỏi.
Nhóm hành quân chúng tôi chẳng ai ngủ được cả, vì ăn khuya
xong là bắt tay vào việc lên máy gọi Sư Ðoàn 5 và Sư Ðoàn
7. Lúc 00 giờ 30 ngày 30/1/1964:
"Cửu Long gọi Ðồng Nai. Trả lời".
"Ðồng Nai nghe 5/5. Có gì cho Ðồng
Nai. Trả lời".
"Giới chức của Cửu Long cần gặp
thẩm quyền Ðồng Nai trên máy. Trả lời".
"Rõ. Xin chờ đầu máy.... "
"Hoa đó hả? Tôi đây". Ðó là tiếng
nói của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
"Thưa Ðại Bàng, Ðại Bàng tôi
chỉ cần biết có liên lạc là tốt rồi. Tôi xin phép ngưng.
Trả lời".
"Ðược rồi".
Cửu Long là danh hiệu Quân Ðoàn
III. Ðồng Nai là danh hiệu Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Ðại Bàng có
nghĩa là vị Tư Lệnh.
Ðến Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, hai anh
chuyên viên luân phiên gọi liên tục mà cứ như gọi vào khoảng
không mù mịt của đêm khuya vì chẳng nghe tăm hơi đầu kia
gì cả.
Ðang rầu thúi ruột! Bỗng dưng,
đài của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh nhảy vô và lúc đó gần 2 giờ
sáng rồi. Sau khi tôi liên lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Hữu
Có, cả 3 đài trên hệ thống đặc biệt này giữ máy thường
trực. Xin nói rõ thêm, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh thuộc Quân Ðoàn
IV, nên không có trong hệ thống liên lạc thường trực của
Quân Ðoàn III. Nhưng giữa các vị thu xếp trước, nên Sư
Ðoàn 7 Bộ Binh vào hệ thống đặc biệt này. Dĩ nhiên là
tôi phải "ngụy tạo lý do" để giải thích cho các anh chuyên
viên, vì sao mà Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tăng phái cho Quân Ðoàn
III trong cuộc hành quân đặc biệt từ hôm nay. Ðơn giản,
là vùng hành quân dọc theo liên ranh Quân Ðoàn III và Quân
Ðoàn IV. Thế thôi.
Ðiện thoại trình Trung Tướng Khiêm
xong, tôi ngồi luôn trên xe truyền tin như là ngồi chơi với
các anh chuyên viên, nhưng thật ra là tôi ngăn chận những
liên lạc đến bất cứ nơi nào khác, vì lúc nãy có một
anh thắc mắc về sự có mặt của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh trong
hệ thống này. Lúc gần 3 giờ, nhóm chúng tôi di chuyển lại
nhà Trung Tướng Nguyễn Khánh, tạm gọi là "bản doanh nhóm
lãnh đạo đảo chánh". Kể ra thì tên gọi đó cũng không
sai. Trước khi rời nhà, tôi mới cho Ðại úy Nguyễn Hữu
Có biết công việc đã làm từ đêm qua và đang làm tiếp.
(hai ông cùng tên Nguyễn Hữu Có, nhưng một là Ðại Úy và
một kia là Thiếu Tướng)
"Sao đảo chánh hoài vậy Anh?" Vợ
tôi hỏi.
"Anh cũng hổng biết. Chỉ biết
Trung Tướng (Khiêm) nói là Trung Tướng Dương Văn Minh có kế
hoạch trung lập, mà trung lập thì gần tới cộng sản rồi
Em".
"Ghê vậy!"
Ðúng 3 giờ sáng ngày 30 tháng
1 năm 1964.
Ðại Tá Cao Văn Viên và Tiểu Ðoàn
Nhẩy Dù lặng lẽ qua cổng số 1 Tổng Tham Mưu với nhiệm
vụ sẵn sàng tác chiến, nếu như có đơn vị nào đó kháng
cự lại.
Trong cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963,
Ðại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Nhẩy Dù, bị xếp vào những
nhân vật thân tín của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm nên bị
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng cách ly với Lữ Ðoàn. Ngày
2/11/1963, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bị giết, các
vị bị cách ly từ hôm trước được trả tự do nhưng hầu
hết đều bị cách chức. Ðại Tá Cao Văn Viên cũng trong số
các vị bị cách chức. Ngày hôm sau bà Cao Văn Viên điện
thoại tôi:
"Chú Hoa. Trung Tướng của chú (ý
nói Trung Tướng Trần Thiện Khiêm) có hứa với chị là sẽ
xin với Trung Tướng Minh (Dương Văn Minh) cho Ðại Tá (Cao Văn
Viên) trở về chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù để lấy lại danh
dự, và 24 tiếng đồng hồ sau đó Ðại Tá sẽ đệ đơn
từ chức. Chị nhờ chú theo dõi diễn tiến ra sao rồi cho
chị biết ngay nghe chú".
"Vâng".
Ngưng một chút, bà tiếp:
"Mà chú thấy có hi vọng không?"
"Em thì chưa biết gì về việc này,
nhưng theo em nghĩ, với vị trí hiện nay của Trung Tướng (Khiêm)
trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, hi vọng là Trung Tướng
thực hiện được lời hứa với chị".
Và rồi Ðại Tá Cao Văn Viên trở
về chức vụ cũ, nhưng sau đó ông có xin từ chức Tư Lệnh
Nhẩy Dù hay không thì tôi không biết, nhưng rõ ràng là ông
vẫn trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù.
Các đơn vị an ninh thuộc Tổng
Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã vào vị trí. Trung Tá Nguyễn Văn
Luông đi lúc nào tôi không rõ, nhưng chắc chắn là đi rồi.
Nhiệm vụ của Trung Tá Luông cùng với toán Quân Cảnh, Nhẩy
Dù, An Ninh Quân Ðội, .... đi bắt những vị Tướng mà Trung
Tướng Khiêm với Trung Tướng Khánh cho là có kế hoạch trung
lập. Ðó là các vị:
- Trung Tướng Trần Văn Ðôn.
- Trung Tướng Tôn Thất Ðính.
- Trung Tướng Mai Hữu Xuân.
- Trung Tướng Lê Văn Kim.
- Và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ.
Riêng Trung Tướng Dương Văn Minh
thì tôi không rõ là có tên trong danh sách bị bắt hay không.
Trước lúc bình minh, tại bản doanh -nhà Trung Tướng Khánh-
có mặt: Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn
Khánh, Ðại Tá Cao Văn Viên, một người Việt Nam dáng vấp
trung bình về chiều cao lẫn chiều ngang, và một người Mỹ
mặc quần tây dài áo sơ-mi tay ngắn. Anh chàng Mỹ này không
phải là người có mặt trong cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963
trước đây. Nói cách khác, người Mỹ này không phải Trung
Tá Conein. Căn cứ theo lần đảo chánh đó, tôi tin chắc rằng,
người Mỹ này là gạch nối giữa nhóm đảo chánh với giới
chức thẩm quyền Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Thậm chí, có thể
là đại diện của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ từ
Mỹ. Mà cho dù là gạch nối hay đại diện đi nữa, cũng là
bằng chứng một sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cuộc
đảo chánh ngày 1/11/1963, và cuộc đảo chánh hôm nay 30/1/1964.
Chỉ cần ba nhân vật, một ít lực
lượng, với một người Hoa Kỳ quyền thế, cuộc đảo chánh
diễn tiến thật êm thấm vì chỉ cần bắt 5 vị Tướng nói
trên là xong. Êm thấm đến nỗi tôi tin rằng, người dân
Sài Gòn và ngay cả nhiều cơ quan đơn vị quân đội, không
hề biết gì về một biến cố quan trọng vừa xảy ra, nếu
như đài phát thanh Sài Gòn vẫn phát đi chương trình bình
thường. Năm vị Tướng bị bắt, đã đưa ra phi trường Tân
Sơn Nhất, và nơi đến là Ðà Nẳng. Trung Tướng Khánh đã
chỉ thị ngoài đó đón và đưa về nơi giam giữ. Người
bị bắt thứ 6 là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung -tùy viên của
Trung Tướng Dương Văn Minh- người mà tôi đặt nghi vấn cao
nhất "đã đâm và bắn Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông
cố vấn Ngô Ðình Nhu", thì bị đưa lên trại Hoàng Hoa Thám
-tức doanh trại Lữ Ðoàn Nhẩy Dù- và giữ tại đó. Tại
đây, Thiếu Tá Nhung buộc phải viết tờ khai về những gì
đã làm liên quan đến cái chết của ông Tổng Thống Diệm
và ông Cố Vấn Nhu. Sau ngày đảo chánh 30/1/1964, tôi cũng
không biết gì về nội dung trong tờ khai đó. (mãi đến năm
1998, qua bài báo của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, tôi
mới biết chính xác là Thiếu Tá Nhung đã giết hai ông ấy.
Ðược cựu Ðại Tá Nghĩa đồng ý qua điện thoại, tôi đã
bổ túc phần đó trong ấn bản lần 3 vào cuối năm 1998).
Vài hôm sau, Lữ Ðoàn Nhẩy Dù cho
biết là Thiếu Tá Nhung đã thắt cổ tự tử. Mẩu tin đơn
giản đó liệu có mấy người tin? Bởi Ðại Tá Cao Văn Viên
được xem là người thân tín của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm,
ông bị giữ trong ngày đảo chánh 1/11/1963, nhưng sau đó nhờ
Trung Tướng Khiêm mà ông được trở lại chức vụ Tư Lệnh
Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, do vậy mà cho dẫu Thiếu Tá Nguyễn Văn
Nhung có chết một cách bình thường cũng là điều mà dư
luận khó chấp nhận, huống chi đây là tin Thiếu Tá Nhung
thắt cổ! Căn cứ theo lời viết trong tờ khai, Thiếu Tá Nhung
khai là anh đâm ông Ngô Ðình Nhu bằng lưỡi lê, Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm chống cự khi ông Nhu bị anh đâm chết, nên
anh đâm Tổng Thống Diệm luôn. Sau đó, Thiếu Tá Nhung bắn
bồi thêm cho mỗi người một viên đạn ân huệ. Cứ theo
luật pháp thông thường trong xã hội, giết người phải đền
tội là chuyện phải đến thôi. Chuyện phải đến trong hoàn
cảnh là như vậy, nhưng Thiếu Tá Nhung có đáng chết hay không
lại là vấn đề khác. Có điều lạ là tôi không thấy dư
luận đặt nghi vấn: "Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết là do
chính ông tự tử, hay ông chết do bị giết rồi tạo cảnh
như là chính ông tự tử? Nếu Thiếu Tá Nhung bị giết thì
ai là người ra lệnh giết? Ai là người thi hành lệnh đó?
Và lệnh giết Thiếu Tá Nhung có đúng hay không"? Nếu cho rằng,
giết người mà không do phán quyết của tòa án là sai, thì
Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu
là sai, và người giết Thiếu Tá Nhung cũng là sai. Tôi nghĩ,
nếu truy tố Thiếu Tá Nhung ra tòa án quân sự trong tình hình
lúc bấy giờ cầm chắc là bản án tử hình đến với anh.
Nếu hành động minh bạch như vậy, sẽ cho thấy nhóm lãnh
đạo đảo chánh tôn trọng luật pháp chớ không áp dụng
"luật giang hồ" theo kiểu tam-đoạn-luận: "Giết người thì
bị người (khác) giết. Anh đã giết người. Anh phải bị
người (khác) giết".
