|
- ba -
Biểu Dương Lực Lượng
ngày 13 tháng 9 năm
1964
*****
Sự "mâu thuẫn một chiều" từ
phía Trung Tướng Nguyễn Khánh đối với Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm, như cái hố ngày càng rộng và sâu thêm, cơ hồ
khó mà hàn gắn lại nếu không nói là không thể hàn gắn
được. Hai vị không có những cuộc tiếp xúc trực tiếp
nhau nữa, trong khi những hình thức chống đối Trung Tướng
Khánh từ các tổ chức chính trị không ngưng nghỉ, càng làm
cho Trung Tướng Khánh tức tối thêm và mục tiêu chính mà
ông cần triệt hạ vẫn là Ðại Tướng Khiêm. Rất có thể
những sự kiện chính trị nội tình Việt Nam Cộng Hòa xảy
ra trong tháng 7 và 8 năm 1964, chưa đủ để ông thẳng tay với
Ðại Tướng Khiêm, vì dù sao Ðại Tướng Khiêm cũng là người
chính yếu đưa ông đến tột đỉnh vinh quang hiện nay.
Và rồi Trung Tướng Nguyễn Khánh
có cái cớ mà tôi nghĩ là nguyên nhân của Trung Tướng Khánh,
để ông xuống tay với người bạn đồng khóa và rất thân
của ông. Và nếu nhìn theo góc cạnh tình cảm, Ðại Tướng
Khiêm cũng là ân nhân của Trung Tướng Khánh nữa.
Ngày 13 tháng 9 năm 1964, 07 giờ sáng,
tôi đưa Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và gia đình gồm vợ
và hai con của ông, cùng với Ðại Úy Nguyễn Trọng Hồng
-sĩ quan tùy viên- lên phi cơ đi Ðà Lạt, và dự trù trở
về Sài Gòn vào buổi chiều cùng ngày. Ðại Úy Hồng thay
thế Ðại Úy Nguyễn Hữu Có đã thuyên chuyển sang Lữ Ðoàn
Nhẩy Dù, làm sĩ quan tùy viên cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên.
Phi cơ rời phi trường Tân Sơn Nhất, và khi mất hút trong
những đám mây lang thang trên không phận Gia Ðịnh, tôi lên
xe quay về nhà với dự định đưa gia đình dạo phố vì lâu
lắm mới có một ngày chủ nhật rảnh rang như hôm nay.
Nhưng không. Vì khi về đến nhà
là nghe tiếng súng ròn rã ở hướng Bộ Tổng Tư Lệnh, và
hướng Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Tôi chạy sang Bộ Tổng
Tư Lệnh. Ðang mở cửa văn phòng thì gặp ngay Ðại Tá Huỳnh
Văn Tồn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (đồn trú ở Mỹ Tho)
cũng vừa đến. Với nụ cười cố hữu trước khi vào chuyện,
ông hỏi:
"Ðại Tướng đâu rồi anh Hoa?
"Ðại Tướng và gia đình đi Ðà
Lạt, nhưng khoảng 8 giờ mới đến trên đó. Có chuyện gì
vậy Ðại Tá?
"Chúng tôi "Biểu Dương Lực Lượng"
để cảnh cáo ông Khánh. Có cách nào anh liên lạc được
với Ðại Tướng sớm hơn không?
"Chỉ có cách là nhờ hệ thống
Bộ Chỉ Huy Không Chiến của Không Quân thì may ra, nhưng tôi
nghĩ là mình không nên để bên đó biết cuộc nói chuyện
như vậy, thưa Ðại Tá. Với lại khoảng 20 phút nữa thì
mình liên lạc được thôi mà".
Ngay lúc đó điện thoại reo:
"Thiếu Tá Hoa tôi nghe".
"Trung Tướng Khánh đây. Ðại Tướng
Khiêm đâu rồi?