Ðến đây tôi xin mở ngoặc để
ghi lại lời thuật của ba vị nói về cái chết của Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung. Trước hết là lời của cựu Thiếu Tá
Lâm Sanh Kim, định cư tại San Jose, California. Anh đồng ý cho
tôi đưa vào hồ sơ này qua e-mail lúc 2 giờ 31 phút chiều
ngày 6/3/2004:
Vào thời điểm 1/11/1963, tôi là
Trung Úy, Trưởng Ban An Ninh Căn Cứ Hoàng Hoa Thám Lữ Ðoàn
Nhẩy Dù, thời Ðại Tá Cao Văn Viên làm Tư Lệnh Lữ Ðoàn
này. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị giữ tại trại Cải Hối
do Phân Ðội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù phụ trách. Tôi được
lệnh thẩm vấn Thiếu Tá Nhung và Thiếu Tá Nhung khai rằng,
khi đoàn xe chạy đến cổng xe lửa trên đường Hồng Thập
Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân về việc ông
Diệm và ông Nhu, thì được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả
lời bằng câu tiếng Pháp "Feu tous les deux" (bắn cả hai).
Ðây là câu trả lời được ghi
lại trong ký ức tôi. Luôn tiện tôi xin đưa ra dữ kiện về
việc Thiếu Tá Nhung tự tử để quí vị phán xét. Trước
khi tôi bắt đầu thẩm vấn, Thiếu Tá Nhung xin phép tôi điện
thoại về nhà để nhắn nhủ vợ con yên tâm. Trên nguyên
tắc thì người đang bị thẩm vấn không được liên lạc
ra ngoài, nhưng tôi muốn tạo tình cảm thuận lợi cho công
tác lấy lời khai nên tôi đồng ý. Thẩm vấn xong, tôi giao
lại Phân Ðội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù. Ðến sáng hôm sau được
báo là Thiếu Tá Nhung đã treo cổ. Tôi đến nơi trông thấy
Thiếu Tá Nhung treo cổ bằng sợi dây giày loại giày cao cổ,
có để lại mấy chữ ở bìa trắng của tờ báo như sau:
"Em ở lại nuôi các con, bọn Diệm
sống lại rồi"'.
Cây viết Parker 51 nắp vàng, còn
nằm trên tờ báo. Tôi thuật lại đây để quí vị tùy nghi
xét đoán, nếu không thì có nhiều người suy đoán trật quá
xa sự thật. Tối thiểu, chúng ta cũng phải căn cứ trên các
dữ kiện tôi nêu trên có thể kết luận Thiếu Tá Nhung tự
vận hơn là bị giết.
Hết phần trích dẫn trên trang e-mail
về lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, và xin tiếp
lời thuật của cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh qua điện thoại.
Cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh, định cư tại San Francisco, California.
Trong cuộc đảo chánh 30/1/1964, anh là Ðại Úy sĩ quan tùy
viên của Ðại Tá Cao Văn Viên. Giữa năm 2001, sau khi đến
Washington DC thăm cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên trở về, anh
điện thoại cung cấp cho tôi một số tin tức liên quan đến
sức khỏe và cuộc sống hằng ngày của vị Tướng đã từng
là Tổng Tham Mưu Trưởng liên tục gần 10 năm. Nhân đó, anh
thuật cho tôi nghe mẩu tin Thiếu Tá Nhung tự tử sau cuộc
đảo chánh ngày 30/1/1964. Lời thuật như sau:
"Cái hôm Thiếu Tá Nhung chết, lúc
đó còn sớm lắm, điện thoại từ sĩ quan trực Lữ Ðoàn
Nhẩy Dù gọi đến tư dinh báo cáo là Thiếu Tá Nhung đã tự
tử, và đưa vào bệnh xá của Lữ Ðoàn rồi".
Ðại Úy Khanh trình cho Ðại Tá
Viên, và Ðại Tá Viên ra lệnh:
"Nói với sĩ quan trực (Lữ Ðoàn)
gọi bác sĩ cứu được gì thì cứu".
Theo lời Ðại Úy Khanh thì lúc ra
lệnh đó, Ðại Tá Viên không có vẻ gì bất ngờ trước
cái tin chết người như vậy, nhất là người chết lại là
người mà dư luận đặt nghi vấn, thậm chí còn quả quyết
anh ấy đã giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn
Ngô Ðình Nhu nữa. Ðiều này cho phép chúng ta suy đoán có
thể là Ðại Tá Viên biết trước về cái chết của Thiếu
Tá Nhung. Nhưng nếu biết trước, thì liệu Ðại Tá Viên có
liên quan gì? Bởi vì cái tin Thiếu Tá Nhung tự tử có thể
là thật, cũng có thể là không thật. Không thật, vì có thể
cái chết đó là do dàn dựng cho Thiếu Tá Nhung, cũng có thể
là do áp lực dẫn đến chính Thiếu Tá Nhung phải tự tử.
Ðiều này vẫn còn trong bóng tối.
Cũng liên quan đến vụ này, vị
thứ ba là cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện
đàm vào tối ngày 21 tháng 10 năm 2003, khi nói đến cái chết
của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, ông nói với tôi là ông nghe
nói một số quân nhân Nhẩy Dù đã vì tức giận việc Thiếu
Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm, nên ra tay giết Thiếu Tá
Nhung.
Xin đóng ngoặc.
Thật tình tôi không có bằng chứng
để quả quyết là ai ra lệnh giết, nhưng điều mà cựu Ðại
Tướng Khiêm nghe nói lại, dường như chưa đủ sức thuyết
phục người đọc lẫn người nghe. Quí vị có suy nghĩ gì
về sự kiện này không?
Với lời thuật của cựu Thiếu
Tá Lâm Sanh Kim, đối chiếu với lời thuật của cựu Ðại
Tá Dương Hiếu Nghĩa mà tôi được phép đăng trong chương
nói về cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, thì nghi vấn
về người ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông
Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, trở nên phức tạp. Tôi xin ghi lại
những lời đó sau đây:
- Theo lời của cựu Ðại Tá Nghĩa,
sau ngày đảo chánh 1/11/1963, ông gặp Thiếu Tá Nhung và hỏi
điều ông thắc mắc là tại sao giết cả hai ông, thì Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung trả lời một cách tỉnh bơ rằng:
"Một người hay hai người cũng
vậy thôi. Hai người thì khó khăn một chút, nhưng chắc ăn
hơn. Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi đâm
chết, nên tôi phải thanh toán luôn. Có lệnh cũng được,
mà không có lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó
đâu có đợi lệnh được".
- Theo lời thuật của cựu Thiếu
Tá Lâm Sanh Kim, thì đầu năm 1964 anh là Trung Úy, sĩ quan An
Ninh của căn cứ Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, anh được lệnh thẩm
vấn Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, và anh ghi nhận lời khai của
Thiếu Tá Nhung như sau:
" ...Khi đoàn xe chạy đến cổng
xe lửa trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân về việc ông Diệm và ông Nhu, thì được Thiếu
Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng câu tiếng Pháp "feu tous
les deux" (bắn cả hai) . .
Vậy, ai là người ra lệnh giết
Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Trung Tướng Dương Văn
Minh, hay Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, hay cả hai vị?
Theo cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa,
với lời của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung đã nói trực tiếp
với ông (tức cựu Ðại Tá Nghĩa), thì nghi vấn của tôi
về người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn
Nhu là Trung Tướng Dương Văn Minh (cấp bậc lúc đảo chánh).
Nhưng theo lời khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trước mặt
cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, thì Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân
đã ra lệnh cho ông (tức Thiếu Tá Nhung) giết chớ không phải
Trung Tướng Dương Văn Minh.
Cho đến bây giờ là tháng 3 năm
2004, tức sau khi e-mail của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim với
nội dung thuật lại lời khai của cố Thiếu Tá Nguyễn Văn
Nhung, tôi vẫn giữ nguyên nghi vấn Trung Tướng Dương Văn
Minh ra lệnh cho Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung (cấp bậc lúc đảo
chánh) giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông Cố Vấn
Ngô Ðình Nhu, vì Trung Tướng Dương Văn Minh là vị lãnh đạo
cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963. Trong chức vụ và quyền hạn
của Trung Tướng Dương Văn Minh, chỉ có ông mới đủ thẩm
quyền ra lệnh cho Ðại Úy Nhung giết Tổng Thống Diệm với
ông Cố Vấn Nhu, chớ không thể nào Thiếu Tướng Mai Hữu
Xuân trong trách nhiệm thay mặt Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng
-theo lời của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa- lại tự ý
ra lệnh này được.
Cứ thử nêu một giả thuyết là
Trung Tướng Minh có giao quyền rộng rãi cho Thiếu Tướng Xuân
tùy cơ ứng biến với Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu
đi nữa, thì từ khi đoàn xe rời nhà thờ Cha Tam chạy đến
cổng xe lửa dừng lại chờ xe lửa chạy ngang, đã có việc
gì xảy ra đâu mà Thiếu Tướng Xuân đến nỗi phải "ứng
biến" bằng cái lệnh "bắn cả hai" như Thiếu Tá Nhung khai
với sĩ quan an ninh căn cứ Hoàng Hoa Thám là Trung Úy Lâm Sanh
Kim lúc ấy? Một giả thuyết như vậy không có sức thuyết
phục, vì lệnh "bắn cả hai" là bắn Tổng Thống với Cố
Vấn của Tổng Thống, tính cách quan trọng của cái lệnh
này ở cấp quốc gia chớ không phải cái lệnh bắn giết
địch quân dành cho vị Tư Lệnh ở chiến trường.
Tôi có hai giả thuyết về lời
khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung:
Thứ nhất. Hoặc lời khai đó là
thật, nghĩa là Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân được Trung Tướng
Dương Văn Minh giao cho cái quyền rộng rãi đó để tùy tình
hình mà giải quyết. Nhưng trên đường về Bộ Tổng Tham
Mưu trong một "tình hình hoàn toàn yên tĩnh" mà Thiếu Tướng
Xuân lại ra lệnh "bắn cả hai" thì hành động đó có thể
xem là lạm dụng quyền được giao. Như vậy, phải chăng bắt
nguồn từ nguyên nhân hận thù nào đó của Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm? Nhưng
nếu do thù hận riêng tư mà Thiếu Tướng Xuân dám ra lệnh
giết chết Tổng Thống và Cố Vấn của Tổng Thống, quả
là ông liều lĩnh. Liều lĩnh vì cấp trên của ông là Trung
Tướng Dương Văn Minh còn đó, cho dù ông có là bạn thân
của Trung Tướng Minh đi nữa, không chắc ông dám liều đến
như vậy.
Thứ hai. Hoặc lời khai đó do Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung tự bịa ra để khai khi bị thẩm vấn.
Nhưng tại sao lại bịa ra? Rất có thể là Thiếu Tá Nguyễn
Văn Nhung muốn bảo vệ Trung Tướng Dương Văn Minh, vị Tướng
mà Thiếu Tá Nhung đang là cận vệ. Hoặc không do nguyên nhân
bao che bảo vệ cho Trung Tướng Minh, thì rất có thể là Thiếu
Tá Nhung có điều gì đó không bằng lòng Thiếu Tướng Xuân
nên khai cho Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân chăng? Giả thuyết này
có vẻ không vững, bởi lúc Thiếu Tá Nhung cung cấp lời khai
này chỉ ba tháng sau ngày Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông
Cố Vấn Ngô Ðình Nhu bị giết, mà trong dư luận chưa nghe
loan truyền về cái lệnh giết Tổng Thống và ông Cố Vấn
là công hay tội, thì khó mà nói là Thiếu Tá Nhung đổ tội
cho Thiếu Tướng Xuân qua lời khai của ông. Rốt lại, chỉ
còn giả thuyết oán ghét hay thù hận của Thiếu Tá Nhung với
Thiếu Tướng Xuân thôi. Trong cuộc sống, cũng có những sự
kiện xảy ra mà không thể dựa trên những dữ kiện bình
thường để suy đoán phần kết luận. Nói nôm na là nghịch
lý. Phải chăng trường hợp này là thế?
Trở lại cái chết của Thiếu Tá
Nguyễn Văn Nhung. Theo lời của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim mô
tả khi đến phòng giam trông thấy thi hài Thiếu Tá Nhung trong
tình trạng thắt cổ bằng sợi dây giày loại giày cao cổ.
Ðây là loại giày mà quân nhân sử dụng khi mặc quân phục
tác chiến. Giá mà cựu Thiếu Tá Kim mô tả rõ thêm là khi
bị ông thẩm vấn thì Thiếu Tá Nhung mặc quân phục gì, có
thể có thêm tin tức cần thiết. Sở dĩ tôi nêu điều này
vì cuộc Chỉnh Lý (cũng là một loại đảo chánh) thực hiện
lúc nửa đêm về sáng, năm vị Tướng và Thiếu Tá Nguyễn
Văn Nhung bị bắt trong khi cư dân Sài Gòn còn chìm trong giấc
ngủ, thì liệu các vị có thì giờ mặc quân phục không?
Thôi thì tạm thời chấp nhận Thiếu Tá Nhung mặc quân phục
tác chiến lúc bị bắt đưa về giam tại Phân Ðội 204 Quân
Cảnh Nhẩy Dù. Vì nếu Thiếu Tá Nhung không mặc quân phục
tác chiến tức là không đi giày cao cổ, vấn đề lại thêm
rắc rối và phải quay trở lại đào sâu thêm nữa để làm
sáng tỏ về cái chết của Thiếu Tá Nhung, vì không đi giày
cao cổ thì sợi dây giày thắt cổ anh Nhung từ đâu ra?
Nửa đêm về sáng ngày 30/1/1964,
Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt đưa về căn cứ Lữ Ðoàn
Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trải qua
cuộc thẩm vấn tại Lữ Ðoàn Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung chết trong tình trạng thắt cổ là sự
thật. Nhưng Thiếu Tá Nhung chết trong tình trạng thắt cổ,
thì những dữ kiện trên đây chưa đủ để khẳng định
điều đó là sự thật. Tôi có hai giả thuyết:
Thứ nhất. Chính Thiếu Tá Nguyễn
Văn Nhung tự thắt cổ. Nhưng ông tự thắt cổ là do ông hối
hận, do bị áp lực, hay do ông muốn làm một anh hùng vì ông
đã giết Tổng Thống với Cố Vấn trong khi không ai làm được,
ông bị bắt nhưng ông không muốn bị làm nhục, đã dẫn
đến quyết định như vậy? Giả thuyết hối hận không vững,
vì luật pháp cũng như dư luận có buộc tội đâu. Giả thuyết
do bị áp lực, hoặc giả thuyết ông muốn làm anh hùng, có
thể lắm.
Thứ hai. Không phải chính Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung tự thắt cổ. Vậy, ai đã thắt cổ Thiếu
Tá Nhung? Người thắt cổ Thiếu Tá Nhung là do chính người
đó, hay người đó nhận lệnh của người nào khác nữa?
Tôi không có dữ kiện nào về giả thuyết này, mong vào những
nhà viết sử, theo thời gian sẽ thu thập được nhiều dữ
kiện làm sáng tỏ vấn đề.
Cuối cùng, tôi vẫn đặt nghi vấn
cao nhất và duy nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, người
ra lệnh giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông Cố
Vấn Ngô Ðình Nhu.
Nay thì Tổng Thống Ngô Ðình Diệm,
ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, ba
con người này đã vào lòng đất tối tăm mù mịt, hay đang
bay lượn trên những tầng mây cao với những nàng tiên xinh
đẹp, thôi hãy để các vị yên nghỉ! Và nếu như hai con
người nào đó "đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm,
giết ông cố vấn Ngô Ðình Nhu, và ra lệnh giết Thiếu Tá
Nhung nếu có, còn sống trên cõi đời này mà còn chút lương
tâm, tôi tin là hai con người đó, đã và đang còm cõi với
nỗi khổ riêng của họ! Năm 2003, Ðại Tướng Dương Văn
Minh, người mà tôi đặt nghi vấn cao nhất là người ra lệnh
giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, đã vào giấc
ngủ ngàn thu! Xin cắm một nén hương trước mộ ông, với
lời nguyện hương linh ông sớm siêu thoát vào cõi vĩnh hằng
xa xôi nào đó, hay cõi đó cũng quanh quẩn trong cõi tạm trần
ai này!
Thêm nữa, theo lời của cựu Ðại
Tướng Trần Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21 tháng 10
năm 2003, thì nguyên nhân dẫn ông vào cuộc đảo chánh này
là vì Trung Tướng Dương Văn Minh đã đồng ý với ông (tức
Thiếu Tướng Khiêm, cấp bậc lúc đảo chánh) trong cuộc đảo
chánh ngày 1//11/1963, là chỉ giải quyết ông cố vấn Ngô
Ðình Nhu, còn Tổng Thống Ngô Ðình Diệm phải được bình
yên và xuất ngoại, nhưng sau đó Trung Tướng Minh đã ra lệnh
giết luôn Tổng Thống Diệm làm cho ông bất mãn. Cũng do bất
mãn đó mà Trung Tướng Khiêm (cấp bậc trong cuộc đảo chánh
30/1/1964) đồng ý với Trung Tướng Khánh lật đổ Trung Tướng
Minh và những vị Tướng thân cận của Trung Tướng Minh. Vậy
là suy đoán của tôi trong quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ từ ấn
bản 1 đến ấn bản 3, về nguyên nhân Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm trực tiếp trong cuộc đảo chánh 30/1/1964, chỉ đúng
một nửa.
Tôi có dịp dùng cơm với cựu Ðại
Tướng Cao Văn Viên vào tối ngày 6 tháng 9 năm 2003 tại Virginia,
nhưng tôi cảm thấy không nên hỏi những gì liên quan đến
cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, vì gần như phần
lớn thời gian trong bữa ăn kéo dài 3 tiếng đồng hồ, cựu
Ðại Tướng Viên cho tôi biết thêm vài sự kiện, đồng thời
ông giải thích một số sự kiện về những gì tôi viết
về ông trong quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ của tôi, nhưng cần
giải thích thêm để sự kiện được rờ ràng. Ông cũng giải
thích về những sự kiện mà những tác giả khác đã nói
về ông. Trong đó, có vẻ ông không bằng lòng tác giả Nguyễn
Tiến Hưng, vì có những sự kiện mà ông nói là ông Hưng
tưởng tượng hoàn toàn.
Xin đóng ngoặc, và mời quí vị
trở lại bản doanh cuộc đảo chánh.
Khoảng 7 giờ sáng, Ðại Tá Nguyễn
Chánh Thi đến bản doanh. Một lúc sau, Thiếu Tá Nguyễn Huy
Lợi -cùng nhóm lưu vong với Ðại Tá Thi trong vụ đảo chánh
11/11/1960 thất bại- và nhiều sĩ quan khác cũng đến. Ðại
Tá Thi bước vội đến Thiếu Tá Lợi đang đứng bên ngoài
nhà, và sau một lúc lời qua tiếng lại, Ðại Tá Thi bốp
một phát vào mang tai Thiếu Tá Lợi. Thiếu Tá Lợi đỏ mặt
và trong tư thế sẵn sàng bốp lại, nhưng nghĩ sao đó, Thiếu
Tá Lợi quay lưng bỏ đi. Ðại Tá Thi vào nhà, có vẻ như
để chứng minh ông đúng:
"Thằng khốn nạn đó nó coi thường
tôi".
Lời lẽ này đúng hay không chỉ
có quí vị trong nhóm lưu vong mới biết, nhưng hành động
như vậy, tự Ðại Tá Thi làm giảm phong cách của một sĩ
quan cao cấp trong quân đội.
Sau một lúc thảo luận, viết rồi
sửa, sửa rồi viết. Một bản Tuyên Cáo được phát đi trên
làn sóng đài phát thanh Sài Gòn. Ðại ý nội dung cho rằng,
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập trong cuộc đảo
chánh ngày 1/11/1963, đã có kế hoạch đưa nước Việt Nam
đến trung lập, mà trung lập thì trước sau gì cũng vào tay
cộng sản. Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập hôm
nay, sẽ truy tố các vị đó ra tòa trong thời gian sớm nhất.
Khoảng 10 giờ sáng, điện thoại
reo:
"Thiếu Tá Hoa tôi nghe".
"Em mời Trung Tướng Khiêm nói chuyện
với Trung Tướng Minh nghe em".
Ðó là lời của Trung Tá Ðỗ Kiến
Nhiễu, chánh văn phòng của Trung Tướng Minh. Năm 1955, ông
là Thiếu Tá, Tiểu Ðoàn Trưởng của tôi (Tiểu Ðoàn 510
Khinh Quân), nên ông thường gọi tôi bằng em. Xe của Trung
Tướng Minh và Trung Tá Nhiễu đã vào cổng lúc hơn 9 giờ.
"Xin Trung Tá chờ đầu máy".
"Mời Trung Tướng tiếp chuyện với
Trung Tướng Minh".
Tôi bước đến ghế bố mà Trung
Tướng Khiêm đang nằm vì ông bị cảm, tôi trao ống nói cho
ông, nhưng:
"Chú nói với Trung Tướng Minh là
tôi đang mệt và cần nghỉ ngơi. Tôi sẽ gọi lại sau".
Quả thật là Trung Tướng Khiêm
đang mệt, ông bị khàn tiếng. Từ lúc bắt đầu cuộc đảo
chánh, Trung Tướng Khiêm là người ra chiều suy nghĩ âu lo
và theo dõi chặt chẽ diễn tiến "cuộc hành quân bắt cóc
các vị Tướng". Ðến khi các vị đó lên phi cơ quân sự
đi Ðà Nẳng, ông nằm dài trên ghế bố. Dù sự thật là
như vậy, nhưng chắc gì Trung Tướng Minh tin như vậy. Và rồi
Trung Tướng Minh có thể nghĩ rằng, Trung Tướng Khiêm đã
bắt hết các vị Tướng thân cận của ông rồi, nên khước
từ nói chuyện với ông cũng nên. Tôi thì không nghĩ như vậy.
Tuy Trung Tướng Khiêm chưa phải là vị Tướng xuất sắc của
chiến trường hay nơi bàn giấy, nhưng ông có một tình cảm
chân thành của một con người đối với cấp trên, với bạn
bè, và nhất là với các cộng sự viên xa gần lớn nhỏ của
ông. Tôi đã chứng kiến nhiều lần khi ông niềm nỡ bắt
tay những đồng đội thuộc Tiểu Ðoàn 3 Việt Nam, đơn vị
mà có lần Trung Tướng Khiêm rất vui vẻ khi ông nói với
tôi là ông rất nhiều cảm tình. Những đồng đội trước
kia dưới quyền của Trung Tướng Khiêm tại Tiểu Ðoàn này,
đến những năm 60, phần lớn là Thượng Sĩ hay Thượng Sĩ
Nhất.
"Thưa Trung Tá, Trung Tướng Khiêm
bị cảm và khàn cổ. Thể nào Trung Tướng Khiêm cũng gọi
lại Trung Tướng Minh khi sức khỏe cho phép".