"Thưa Trung Tướng, Ðại Tướng
Khiêm đang trên không trình Sài Gòn-Ðà Lạt. Trung Tướng có
cần liên lạc ngay bây giờ không, thưa Trung Tướng?
"Khi đến nơi, anh nói Ðại Tướng
Khiêm điện thoại ngay cho tôi".
"Vâng. Nhưng điện thoại Trung Tướng
ở tư dinh hay ở Phủ Thủ Tướng, thưa Trung Tướng?
"Phủ Thủ Tướng"
Tôi liền gọi lên Ðà Lạt, dặn
trên đó trình với Ðại Tướng Khiêm liên lạc ngay với Trung
Tướng Khánh khi đến nơi. Vừa gác ống nói vừa xoay qua Ðại
Tá Tồn:
"Trung Tướng Khánh cần nói chuyện
với Ðại Tướng đó Ðại Tá".
"Ổng ở đâu vậy?
"Dạ ở Phủ Thủ Tướng. Vị lãnh
đạo hôm nay là ai vậy Ðại Tá?
"Trung Tướng Ðức với tôi".
Trung Tướng Dương Văn Ðức là
Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Bộ Tư Lệnh đồn
trú tại Cần Thơ.
Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm
bị quản thúc.
Vài phút sau, điện thoại reo:
"Thiếu Tá Hoa tôi nghe".
"Hồng đây anh. Anh gọi Ðại Tướng
có việc gì vậy?
"Sài Gòn đang có biến động do
Trung Tướng Ðức với Ðại Tá Tồn lãnh đạo. Trung Tướng
Khánh dặn Ðại Tướng khi đến Ðà Lạt là gọi về ổng
ở Phủ Thủ Tướng đó. Anh trình Ðại Tướng ngay đi. Có
tin gì thì cho tôi biết với nghe".
Mấy phút sau đó, Ðại Úy Hồng
gọi tôi:
"Trung Tướng Khánh bảo Ðại Tướng
ở lại Ðà Lạt cho đến khi nào ổng cho về mới được
về. Ðại Tướng bảo anh đến nhà lấy một ít áo quần
và đồ dùng cần thiết, cho phi cơ mang lên Ðà Lạt ngay hôm
nay. Nhờ anh ghé nhà tôi lấy túi áo quần gởi lên giùm tôi
luôn. Vợ tôi đang chuẩn bị đó. (Trong những năm 1970-1975,
Ðại Tướng Khiêm giữ chức Thủ Tướng, Ðại Tá Hồng là
chánh văn phòng. Hiện anh định cư tại Houston).
"Chiếc (phi cơ) C47 còn trên đó
không?
"Sau khi nói chuyện với Trung Tướng
Khánh, Ðại Tướng cho phi hành đoàn lái về Sài Gòn rồi".
"Vậy tôi sẽ yêu cầu chiếc đó
trở lên Ðà Lạt ngay chiều hoặc tối nay. Nhớ, có tin gì
thêm thì gọi tôi ngay nhé. Ngược lại, tôi cũng gọi anh khi
có tin tức mới nhất".
Cuộc "Biểu Dương Lực Lượng"
của Trung Tướng Dương Văn Ðức đến buổi trưa là xẹp
xuống sau mấy tiếng đồng hồ ồn ào, tự lui quân về Mỹ
Tho và Cần Thơ. Tình hình thủ đô cũng như những vùng lân
cận trở lại yên tĩnh. Nhưng đó chỉ là bề mặt thôi.