Nói thì nói vậy, nhưng khoảng 30
phút sau thì Trung Tướng Khiêm điện thoại nói chuyện với
Trung Tướng Minh. Theo lời ông thuật lại với Trung Tướng
Khánh và Ðại Tá Viên, tôi biết là Trung Tướng Minh cần
gặp ông với Trung Tướng Khánh để thảo luận một số vấn
đề cần thiết. Vấn đề gì thì tôi không biết, nhưng tôi
nghĩ chỉ quanh quẩn về việc các vị bị bắt thôi, chớ
chẳng việc nước việc non gì đâu. Bởi sự thể đã đâu
vào đó rồi. Nhưng nếu Trung Tướng Khánh ở vị trí Trung
Tướng Minh hiện tại, thì Trung Tướng Khánh không nói chuyện
êm thấm nhẹ nhàng vậy đâu, bởi Trung Tướng Khánh vốn
là không ôn hòa, nhất là trong tình cảnh đó.
Sau một lúc thảo luận to nhỏ với
người Mỹ đã có mặt từ sớm, Trung Tướng Khánh mời Trung
Tướng Khiêm và Ðại Tá Viên vào bàn họp. Một số sĩ quan
quan tâm hay hiếu kỳ, đang đứng lóng ngóng trong nhà để
theo dõi tin tức, được mời ra sân. Tại sân, khá đông sĩ
quan các quân binh chủng, cùng một số phóng viên báo chí.
Tuy không đông, không nhộn nhịp như cuộc đảo chánh 1/11/1963,
nhưng cũng chật sân trước. Lúc bấy giờ trong nhà Trung Tướng
Khánh, chỉ có Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm, Ðại
Tá Viên, người Việt Nam có vẻ là thân tín của Trung Tướng
Khánh, một viên chức Hoa Kỳ, và tôi.
Trung Tướng Khánh lên tiếng trước
như là người chủ tọa:
"Thôi, mọi việc xong rồi. Bây giờ
thì anh Khiêm làm đi".
Trung Tướng Khiêm, tay phải gỡ
kiến xuống và tay trái lau kiến, đó là những động tác
biểu hiện sự suy nghĩ của ông. Tiếp đó, ông xoay qua Ðại
Tá Viên, vừa cười vừa nói:
"Phần tôi đến đây là đủ rồi.
Tôi không thích chính trị đâu, hay là anh Viên nhận đi".
Ðại Tá Viên với nụ cười không
hết miệng như lúc nào, ông nói:
"Thôi. Hai anh tính với nhau đi, ai
làm cũng được mà. Tôi không thích lao vào chính trị đâu.
Phần tôi đến đây là xong. Tôi muốn ở Lữ Ðoàn Dù với
anh em của tôi".
Ðại Tá Viên lớn tuổi hơn hai
vị kia, nhưng ông rất cẩn thận trong cách xưng hô với mọi
người, ngay cả với cấp dưới cũng vậy, chớ không nhất
thiết là chỉ cẩn thận với hai vị này.
"Các "toa" không nhận thì "moa" đành
nhận thôi".
Nói xong, Trung Tướng Khánh cười
khoan khoái. Trung Tướng Khánh nói nhận ở đây, là nhận chức
Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, tức Quốc Trưởng,
và kiêm luôn chức Thủ Tướng. Vậy là chức vụ của Trung
Tướng Khánh nhiều bằng chức vụ của Trung Tướng Minh với
ông Ðốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ trước đây cộng lại.
Trung Tướng Khánh đồng ý giữ Ðại Tá Viên trong chức vụ
Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù. Mời Trung Tướng Khiêm giữ chức
Tổng Tưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội,
nhưng Trung Tướng Khiêm không nhận. Ông muốn ở lại chức
vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Dĩ nhiên là chính ông "muốn" chớ
không phải ông "bị" như cách đây tròn 1 tháng. Buổi họp
chọn vị đứng đầu quốc gia và đứng đầu chánh phủ tạm
ngưng, vì Trung Tướng Khánh phải lên tòa nhà chánh họp báo.
Lúc đó là 2 giờ chiều, tại tầng
trệt tòa nhà chánh. Rất đông phóng viên báo chí truyền thanh
truyền hình trong nước lẫn ngoại quốc. Trên bàn chủ tọa,
Ðại Tá Cao Văn Viên ngồi cạnh Trung Tướng Nguyễn Khánh,
còn Trung Tướng Khiêm vắng mặt vì bệnh. Chuẩn Úy Nguyễn
Ngọc Linh là thông dịch. Chuẩn Úy Linh tốt nghiệp khóa 12
(hoặc 13) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Ông là chủ
một trường Anh ngữ khá nổi tiếng tại Sài Gòn. Sinh viên
sĩ quan khóa này có một số khá đông tốt nghiệp đại học
mà báo chí thường gọi là "thành phần khoa bảng".
Tổng quát thì Trung Tướng Khánh
cho rằng, một số Tướng Lãnh trong nhóm đảo chánh 1/11/1963,
đã âm mưu đưa nước Việt Nam đến trung lập, mà trung lập
là thời kỳ chuyển tiếp đến chế độ cộng sản. Và âm
mưu này phải phá vỡ từ trong trứng, nếu không, nó sẽ là
một sỉ nhục các chiến sĩ và đồng bào đã ngã xuống cho
ngọn cờ quốc gia chống cộng. Ðồng thời, dân tộc Việt
Nam phải chịu sự thống trị của cộng sản và lệ thuộc
Trung Cộng như hằng ngàn năm trong lịch sử. Do vậy, mà nhóm
của ông đứng lên làm cuộc "chỉnh lý" hôm nay....
Sau đó, ông trả lời những câu
hỏi của báo chí. Phần lớn những câu hỏi đều xoay quanh
điều mà ông nói là âm mưu trung lập Việt Nam. Tôi không
nhớ hết nguyên văn câu hỏi và trả lời, nhưng những điều
dưới đây là tôi tóm tắt theo trí nhớ (đoạn này tôi viết
lại lúc trong tù):
"Nhóm lãnh đạo chỉnh lý gồm những
ai?"
"Nhóm lãnh đạo của chúng tôi gồm
3 người: Tôi, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Ðại Tá
Cao Văn Viên". Vừa nói ông vừa chỉ Ðại Tá Viên.
"Xin Trung Tướng cho biết những
bằng cớ về âm mưu trung lập?"
"Hội Ðồng chúng tôi sẽ truy tố
các vị đó ra tòa theo luật định. Tòa án sẽ căn cứ vào
những bằng cớ để phán quyết".
"Các vị Tướng đó nghe nói đã
bị bắt, có đúng không? Nếu đúng, thì các vị đó bị giữ
ở đâu?"
"Ðúng. Các vị đó được giữ
ở nơi an toàn trong khi chờ ra tòa".
"Nhóm Chỉnh Lý có thành lập chánh
phủ dân sự như nhóm đảo chánh trước đây hay không?"
"Chúng tôi thành lập chánh phủ
quân sự, nhưng cũng là tạm thời".
"Hiến Chương tạm thời bao giờ
được thay đổi?"
"Sẽ được thay bằng Hiến Pháp
khi Quốc Hội được bầu lên trong một tình hình ổn định".
"Hàm râu của Trung Tướng cắt theo
kiểu đó có nghĩa gì?"
Dường như bị bất ngờ, Trung Tướng
Khánh đưa tay vuốt chòm râu cụt ngủn kèm theo nụ cười
kéo dài khá lâu, chắc là để tìm câu trả lời trước câu
hỏi này.
"Mỗi quân nhân chúng tôi thường
có cái gì đó để kỷ niệm cho riêng mình. Hàm râu của tôi
cũng không ngoài ý nghĩa đó".
Và cuộc họp báo chấm dứt, nhưng
điều mà các phóng viên thắc mắc liên quan đến bằng chứng
về kế hoạch trung lập của các vị Tướng bị bắt, thì
Trung Tướng Khánh trả lời rất mơ hồ, khiến họ tỏ vẻ
không hài lòng. Mà thật ra ngôn ngữ trong chính trị, không
nhất thiết một với một là hai như trong ngôn ngữ của các
ngành sinh hoạt khác, cho nên có hài lòng hay không hài lòng
cũng vậy thôi.
Trước bữa ăn tối, Trung Tướng
Khánh, Trung Tướng Khiêm, và Ðại Tá Viên, thảo luận với
một số vị dân sự và hành chánh để thành lập chánh phủ.
Tôi xin phép chạy về nhà vì con tôi lên cơn nóng, nên không
theo dõi được phần thảo luận chi tiết. Sau đó Trung Tướng
Khiêm gọi tôi trở lại "bản doanh" gấp:
"Chú sang bộ tư lệnh Quân Ðoàn
nói với Ðại Tá Mạnh (Nguyễn Văn Mạnh) Tham Mưu Trưởng,
chuẩn bị để sáng mai tôi bàn giao cho Thiếu Tướng Lâm Văn
Phát. Còn mấy chú cũng chuẩn bị bàn giao văn phòng rồi trở
về Tổng Tham Mưu với tôi".
"Trung Tướng đã nhận lời với
Trung Tướng Khánh?"
"Không có người nên tôi phải nhận
thôi. Tôi coi Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu luôn. Tôi
ngồi ở văn phòng mà trước kia Ðại Tướng Tỵ ngồi đó.
Chú sắp xếp lại cho tôi. Phần chú, chú làm chánh văn phòng
cả hai bên, nghĩa là Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu. Thôi,
chú chạy qua Quân Ðoàn lo cho kịp. Nhớ bảo Ðại Úy Tuấn
về lại Tổng Quản Trị luôn". (Ðại úy Nguyễn văn Tuấn,
về sau là Ðại Tá, Giám Ðốc Nha An Ninh Hành Chánh khi Ðại
Tướng Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng)
"Chào Trung Tướng, tôi đi ngay".
Sáng 31/1/1964, bàn giao xong, tôi và
các quân nhân văn phòng dọn về lại văn phòng Tổng Tham Mưu
Trưởng. Vẫn trên tầng lầu, nhưng khác phòng. Trung Tướng
Khiêm nhận hai chức vụ của Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhưng
không có bàn giao, vì Trung Tướng Ðôn đã bị bắt từ hôm
qua. Cùng lúc, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu nhận chức Tham
Mưu Trưởng Liên Quân, cũng không có bàn giao vì Trung Tướng
Lê Văn Kim cũng bị bắt rồi. Tôi nhận bàn giao của Thiếu
Tá Ðặng Văn Hoa, gồm văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng
và văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng
gần như hoàn toàn về kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ, dĩ
nhiên là về mặt chính trị cũng vậy. Nói rõ hơn trong các
biến cố chính trị, nhóm nào được Mỹ ủng hộ thì phần
thắng có thể trong tầm tay. Ủng hộ thì có thể có nhiều
cách, nhưng sự có mặt của một người Mỹ trong cuộc đảo
chánh 1/11/1963 và cuộc đảo chánh lần này, là biểu hiện
rõ nhất. Với cuộc đảo chánh 30/1/1964, giữa bộ ba lãnh
đạo đảo chánh (chỉnh lý, chỉ là một loại ngôn ngữ chính
trị) với Hoa Kỳ, liệu bên nào là bên khởi xướng? Ðiều
đó tôi không rờ, nhưng chắc chắn là ba vị này đã tiếp
xúc ít nhất là 2 lần với Hoa Kỳ, kể từ lúc tôi đón Trung
Tướng Khánh về đến Sài Gòn.
Nhìn từ góc độ cá nhân. Liệu
có phải cuộc đảo chánh bắt nguồn từ "cái hận của Trung
Tướng Trần Thiện Khiêm" khi cử ông vào phái đoàn công du
Ðại Hàn mà ông tưởng như phần thưởng, để rồi cử ông
vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III trong khi ông công du ngoại
quốc chưa về? Xin nhớ rằng, Trung Tướng Khiêm là một trong
những vị nòng cốt lãnh đạo cuộc đảo chánh 1/11/1963, vì
trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân nếu ông không tham
gia thì cuộc đảo chánh cũng không dễ gì thực hiện được.
Và cũng liệu có phải là từ "cái hận" của Ðại Tá Viên
khi bị tách khỏi Lữ Ðoàn Nhẩy Dù trong cuộc đảo chánh
1/11/1963 không? Nếu không phải là "những cái hận" đó, thì
tại sao trong buổi họp chọn người lãnh đạo ngay sau khi
đảo chánh thành công, Trung Tướng Khiêm nói "phần tôi đến
đây là đủ rồi", và tại sao Ðại Tá Viên cũng nói "phần
tôi đến đây là xong rồi". Cả hai vị có cùng câu nói tương
tự nhau là bao hàm ý nghĩa rằng "tôi không thích chính trị"
hoặc "tôi không thích lao vào chính trị", để rồi Trung Tướng
Khánh "đành" nhận cả hai chức vụ cao nhất nước? Hãy để
câu trả lời chính xác cho cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm
và cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên.
Nếu chấp nhận giả thuyết "hai
cái hận" nói trên là nguyên nhân, thì theo tôi, hành động
phục hận của Trung Tướng Khiêm và Ðại Tá Viên mới là
"động lực", mà động lực không cũng chưa đủ, vì phải
có "ngòi nổ" để phát nổ nữa chớ. Trung Tướng Khánh là
mẫu người nhiều tham vọng, và đây đúng là "ngòi nổ" để
đẩy động lực kia nổ máy. Tôi muốn nói là Trung Tướng
Khánh đã khai thác cái hận của Trung Tướng Khiêm với Ðại
Tá Viên bằng cách khích hai vị ấy phục hận. Cũng chưa đủ,
phải có "lửa" châm ngòi nổ nữa chớ. Tôi cho rằng Hoa Kỳ
là ánh lửa châm ngòi. Như vậy, nếu đúng là phục hận thì
Hoa Kỳ cũng có nguyên nhân nào đó chớ chẳng lẽ Hoa Kỳ
giúp đảo chánh chỉ để hai vị phục hận riêng tư sao? Chắc
chắn là không.
Nhìn vào một góc độ khác, góc
độ chính trị ngoại giao. Liệu có phải Hoa Kỳ muốn loại
trừ những Tướng lãnh cầm quyền mà trước đó có tiếng
là thân Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam không? Chắc trong
chúng ta, lứa tuổi chào đời thập 20, 30, không ai quên là
Pháp rất không bằng lòng hành động của Hoa Kỳ góp phần
đẩy nước Pháp đến việc ký kết Hiệp Ðịnh Ðình Chiến
Genève 20/07/1954 với Việt Minh cộng sản, dẫn đến sự kiện
nước Pháp thua trận và đoàn quân viễn chinh của Pháp hoàn
toàn rút khỏi Việt Nam năm 1956. Tổng Thống Pháp quốc, Tướng
Charles De Gaulle, vào đầu thập niên 1960, trong chuyến viếng
thăm Cambodge, ông cổ võ chính sách trung lập cả ba nước
Việt Nam, Cam Bốt, và Lào. Quan niệm trung lập của ông De
Gaulle, chẳng khác nào xúi ba nước trên bán đảo Ðông Dương
vào ảnh hưởng cộng sản, điều đó có nghĩa là vực Việt
Nam Cộng Hòa (cùng với Cam Bốt và Lào) ra khỏi ảnh hưởng
của Hoa Kỳ. Phải chăng đây cũng là cách phục hận của
Pháp đối với Mỹ? Lúc ấy, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm phản
ứng mạnh mẽ về lời tuyên bố đó của Tổng Thống Pháp.
Liên quan đến đoạn trên đây,
cựu Ðại Tướng Khiêm nói với tôi trong cuộc điện đàm
tối 21/10/2003, như sau:
"Tôi không biết tại sao mà Mỹ
lại bỏ rơi ông Minh nữa".
Tôi nói với ông về nét nhìn của
tôi như đoạn viết ở trên. Ông nói:
"Ðiều chú nói có lý lắm, nhưng
có thể còn điều gì đằng sau đó nữa".
Nhưng mà thưa các bạn, với câu
nói ngắn ngủi của cựu Ðại Tướng Khiêm trên đây, cộng
với nguyên nhân mà Trung Tướng Khánh (cấp bậc lúc đảo
chánh) đã tuyên bố trong buổi họp báo cách nay 39 năm sau
khi đảo chánh thành công (30/1/1964), theo đó thì Trung Tướng
Dương Văn Minh và các vị trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng
thành lập ngày 1/11/1963, có kế hoạch đưa Việt Nam đến
trung lập, có thể làm quí vị suy nghĩ nếu quí vị muốn
đào sâu thêm về con người dẫn đến sự kiện ngày 30/1/1964.
Nhìn sang góc độ khác nữa, góc
độ chính trị nội bộ. Liệu có phải năm vị Tướng vừa
bị bắt kia, thật sự có kế hoạch trung lập Việt Nam hay
không vì Trung Tướng Khánh với quyền uy cao nhất nước, đã
nói với báo chí là sẽ đưa các vị đó ra tòa (?).Tôi chấm
hỏi trong ngoặc đơn như vậy vì tôi nghi ngờ lời ông. Tôi
nghi ngờ vì chen lẫn trong lúc ba vị thảo luận thành lập
chánh phủ, Trung Tướng Khánh có nói sẽ ra lệnh cho Trung Tá
Cao (Albert Nguyễn Cao) và Thiếu Tá Nhiêu (Lê Văn Nhiêu) -sĩ
quan tình báo- truy tìm tài liệu về "kế hoạch trung lập".
Câu nói đó cho tôi hiểu đôi chút là khi bắt các vị Tướng
bị cáo buộc "trung lập", thì trong tay các vị đảo chánh
chưa có bằng chứng gì trung lập hết, hoặc nếu có cũng
chưa đủ để đưa các vị ấy ra tòa.
Năm 1994, khi tôi viết lại đoạn
này thì cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm sống ở Washington
D.C. một cách lặng lẽ, không tiếp xúc với ai liên quan đến
chính trị. Trong khi cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên thì đi sâu
vào thiền, cũng ở Washington D.C. và cuộc sống càng ẩn dật
hơn cựu Ðại Tướng Khiêm nữa. Ðiều đó đúng trong thời
gian ấy. Nhưng ngày 6 tháng 9 năm 2003, vợ chồng tôi lên Virginia
thăm ông bà cựu Ðại Tướng Khiêm, nhận thấy ông và gia
đình ông vẫn trong cuộc sống ẩn dật tuy là trong căn nhà
khá rộng. Buổi tối cùng ngày, tôi và hai người bạn nữa
đến đón cựu Ðại Tướng Viên từ một gian phòng nhỏ trong
building khang trang, về nhà anh chị Lý Thanh Tâm dùng cơm tối.
Anh Lý Thanh Tâm, một cựu sĩ quan ngành Tổng Quản Trị. Anh
Chị Lý Thanh Tâm, là người giúp cựu Ðại Tướng Viên rất
nhiều việc trong những năm gần đây. Trong bữa ăn này, tôi
thấy sức khỏe của ông rất kém nhưng sự minh mẫn không
sa sút bao nhiêu, tôi không hỏi ông về thiền vì sức khỏe
của ông như vậy ông không thể ngồi thiền được nữa.
Có một điều thật dứt khoát là ông không thể tham gia vào
những vấn đề chính trị, đơn giản là sức khỏe của ông
trong tình trạng sút kém đến mức khó mà hình dung được
nếu không trông thấy ông.
Xin giải thích thêm về cựu Ðại
Tướng Cao văn Viên. Trong cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm ngày 1 và 2/11/1963, lúc ấy ông là Ðại Tá, bị
Hội Ðồng Quân Cách Mạng cách ly khỏi chức vụ Tư Lệnh
Lữ Ðoàn Nhẩy Dù và bị cách chức sau khi Hội Ðồng Quân
Nhân Cách Mạng đảo chánh thành công. Nhưng bà Cao Văn Viên
nhờ Trung Tướng Trần Thiệm Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ)
vì hai vị là bạn thân, vận động với Trung Tướng Dương
Văn Minh và Ðại Tá Viên được trở lại chức vụ Tư Lệnh
Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, dĩ nhiên vị sĩ quan thay thế ông mấy
ngày phải chuyển sang đơn vị khác. Tháng sau đó, trong một
cuộc hành quân trực thăng vận (chuyển quân bằng phi cơ trực
thăng đổ ngay tại chiến trường) dọc biên giới Việt Nam-Cam
Bốt thuộc quận Hồng ngự, tỉnh Kiến Phong. Cuộc hành quân
này đã đánh nhau dữ dội với quân cộng sản từ bên trong
lãnh thổ Cam Bốt xâm nhập vào, với sự yểm trợ của Pháo
Binh, Thiết Giáp, và Không Quân, Nhẩy Dù đã chiến thắng
nhưng chấp nhận số thương vong đáng kể. Trong số bị thương
có Ðại Tá Viên, ông và những thương binh khác được đưa
về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị. Chiều hôm đó, Trung
Tướng Nguyễn Khánh với chức năng Quốc Trưởng, cùng với
Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm
Tổng Tham Mưu Trưởng, vào tận giường bệnh trao gắn cấp
bậc Thiếu Tướng cho Ðại Tá Cao Văn Viên. Ðây là thăng
cấp mặt trận. Ðến đây là hết phần giải thích.
Một hôm, Trung Tướng Khiêm gọi
tôi vào văn phòng, tôi thấy ông có vẻ như có điều gì quan
trọng, ông nói:
"Chú phải biết là ngoài Bộ Quốc
Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu, tôi còn là cố vấn cho Trung Tướng
Khánh nữa, nên tôi không có thì giờ nhiều như trước đây.
Vì vậy mà chú phải thận trọng khi thu xếp chương trình
tiếp khách hằng ngày của tôi để tôi có thì giờ nghiên
cứu nhiều vấn đề. Chú hiểu ý tôi chớ?"
"Vâng. Tôi hiểu".
"Dù muốn hay không muốn, tôi cũng
phải dính dáng đến chính trị. Ðó là điều không thích
hợp với tôi".
"Vâng. Tôi hiểu".
Ngưng một chút, ông tiếp:
"Chú liên lạc Phòng Tổng Quản
Trị (Tổng Tham Mưu) làm lệnh thuyên chuyển Ðại Úy Ðặng
Văn Châu về văn phòng (Tổng Tham Mưu Trưởng), làm thông dịch
viên khi cần".
Ðại Úy Ðặng Văn Châu là chánh
văn phòng Tỉnh Trưởng Vĩnh Long, lúc ấy Trung Tá Lê Văn Phước
là Tỉnh Trưởng. Sau ngày 1/11/1963, Trung Tá Phước bị cách
chức và giải ngũ. Thế là Ðại Úy Châu về văn phòng tôi.
Trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng có các sĩ quan sau đây:
Tôi, Ðại Úy Nguyễn Hữu Có sĩ quan tùy viên luôn luôn đi
theo Trung Tướng Khiêm, Ðại Úy Nguyễn Tinh Tú sĩ quan tùy
viên tại tư dinh, và Ðại úy Ðặng Văn Châu thông dịch viên.
Trước ngày đảo chánh còn có Ðại Úy Trần Thiện Nguơn,
anh của Trung Tướng Trần Thiện Kiêm, nhưng sau ngày đảo
chánh anh thuyên chuyển đơn vị khác vì văn phòng dư sĩ quan
theo ấn định trong bảng cấp số. Thật ra Trung Tướng Khiêm
chỉ sử dụng Ðại Úy Châu thông dịch trong trường hợp
tiếp các phóng viên báo chí ngoại quốc, không phải ông không
nói được Anh ngữ, nhưng vì nhà báo ngoại quốc thường
hỏi những câu hóc búa, thành ra ông cần cái khoảng thời
gian thông dịch để chuẩn bị câu trả lời.