Và đây là lời của Ðại Tá Tạ
Thành Long, thuật tóm tắt cho chúng tôi nghe khi cùng bị giam
tại trại tập trung tù chính trị ở Nam Hà (miền bắc) năm
1981, về cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" nói trên. Lúc bấy
giờ anh Long là Trung Tá Tham Mưu Phó hành quân Bộ Tư Lệnh
Quân Ðoàn IV tại Cần Thơ:
"Giữa đêm 12 rạng 13/9/1964, Trung
Tướng Ðức ra lệnh tổ chức bộ chỉ huy hành quân và cấp
tốc di chuyển sang Sư Ðoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho, và chuyển
quân lên Sài Gòn vào sáng sớm. Làm việc suốt đêm và di
chuyển trên chặng đường Cần Thơ-Mỹ Tho trong đêm tối
mà không được bảo vệ an ninh lộ trình, một cuộc vận
chuyển rất nguy hiểm trong tình hình lúc bấy giờ, nhưng cũng
may là đến nơi bình yên. Sau khi phối hợp với Sư Ðoàn 7
Bộ Binh, tất cả cùng chuyển quân lên Sài Gòn".
"Theo kế hoạch, các đơn vị phải
dừng lại ở Bình Chánh (một quận của tỉnh Gia Ðịnh ven
ngoại ô thủ đô), chỉ có Trung Tướng Ðức và các sĩ quan
cần thiết mới được vào Sài Gòn. Nhưng Trung Tướng Ðức
cho lực lượng tiến đến Phú Lâm, ngưỡng cửa phía tây
của thủ đô. Trung Tướng Ðức giao cho tôi (tức Trung Tá
Long) đến tòa đại sứ Hoa Kỳ liên lạc với bộ phận tình
báo ở đó xem tình hình sắp tới ra sao. Ðến nơi, chờ một
lúc mới tiếp xúc được với nhân viên tình báo. Ông ta lên
tiếng:
"Các ông đã không thực hiện đúng
lời hứa. Tại sao các ông đưa lực lượng vào Sài Gòn? Hành
động của các ông gây khó khăn cho chúng tôi và cho cả các
ông nữa. Ông chờ tôi liên lạc về Hoa Kỳ nhận lệnh".
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau
đó:
"Hoa Thịnh Ðốn quyết định các
ông phải rút quân về vị trí ngay, nếu không, các ông hoàn
toàn chịu trách nhiệm về cuộc biến động hôm nay.
"Tôi quay về Bộ Tổng Tư Lệnh
trình cho Trung Tướng Ðức về kết quả cuộc tiếp xúc đó
thì ông cho lệnh rút quân. Và chuyện kể chỉ có thế "
"Cuộc Biểu Dương Lực Lượng"
ngày 13 tháng 9 năm 1964, chỉ diễn ra trong khoảng mười tiếng
đồng hồ thì lặng lẽ rút lui. Ngay sau đó, Trung Tướng Ðức
bị bắt tại Cần Thơ đưa lên phi cơ về Sài Gòn, ông đã
nóng giận to tiếng khoa tay múa chân tại phi trường Tân Sơn
Nhất khi Quân Cảnh và An Ninh Quân Ðội "dìu" lên xe đưa về
cơ quan an ninh.
Chắc là Hoa Kỳ khó chịu về cái
hơi hám "độc tài" của Trung Tướng Khánh nhưng chưa đến
mức đảo chánh lật đổ, nên "nhờ" Trung Tướng Ðức ra
oai cảnh cáo dưới tên gọi "Biểu Dương Lực Lượng", và
lực lượng cảnh cáo hăng quá nên đưa quân áp sát thủ đô
suýt nữa là chiếm luôn các cơ sở trọng yếu như các cuộc
đảo chánh trước đây đã làm. Thế là bộ phận tình báo
tại tòa đại sứ Hoa Kỳ giáng cho một lệnh xuất phát từ
Hoa Thịnh Ðốn, và lực lượng biểu dương vội vàng rút
lui có phần mất trật tự một chút. Rõ ràng là Mỹ chưa
bật đèn xanh hoặc đèn xanh giới hạn thì cái ghế Chủ Tịch
Hội Ðồng Quân Lực không phải dễ.
Ðại Tướng Khiêm bị cách chức.