Vài tuần sau ngày trở lại Bộ
Tổng Tham Mưu, Trung Tướng Khiêm bảo tôi viết chi phiếu xuất
100 ngàn đồng cho nhà thờ Martino tu sửa những hư hỏng, vì
ảnh hưởng trong cuộc chạm súng giữa lực lượng tấn công
với lực lượng phòng vệ Phủ Tổng Thống trong ngày 1/11/1963.
Tập chi phiếu này tôi nhận bàn giao ngày 31/1/1964 từ Thiếu
Tá Ðặng Văn Hoa, chánh văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng,
lúc ấy số tiền trong quỹ mật còn 36 triệu đồng.
Lần thứ nhì, tôi cũng được lệnh
viết chi phiếu 100 ngàn đồng cấp cho Trung Tá Nguyễn Văn
Luông, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, trong dịp
Trung Tá Luông cưới vợ cho con. Tôi nghĩ, ngoài công tác bắt
những vị Tướng khởi đầu cũng là kết thúc cho cuộc đảo
chánh ngày 30/1/1964 ra, không có nguyên nhân nào khác để Trung
Tá Luông được phần thưởng này cả. Cho Trung Tá Luông để
cưới vợ cho con, tôi nghĩ, đó chỉ là cái cớ hơn là nguyên
nhân.
Trong số những sĩ quan bị bắt
sau cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 đang giữ tại Nha An Ninh
Quân Ðội, có Trung Tá Nguyễn Văn Minh, và Trung Tá Nguyễn
Khắc Bình, là hai trong số những vị tôi quen biết khá nhiều.
Trung Tá Minh, Tỉnh Trưởng An Giang trong khi Ðại Tá Trần Thiện
Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
kiêm Tư Lệnh Khu 33 Chiến Thuật (còn gọi là Khu Chiến Thuật
Hậu Giang). Trung Tá Bình, khi còn tổ chức Quân Khu, ông là
Tham Mưu Trưởng đệ ngũ Quân Khu đồn trú tại Cần Thơ.
Tháng 4/1961, khi giải thể tổ chức Quân Khu để thành lập
Khu Chiến Thuật với Vùng Chiến Thuật, Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
từ Sa Ðéc di chuyển sang Cần Thơ đồn trú ngay trong doanh
trại Quân Khu vừa giải thể, và Thiếu Tá Bình (cấp bậc
lúc bấy giờ) giữ chức Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
Do mối liên hệ công tác đó đã dẫn đến thân tình giữa
Ðại Tá Khiêm với hai vị.
Cũng xin nói thêm đôi nét về Thiếu
Tá Nguyễn Khắc Bình. Từ Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Thiếu Tá Bình
được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm vào chức vụ
Tỉnh Trưởng Ðịnh Tường. Theo lời Ðại Úy Nguyễn Hữu
Tài hồi năm 1964 -anh của Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có- thì
sáng ngày 1/11/1963, Thiếu Tá Bình mang một phúc trình mật
từ Mỹ Tho lên Sài Gòn để trình Tổng Thống Ngô Ðình Diệm
về những dấu hiệu của một cuộc đảo chánh, nhưng Thiếu
Tá Bình bị Ðại Tá Có (cấp bậc lúc bấy giờ) chận bắt.
Bà Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn
Khắc Bình, sau nhiều lần đến nhà tôi nhờ tôi trình với
Trung Tướng Khiêm xin cứu xét giúp cho hai ông được tự do.
Trung Tướng Khiêm có vẻ phân vân, chưa quyết định. Lần
trình bày thứ nhì của tôi cùng với đơn của hai bà, Trung
Tướng Khiêm phê dòng chữ trên hai đơn đó: "Nha An Ninh (Quân
Ðội) cứu xét rộng rãi". Sau đó, Trung Tá Minh và Thiếu Tá
Bình được tự do. Chưa có quyết định gì về Trung Tá Minh,
nhưng Thiếu Tá Bình được thuyên chuyển về văn phòng Tổng
Tham Mưu Trưởng, và Trung Tướng Khiêm giao trách nhiệm cho
Thiếu Tá Bình khai thác đống hồ sơ của đảng Cần Lao,
mà Trung Tướng Trần Văn Ðôn đã cho chở đầy một xe vận
tải quân sự GMC từ Phủ Tổng Thống về tòa nhà chánh Tổng
Tham Mưu từ ngày 2/11/1963, và tôi cho mang lên để ở tầng
lầu trên cùng.
Vài tháng sau đó, Thiếu Tá Nguyễn
Khắc Bình được thăng cấp Trung Tá. Trong khi Trung Tá Nguyễn
Văn Minh vẫn cấp bậc cũ, nhưng ông có cái may khác. Trung
Tá Minh lần đầu tiên đến văn phòng tôi kể từ sau ngày
được tự do, ông vẫn giữ thông lệ chơi ngọt với tôi
nên phần "uống cà phê chơi" của tôi lần này là con búp
bê sản xuất "bên Tây" rất đẹp.
Xin nhắc lại là khi ông làm Tỉnh
Trưởng An Giang, tôi là chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21
Bộ Binh đồn trú tại Cần Thơ, cứ mỗi lần ông đến Cần
Thơ họp là y như rằng, Trung Tá Minh tặng tôi cái phong bì
mà bên trong là 200 đồng (Việt Nam) kèm theo lời nói của
ông: "em cầm lấy uống cà phê chơi" dù ông biết rằng tôi
không quen uống cà phê.
Sau đó thỉnh thoảng ông tạt vào
văn phòng tôi chơi. Một hôm Trung Tá Minh nhờ tôi trình Trung
Tướng Khiêm, cho ông thuyên chuyển đến Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
và ông bằng lòng nhận bất cứ nhiệm vụ gì ở đó. Ông
giải thích thêm:
"Em biết hông, theo thầy tướng
số, nếu Anh được về hướng đó sẽ có nhiều cơ hội
thăng tiến hơn. Em ráng giúp Anh nghe Hoa".
Trong khi chờ quyết định của Trung
Tướng Khiêm, Trung Tá Minh cho tôi thêm thông tin liên quan đến
ông, rằng Ðại Tá Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh đồng ý cử
ông vào chức vụ Chỉ Huy Trưởng Lữ Ðoàn Cà Mau. Và rồi
Trung Tá Minh thành công bước đầu, tức là ông được Trung
Tướng Khiêm chấp thuận thuyên chuyển đến Sư Ðoàn 21 Bộ
Binh. Và bước thứ hai:
"Hoa à! Em ráng giúp Anh lần nữa
nghe. Lần này là em thu xếp cho Anh chiếc phi cơ L19, và điều
cần là anh phi công với phi cơ có mặt tại sân VIP đúng 7
giờ sáng -không sớm cũng không muộn- và đừng tắt máy.
Anh sẽ lên phi cơ ngay. Anh nói nhỏ em nghe: ông thầy tướng
số nói nếu như Anh đi đúng như vậy và đúng về hướng
Sư Ðoàn 21 thì tương lai Anh sẽ lên tột đỉnh trong quân
đội đó em. Ráng nghe Hoa".
Trước khi ra về, ông đưa tôi cái
phong biợ tặng anh phi công, và phần 'uống cà phê chơi' của
tôi cũng là một phong bì.
Xin giải thích. Trung tuần tháng
12 năm 1962, ngay sau khi Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm (thăng
cấp Tướng ngày 6/12/1962) bàn giao Sư Ðoàn 21 Bộ Binh cho Ðại
Tá Bùi Hữu Nhơn, thì Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn cùng các đơn
vị yểm trợ trực thuộc, di chuyển đến nơi đồn trú mới
là Bạc Liêu, vì Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV sẽ thành lập
từ ngày 1/1/1963 đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt trong
tỉnh lỵ Cần Thơ. Còn phi cơ L19 là loại phi cơ sử dụng
quan sát từ trên không, và hướng dẫn Pháo Binh hoặc phi cơ
khu trục tác xạ. Trường hợp cần thiết, sử dụng chở
một sĩ quan hay Tướng Lãnh công tác. Còn Lữ Ðoàn Cà Mau
là tên gọi một đơn vị chiến thuật do Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
thành lập cho nhu cầu ổn định tình hình tỉnh An Xuyên (Cà
Mau là tỉnh lỵ), gồm Trung Ðoàn 32 Bộ Binh (trực thuộc Sư
Ðoàn 21 Bộ Binh) và Pháo Binh với Thiết Kỵ (Thiết Giáp Kỵ
Binh).
Vài tuần sau ngày Trung Tá Nguyễn
Văn Minh nhận nhiệm vụ tại Lữ Ðoàn Cà Mau, ông điện thoại
về tôi:
"Hoa à! Anh đang có một việc liên
quan đến tòa án và họ có giấy gọi Anh về Sài Gòn để
trả lời một số câu hỏi. Em ráng nói với chánh văn phòng
Bộ Tư Pháp là đơn vị Anh đang hành quân, khi xong thì Anh
về trình diện. Em ráng giải quyết càng sớm càng tốt nghe
em".
"Mà chuyện gì vậy Trung Tá? Liệu
có ghê gớm lắm hông?"
"Không quan trọng đâu em. Chẳng
qua là sự việc chưa rõ ràng thôi mà".
"Ðược. Tôi sẽ cố gắng nhưng
không hứa chắc chắn nghe Trung Tá, vì tôi chưa hiểu đầu
đuôi ra sao".
Sau khi liên lạc với chánh văn phòng
ông Tổng Trưởng Tư Pháp, tôi mới biết Trung Tá Nguyễn Văn
Minh đang là một trong những nghi can về cái chết của mấy
nhân vật chính trị đã bị thủ tiêu ở tỉnh An Giang mà
lúc ấy Trung Tá Minh là Tỉnh Trưởng. Chánh văn phòng Bộ
Tư Pháp cho biết là ông Tổng Trưởng thuận dời lại đến
khi Trung Tá Minh chấm dứt hành quân. Tôi cũng không hiểu là
bằng cách nào mà chỉ trong thời gian ngắn sau đó, Trung Tá
Nguyễn Văn Minh đã vận động ra sao mà từ đó tôi không
nghe thấy gì về vụ này nữa. Khi viết lại những dòng này,
tôi tự hỏi: có phải là tôi đã chen chân vào vụ án đó
hay không nữa? Thật lòng là tôi chỉ nói đúng theo yêu cầu
của Trung Tá Minh chỉ xin dời ngày trình diện của ông thôi.
Về ông thầy tướng số tử vi
đã giải lá số tử vi của Trung Tá Nguyễn Văn Minh hay dở
ra sao thì tôi không rõ, nhưng có điều là sau cuộc chiến
Mùa Hè Ðỏ Lửa tháng 4 năm 1972, có dư luận ngay trong Bộ
Tổng Tham Mưu là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (ông đã thăng
cấp khá nhanh) có hi vọng thay thế Ðại Tướng Cao Văn Viên
trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng .
Xin trở lại Bộ Tổng Tham Mưu.
Ðầu tháng 4 năm 1964, một Sắc
Lệnh do Trung Tướng Nguyễn Khánh ký, nâng danh xưng Bộ Tổng
Tham Mưu thành Bộ Tổng Tư Lệnh. Và một Sắc Lệnh khác,
nâng danh xưng Quân Ðội thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
bao gồm: Lục Quân, Không Quân, Hải Quân, Ðịa Phương Quân,
và Nghĩa Quân. Vậy là, Bộ Tổng Tham Mưu, từ bấy giờ có
danh xưng là Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa. Vị đứng đầu tức Trung Tướng Trần Thiện Khiêm
là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng bên trên
còn có vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao trong chức năng Quốc Trưởng,
chính vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao này mới có thẩm quyền tuyên
chiến.
Trung tuần tháng 4 năm 1964, Hội
Ðồng Tướng Lãnh mà nòng cốt là Trung Tướng Nguyễn Khánh,
Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng với chức năng
Quốc Trưởng, kiêm Thủ Tướng, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm,
Tổng trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa, và Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Ðoàn
Nhẩy Dù, lên Ðà Lạt họp để giải quyết năm vị Tướng
bị bắt giữ từ ngày 30 tháng 1 năm 1964, vì các vị này bị
cáo buộc là "chủ trương trung lập hóa Việt Nam và sẽ truy
tố ra tòa" mà Trung Tướng Khánh đã tuyên bố trong buổi họp
báo chiều ngày 30 tháng 1 năm 1964 tại tòa nhà chánh Bộ Tổng
Tham Mưu, sau khi đảo chánh thành công. Kết quả trong tinh thần
hòa giải hòa hợp (?), xem như các vị Tướng bị cáo đều
không có tội nhưng không được giữ những chức vụ quan
trọng trong quân đội. Thật ra không hòa giải hòa hợp cũng
không được, vì đâu có bằng chứng gì để truy tố ra tòa.
Hòa giải hòa hợp xong, các vị có mặt gồm "nguyên cáo lẫn
bị cáo" ôm nhau vui vẻ và "ăn nhậu linh đình", có cả sự
"giúp vui" của những cô gái ngay tại biệt thự chọn làm
nơi hội họp. Các cô này được phi cơ C47 đưa từ Sài Gòn
lên.
Sở dĩ Hội Ðồng Tướng lãnh họp
tại Ðà Lạt là vì sau khi năm vị Tướng bị bắt ngày 30
tháng 1 năm 1964 đưa ra giữ ở Ðà Nẳng, nhưng do thiếu tiện
nghi sinh hoạt nên Trung Tướng Nguyễn Khánh chấp nhận lời
yêu cầu của năm vị mà chuyển lên Ðà Lạt giam trong một
biệt thự với những tiện nghi sinh hoạt tốt hơn. Trong thời
gian giam giữ các vị tại Ðà Nẳng, Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm chỉ thị tôi trách nhiệm thanh toán chi phí, nhưng khi
chuyển lên Ðà Lạt thì văn phòng Phủ Thủ Tướng trách nhiệm.
Về hòa giải hòa hợp giữa các
vị Tướng Lãnh. Xin quí vị quí bạn lùi lại những ngày
cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1964. Ðại Tá Nguyễn Cao (có
tên Pháp là Albert Cao), Trung Tá Lê Văn Nhiêu, hai vị này thuộc
Phủ Thủ Tướng, và Trung Tá Nguyễn Khắc Bình văn phòng Tổng
Tham Mưu Trưởng, ba sĩ quan này đã phục vụ nhiều năm trong
ngành tình báo quân sự, tạo thành một toán công tác tình
báo đặc biệt. Theo lệnh của Trung Tướng Nguyễn Khánh, ba
vị sĩ quan này truy tìm chứng cớ để kết tội năm vị Tướng
bị cáo buộc "chủ trương trung lập". Ðến ngày kết thúc,
Trung Tá Bình sau khi từ phòng Trung Tướng Trần Thiện Khiêm
bước ra, anh nói với tôi:
"Anh biết hông, tụi tôi truy lục
các hồ sơ ở An Ninh Quân Ðội, Tổng Nha Cảnh Sát, rồi bên
Phủ Ðặc Ủy Tình Báo, và hầu hết các tòa soạn báo chí,
nhưng không tìm ra bất cứ một chứng cớ nào liên quan đến
chủ trương trung lập của mấy ông Tướng bị bắt cả".
"Vậy các vị Tướng bị cáo chủ
trương trung lập chẳng qua là cái cớ cho cuộc "Chỉnh Lý"
(Trung Tướng Nguyễn Khánh gọi như vậy, thật ra cũng là đảo
chánh thôi), còn nguyên nhân nằm ở đâu?"
"Tôi cũng tự hỏi như anh vậy".
"Khi anh trình kết quả này, Trung
Tướng (Trần Thiện Khiêm) có nói gì hông?"
"Không".
Vậy, nguyên nhân nằm ở đâu? Tôi
nghĩ, nguyên nhân ở người Mỹ có mặt trong buổi sáng ngày
30 tháng 1 năm 1964 tại nhà Trung Tướng Nguyễn Khánh, đây
cũng là bản doanh của các vị lãnh đạo đảo chánh. Phải
chăng Hoa Kỳ muốn loại trừ hẳn những Tướng lãnh cầm
quyền mà trước đó bị cáo buộc là thân Pháp ra khỏi chính
trường Việt Nam không?
Nếu đúng như vậy thì rõ ràng
là Hoa Kỳ thực hiện mục tiêu theo từng bước: Bước một,
lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm vì Tổng Thống Diệm
không đồng ý để Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong chiến lược Domino của Hoa
Kỳ, nhằm tạo một hàng rào che chắn mặt Nam của Trung Hoa
cộng sản. Tổng Thống Diệm đã nhìn thấy thế chính trị
Việt Nam Cộng Hòa bị tổn thương trong bối cảnh chính trị
quốc tế nếu có mặt quân bộ chiến Hoa Kỳ trong cuộc chiến
này. Sau khi lật đổ Tổng Thống Diệm, trao cờ vào tay Trung
Tướng Dương Văn Minh và các vị Tướng thâm niên phất tạm.
Bước hai, Hoa Kỳ "bật đèn xanh" cho Trung Tướng Trần thiện
Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, và Ðại Tá Cao Văn Viên,
giành lấy cờ từ tay các vị Tướng bị cáo buộc thân Pháp
để phất tiếp. Chính sách của Hoa Kỳ, năm 1954 đẩy Pháp
đến chỗ chia đôi đất nước Việt Nam, năm 1956 đã góp
phần không nhỏ trong việc đẩy quân đội Liên Hiệp Pháp
rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa, và năm 1964 đẩy luôn các vị
Tướng bị cho là thân Pháp ra khỏi chánh quyền lẫn quân
đội. Thuận lý chớ?
Trở lại vấn đề nội tình Việt
Nam. Trong hướng cố gắng tạo chiến công để có tiếng vang
về khả năng lãnh đạo, Trung Tướng Nguyễn Khánh lệnh cho
Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến
Thuật, tổ chức cuộc hành quân qui mô vào mật khu Ðỗ Xá,
nằm sâu trong vùng rừng già giáp ranh 2 tỉnh Kon Tum và Quảng
Ngãi. Lực lượng hành quân vào tận sào huyệt Ðỗ Xá, phá
hủy nhiều vũ khí đạn dược và toàn bộ cơ sở tiếp vận
(mà cộng sản gọi là hậu cần), nhưng không diệt được
lực lượng của chúng. Tuy vậy, một phần lực lượng tham
dự hành quân qui mô đó cùng với bộ chỉ huy hành quân của
Trung Tướng Trí, được đưa về thủ đô Sài Gòn tham dự
cuộc duyệt binh diễn binh tại công trường Lam Sơn, ngã tư
đại lộ Nguyễn Huệ với đại lộ Lê Lợi. Nhiều quân nhân
được thăng cấp mặt trận và ân thưởng huy chương, mà
theo tôi là vượt trên mức thành tích đạt được. Sở dĩ
có sự kiện như vậy vì Trung Tướng Nguyễn Khánh muốn tỏ
ra chánh phủ do ông lãnh đạo có khả năng tạo được thành
tích.
Hiến Chương Vũng Tàu.
Trung tuần tháng 7 năm 1964, ban hành
Sắc Lệnh thiết lập cấp Chuẩn Tướng trong Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa. Những cấp bậc Tướng Lãnh từ trước đến
lúc bấy giờ là Thiếu Tướng biểu tượng bằng 2 ngôi sao
mỗi bên ve áo hay cầu vai trên áo, Trung Tướng 3 ngôi sao,
Ðại Tướng 4 ngôi sao, và Thống Tướng 5 ngôi sao. Cấp Chuẩn
Tướng mới thiết lập được qui định là 1 ngôi sao mỗi
bên ve áo hay cầu vai trên áo. Ngay sau đó là Sắc Lệnh thăng
cấp Chuẩn Tướng cho 9 Ðại Tá, và Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm được thăng cấp Ðại Tướng, dĩ nhiên là do Trung Tướng
Nguyễn Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực (cải
danh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng)), với chức năng
Quốc Trưởng, ký ban hành. Như vậy, có phải là Ðại Tướng
Khiêm thăng cấp nhanh quá chăng? Vì ngày 6 tháng 12 năm 1962
ông từ Ðại Tá thăng cấp Thiếu Tướng do công vụ, ngày
2 tháng 11 năm 1963 thăng cấp Trung Tướng do tham gia trong nhóm
lãnh đạo đảo chánh 1/11/1963, ngày 15 tháng 7 năm 1964 thăng
cấp Ðại Tướng không do nguyên nhân nào cả, trừ khi Trung
Tướng Khánh muốn vị Tổng Tư Lệnh phải là cấp bậc 4
sao như dự trù cấp bậc lý thuyết trong bảng cấp số Bộ
Tổng Tư Lệnh. Nhưng liệu khi Trung Tướng Khánh quyết định
thăng cấp Tướng cho một số vị là do nhu cầu công vụ,
hay đằng sau quyết định đó còn có nhu cầu nào khác chăng?
Sở dĩ tôi nêu câu hỏi đó cho
tôi, vì sau ngày trao gắn cấp Tướng cho các vị vừa vinh
thăng, thì Trung Tướng Khánh cho triệu tập Ðại Hội Ðồng
Quân Lực tại ngôi biệt thự màu trắng ở Vũng Tàu, nơi
mà cư dân Vũng Tàu thường gọi là "bạch dinh", để thông
qua bản "Hiến Chương" thay thế cho Hiến Ước Lâm Thời sau
khi bãi bỏ Hiến Pháp đệ nhất Cộng Hòa. Ðại Hội Ðồng
Quân Lực sau khi được bổ sung một số vị mới thăng cấp
Tướng, nâng tổng số gần 40 thành viên. Và rồi Ðại Hội
Ðồng Quân Lực thông qua bản Hiến Chương, đồng thời bầu
Trung Tướng Nguyễn Khánh vào chức Chủ Tịch Việt Nam Cộng
Hòa. Vậy, theo quí vị, có phải là Trung Tướng Khánh "mua
chuộc" hay một ý nghĩa nào đó tương đương với mua chuộc
các thành viên trong Ðại Hội Ðồng Quân Lực, nhất là đối
với các vị vừa mang những ngôi sao mới toanh trên ve áo?
Tôi chưa kịp đọc bản Hiến Chương
này, nhưng qua báo chí cũng như những bản tuyên bố của những
tổ chức chính trị, cáo buộc Trung Tướng Khánh là độc
tài khi soạn thảo Hiến Chương và điều khiển Ðại Hội
Ðồng Quân Lực bầu ông vào chức vụ Chủ Tịch với rất
nhiều quyền hành. Thế là ngay sau ngày Hiến Chương được
thông qua tại Vũng Tàu mà báo chí thường gọi là "Hiến Chương
Vũng Tàu", các tổ chức chính trị, tôn giáo, mà khởi đầu
là sinh viên xuống đường mít tinh biểu tình, cáo buộc Trung
Tướng Nguyễn Khánh là độc tài, đòi hủy bỏ Hiến Chương
Vũng Tàu, và đòi Trung Tướng Nguyễn Khánh từ chức.