Xin mời trở lại với Ðại Tướng
Trần Thiện Khiêm. Sau một tuần bị quản thúc trong một dinh
thự tại Ðà Lạt, ông và gia đình được Trung Tướng Khánh
cho về Sài Gòn. Những ngày tiếp theo, Ðại Tướng Khiêm rất
buồn và không vào văn phòng làm việc. Buổi sáng và chiều,
tôi mang hồ sơ về nhà trình ông giải quyết.
Trung Tướng Khánh ra lệnh Ðại
Tướng Khiêm bàn giao chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng cho
ông, và tôi thì bàn giao hồ sơ của văn phòng Bộ Quốc Phòng
cho Trung Tá Nguyễn Khắc Bình (về sau, Trung Tá Bình là Chuẩn
Tướng, Ðặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo, và Tư Lệnh
Cảnh Sát). Trong hồ sơ này có cả hồ sơ 10 kí lô vàng thoi
mà tôi nói ở phần cuối của cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng
1 năm 1964.
Như vậy, Trung Tướng Khánh, Chủ
Tịch Hội Ðồng Quân Lực, Thủ Tướng, nay kiêm thêm chức
Tổng Trưởng Quốc Phòng. Một mình ông nắm giữ các chức
vụ tối quan trọng giống như trường hợp Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm trước ngày bị lật đổ và bị giết chết vậy.
Vào ngày cuối tháng 9 năm 1964, Trung
Tướng Khánh điện thoại tôi:
"Anh trình với Ðại Tướng Khiêm,
12 giờ trưa nay tôi đến ăn cơm tại nhà Ðại Tướng Khiêm".
"Xin Trung Tướng vui lòng điện thoại
với Ðại Tướng Khiêm đang có mặt tại nhà, thưa Trung Tướng".
"Không. Anh về trình đi". Ra lệnh
xong là ông gác ống nói.
Thật khó nghĩ cho tôi, vì hai gia
đình đang hờn giận nhau nếu không nói là Trung Tướng Khánh
đang "ghìm" Ðại Tướng Khiêm, và trường hợp này chẳng
khác nào Trung Tướng Khánh lôi tôi vào thế trận giống như
tôi đang trở thành thành viên trong nhóm sĩ quan dưới quyền
ông vậy.
Tôi đến tư dinh Ðại Tướng Khiêm,
trình xong, Ðại Tướng Khiêm im lặng trong khi bà Khiêm tức
giận:
"Tại sao ổng không điện thoại
đến đây mà lại nói chuyện với chú?
"Bà phải hỏi ông Khánh sao lại
hỏi chú Hoa? Thôi, bà lo cơm cho kịp".
Ðại Tướng Khiêm đỡ lời cho
tôi. Nếu Ðại Tướng Khiêm không đỡ lời thì tôi chỉ biết
trả lời là "Tôi cũng không biết tại sao nữa".
Phần tôi, mỗi khi có khách đến
nhà Ðại Tướng Khiêm dùng cơm, tôi lo sắp xếp bàn ăn, tổ
chức an ninh, và những gì cần thiết liên quan đến bữa ăn
đó. Hôm nay cũng vậy, cộng thêm sự thận trọng cần thiết.
Sau khi chỉ định công việc và cách thức xếp bàn ăn cho
mấy anh làm việc tại nhà Ðại Tướng Khiêm, tôi về văn
phòng.
Mưu sát Trung Tướng Khánh.
Khoảng nửa giờ trước giờ ăn,
tôi trở lại tư dinh Ðại Tướng Khiêm. Như thường lệ,
kiểm soát công tác chuẩn bị trong phòng ăn, tôi sang bên cạnh
kiểm soát các nhân viên an ninh để biết chắc là công tác
đang diễn tiến như dự định. Chợt thấy Trung Tá Luông đi
tới đi lui mấy lần, điều mà chưa bao giờ xảy ra vì không
liên quan gì đến chức vụ Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng
Tư Lệnh của ông cả.