Một hôm, tôi mang hồ sơ của Ðại
Tướng Trần Thiện Khiêm đến Phủ Thủ Tướng ở số 7 đại
lộ Thống Nhất, để trình tận tay Trung Tướng Thủ Tướng
Nguyễn Khánh đúng lúc đoàn biểu tình vừa dừng trước cổng
và hô to:
Ðả đảo Nguyễn Khánh! Ðả đảo
Nguyễn Khánh!
Lúc bấy giờ, Trung Tướng Khánh
từ trong Phủ Thủ Tướng bước ra dưới sự bảo vệ của
hàng rào cận vệ võ trang chống biểu tình. Khi đoàn biểu
tình trông thấy ông thì họ lại hô to:
Ðả đảo Nguyễn Khánh! Ðả đảo
Nguyễn Khánh!
Lúc ấy tôi không thể tưởng tượng
được là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh cũng giơ tay
lên và cũng hô to:
Ðả đảo Nguyễn Khánh! Ðả đảo
Nguyễn Khánh!
Bỗng dưng đoàn biểu tình trở
nên im lặng. Tôi nghĩ là đoàn biểu tình quá bất ngờ về
hành động của Trung Tướng Khánh làm cho họ mất đối thủ,
vì chính ông cũng đả đảo ông thì còn ai để đoàn biểu
tình đả đảo nữa. Và rồi Trung Tướng Khánh chen vào đoàn
biểu tình cười nói huyên thuyên chẳng khác một thành viên
nhiệt tình trong đoàn biểu tình vậy. Phải công nhận phản
ứng của Trung Tướng Khánh rất cao tay, chớ không phải ông
quên ông là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh đâu quí
vị à!
Cuối cùng Trung Tướng Khánh tuyên
bố hủy bỏ Hiến Chương mới công bố mấy ngày trước đó.
Thế là thủ đoạn chính trị của ông đối với Ðại Hội
Ðồng Quân Lực quá dễ, nhưng với lực lượng chính trị
và tôn giáo thì ngược lại. Một bên có quân có súng nhưng
phục tùng, một bên khác không súng nhưng lại có một sức
mạnh nếu không nói là phi thường thì sức mạnh đó cũng
đủ đập tan chiếc ghế Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa của
Trung Tướng Nguyễn Khánh.
Ðúng là quân nhân phải chấp hành
kỷ luật một cách triệt để, nhưng đó là nhiệm vụ quân
sự thuần túy, còn trường hợp thông qua bản Hiến Chương
tại Vũng Tàu thì không thể coi là nhiệm vụ quân sự mà
là nhiệm vụ chính trị, và cao hơn nữa là nhiệm vụ lãnh
đạo quốc gia. Vậy, quyền quyết định thông qua hay không
thông qua bản Hiến Chương, các vị thành viên Ðại Hội Ðồng
Quân Lực phải tự mình quyết định lá phiếu của mình chớ!
Nhưng rồi bản Hiến Chương đã thông qua dễ dàng, điều
đó có nghĩa là các vị đã đồng ý nội dung cho dù từ trong
thâm tâm quí vị rất có thể là không phải như vậy. Nếu
đúng như vậy thì quí vị đã không thực hiện được vai
trò thành viên của tập thể lãnh đạo quốc gia rồi còn
gì, và quí vị phải chịu chung lỗi lầm sai trái khi đồng
tình với nội dung bản Hiến Chương bị cáo buộc là độc
tài.
Hội Ðồng Quân Lực thu hẹp vội
vã họp tại Trung Tâm Hành Quân/Bộ Tổng Tư Lệnh để tìm
giải pháp cho sự khủng hoảng, nhưng suốt ngày vẫn không
thành công. Cuối cùng, giải pháp lãnh đạo bởi ba người
mà báo chí gọi là "tam đầu chế", gồm: Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm, Trung Tướng Dương Văn Minh, và Trung Tướng Nguyễn
Khánh. Rốt cuộc cũng chỉ có Trung Tướng Khánh nắm quyền,
vì Ðại Tướng Khiêm với Trung Tướng Minh, hoặc không đủ
thủ đoạn đối phó với Trung Tướng Khánh, hoặc không muốn
dấn thân vào chính trị. Và dù muốn hay không muốn, hai vị
cũng phải chịu chung trách nhiệm về lỗi lầm của Trung Tướng
Khánh trong giải pháp "tam đầu chế".
Nhưng vấn đề không dừng ở đây,
vì Trung Tướng Khánh tự thấy chiếc ghế quyền lực của
ông thực sự lung lay, thế là Trung Tướng Khánh nhắm thẳng
vào Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm mà ông cho là nguyên nhân,
là người đứng đằng sau mọi hình thức chống đối ông.
Tôi nhận định như vậy vì có một người không có tên trong
tổ chức quân đội, trong tổ chức hành chánh, hay bất cứ
tổ chức hoặc cơ quan nào của chánh phủ, nhưng lại là người
có thế lực chỉ vì ông là em vợ của Trung Tướng Nguyễn
Khánh, tên của ông là Phạm Quang Tước. Những tháng trước
đó, ông Tước thường đến văn phòng tôi với vài món lặt
vặt tặng tôi. Mỗi khi gặp tôi, ông nói chuyện huyên thuyên
về mọi chuyện, trong khi tôi nghe rất ít vì luôn bận việc
của văn phòng Bộ Quốc Phòng và văn phòng Bộ Tổng Tư Lệnh.
Nhưng từ sau ngày Trung Tướng Khánh buộc phải thỏa mãn yêu
sách của giới chính trị hủy bỏ Hiến Chương, cũng là hủy
bỏ chức Chủ Tịch mà ông đã được bầu, thì ông Tước
cũng lạnh nhạt với tôi. Rồi từ lạnh nhạt đến xem tôi
là kẻ thù cũng chỉ vài bước thôi, và vài bước đó đã
qua khi ông Tước nói với tôi:
"Ðại Tướng của anh phải cẩn
thận đó, nếu như cứ lấn tới nữa thì tánh mạng không
an toàn đâu". Nói xong là ông đi ngay mà chẳng cần chào hỏi
như trước nữa.
Ðại Tướng Khiêm rất buồn Trung
Tướng Khánh, nhưng vì ông ít nói nên tôi không nghe ông phân
bua, cũng chẳng buồn giải thích với những người chung quanh.
Hoặc có thể là Ðại Tướng Khiêm xem thường Trung Tướng
Khánh mà không cần thanh minh chăng? Nếu đúng vậy, thì Ðại
Tướng Khiêm áp dụng câu "im lặng cũng là khinh bỉ".
Chuyện 10 kí lô vàng thoi.
Sau ngày Chỉnh Lý 30/1/1964 -cũng
là hay là đảo chánh- vài tuần, Trung Tướng Khiêm (cấp bậc
lúc bấy giờ) gọi tôi vào văn phòng:
"Chú xuống nhà Trung Tướng Minh
(Dương Văn) nhận vàng đem về cất, rồi liên lạc xem cơ
quan nào giữ thì giao cho người ta".
"Thưa Trung Tướng (cấp bậc lúc
bấy giờ), tôi chưa rõ công tác này. Xin Trung Tướng cho biết
tôi sẽ trình như thế nào với Trung Tướng Minh?"
"Chú cứ nói là tôi bảo chú xuống
nhận vàng là được rồi".
Sở dĩ phải hỏi lại là vì có
bao giờ tôi nhận cái lệnh tương tự như vậy đâu, bây giờ
nghe nói nhận vàng một cách quá nhẹ nhàng nên hỏi để biết
mình không nghe lầm. Tôi đến tư dinh Trung Tướng Dương Văn
Minh mà nơi đây báo chí thường gọi là "dinh hoa lan". Chờ
một lúc, sĩ quan tùy viên đưa tôi vào văn phòng Trung Tướng
Minh. Lại chờ một lúc nữa. Với thái độ vui vẻ, vừa bước
vào phòng là Trung Tướng Minh đưa tôi cái túi xách và nói
luôn:
"Anh mở ra xem và đếm lại coi có
đủ 10 kí không, rồi mang về đưa Trung Tướng Khiêm".
Ðó là cái túi xách màu xanh, cũ
mèm, bên ngoài có chữ "Air Việt Nam". Ðếm xong:
"Thưa Trung Tướng, trong túi này
có 10 thoi nhưng không biết có phải là 10 kí hay không thì
tôi không rõ".
"Anh cứ mang về trình Trung Tướng
Khiêm chớ có cân đong đo đếm gì đâu mà anh sợ".
"Vâng. Chào Trung Tướng".
Vừa vào văn phòng Trung Tướng Khiêm
là tôi mở túi ra để trình ông xem, nhưng ông không xem mà
nói:
"Chú nhận rồi thì cất trong tủ
sắt đi, cơ quan nào nhận giữ thì chú giao cho người ta".
"Vâng".
Theo tôi biết, số vàng này do Trung
Tướng Ðỗ Cao Trí -lúc giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I- tịch
thu của ông Ngô Ðình Cẩn ở Huế, đem vào Sài Gòn giao cho
Trung Tướng Minh. Bây giờ Trung Tướng Minh giao lại Trung Tướng
Khiêm. Xin nhắc lại là sau cuộc đảo chánh lật đổ và giết
chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu,
và ông Cố Vấn Chỉ Ðạo Miền Trung Ngô Ðình Cẩn (bị tòa
kêu án tử hình và thi hành bản án sau đó chẳng bao lâu),
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập "Ủy Ban Tịch Thu
Tài Sản Gia Ðình Họ Ngô", do Trung Tướng Lê Văn Kim giữ
chức Chủ Tịch. Ðã có Ủy Ban đó, nhưng không biết tại
sao số vàng này lại "vòng vo lưu lạc" như vậy nữa, kể
cả mấy tháng nay nó nằm trong tủ sắt ngay sau lưng tôi.
Khi mối giao hảo giữa Trung Tướng
Khánh với Ðại Tướng Khiêm căng thẳng, Ðại Tướng Khiêm
hỏi tôi:
"Chú còn giữ mấy kí vàng đó
không?"
"Dạ còn thưa Ðại Tướng".
"Bao nhiêu vậy?"
"Dạ 10 kí vàng thoi".
"Chú liên lạc xem cơ quan nào nhận
thì giao cho người ta, giữ hoài mất công lắm".
"Vâng. Ngày mai tôi xuống Ngân Hàng
Quốc Gia hỏi xem nơi đây có biết không, thưa Ðại Tướng".
Tôi đến Ngân Hàng Quốc Gia, mới
biết đây là cơ quan nhận số tài sản đã tịch thu của
gia đình anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm do Ủy Ban Tịch
Thu Tài Sản Gia Ðình Họ Ngô bàn giao. Sau khi được ông Giám
Ðốc giải thích thủ tục giao nhận, tôi hẹn hôm sau mang
đến.
Sáng hôm sau, tôi lững thững xách
cái túi Air Việt Nam vào. Khi ông Giám Ðốc thấy cái túi cứ
tưởng tôi đi ngang chợt ghé chớ không nghĩ là 10 kí lô vàng
bên trong, vì cái túi quá cũ chẳng ai thèm lượm nếu chợt
thấy nó bên đường. Khi biết vàng bên trong, ông Giám Ðốc
quá sức ngạc nhiên:
"Thiếu Tá đi với ai?"
"Một mình tôi thôi mà".
"Sao Thiếu Tá liều mạng , dễ chết
lắm đó!"
"Ði một mình đâu có ai để ý mà
chết. Nếu bên cạnh tôi có thêm Quân Cảnh hay nhân viên nào
đó đi theo thì kẻ gian cho là tôi mang thứ gì quí giá bên
trong nó sẽ theo chân ngay. Lúc ấy mới là lúc dễ chết đó
ôn |