Trung Tá Nguyễn Văn Luông, năm 1958
là Thiếu Tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 35 Bộ Binh thuộc
Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến, đồn trú tại Kon Tum. Lúc ấy tôi
là Trung Úy, Trưởng ban 3 kiêm Ban 5 bộ chỉ huy Trung Ðoàn
này. Trong cuộc đảo chánh 1/11/1963, ông là Thiếu Tá Chỉ
Huy Phó Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu (lúc chưa cải danh Bộ
Tổng Tư Lệnh), ngay sau đó thăng cấp Trung Tá và giữ chức
Chỉ Huy Trưởng thay thế Trung Tá Lê Soạn về hưu.
Tôi đến cạnh ông:
"Ô! Trung Tá. Trung Tá có gì cần
gặp Ðại Tướng hả?
"Không. Không có gì".
"Không có gì sao Trung Tá đi qua đi
lại với vẻ suy tư vậy?
Trung Tá Luông kề tai tôi với giọng
ngập ngừng:
"Hôm nay tụi tôi ám sát ông Khánh".
Tôi rất kinh ngạc về câu nói của
ông:
"Bằng cách nào?
Ngưng một lúc, ông tiếp:
"Vào bàn ăn độ 5 phút, ông Anh
từ trên lầu gọi điện thoại xuống đây (vừa nói ông vừa
chỉ điện thoại trên bàn cạnh cửa, sát phòng ăn), lúc đó
tôi sang mời ông Khánh qua nghe điện thoại và nói là của
Phủ Thủ Tướng gọi. Khi ông ta vừa qua khỏi khung cửa thì
anh Yểm câu cổ và đâm chết".
"Ðại Tướng có biết việc này
không Trung Tá?
"Không".
"Vậy là không được. Tôi muốn
Trung Tá hủy bỏ dự định này, nếu không, tôi sẽ trình
Ðại Tướng ngay. Tôi chắc rằng, Ðại Tướng không bao giờ
đồng ý về một hành động như vậy đâu. Xin Trung Tá hãy
hình dung việc gì xảy ra tiếp đó, vì cả tháng nay mỗi khi
Trung Tướng Khánh đến đây là y như rằng, tiểu đội cận
vệ của Trung Tướng Khánh với vũ khí cầm tay gần như bao
quanh nhà này. Chỉ cần tiếng động lạ nào đó trong phòng
ăn, là tiểu đội đó nhào vô tức thì, và liệu sự kiện
xảy ra có phải là những xác chết -kể cả chúng mình- nằm
la liệt ở đây không? Lịch sử sẽ lưu lại những gì cho
mai sau, nếu không phải là "tiếng xấu muôn đời" chỉ vì
tranh giành quyền lợi mà giết chết lẫn nhau! Hủy bỏ đi
Trung Tá".
Trầm ngâm một lúc:
"Anh chờ tôi một chút".
Trung Tá Luông lên lầu và khoảng
5 phút sau, ông lại kề tai tôi với giọng tự nhiên:
"Ðược rồi. Ông Anh đồng ý hủy
bỏ việc đó".
Tư dinh Ðại Tướng Khiêm gồm 3
căn nhà số 1, số 2, và số 3 có cửa thông nhau, trong dãy
số 4 (của nhiều dãy) trong cư xá trại Trần Hưng Ðạo, tức
khuôn viên Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhà 2 tầng, vách gạch, lầu
đúc bê tông, kiến trúc mang dáng vấp Châu Âu, vì do quân
đội Pháp xây dựng dùng làm bản doanh bộ tư lệnh quân viễn
chinh của họ. Phòng ăn ở căn số 1, ngay cạnh phòng ăn có
cửa thông qua căn số 2, nơi có cái bàn dành cho sĩ quan tùy
viên trực tại nhà. Trên bàn có máy điện thoại và những
vật dụng cần thiết của một văn phòng thu hẹp. Tầng trệt
căn này không có người ở. Căn số 3 là gia đình của vợ
chồng người em gái của bà Khiêm ở. Em rể của bà là luật
sư Bùi Văn Anh, chính là người mà Trung Tá Luông nhận chỉ
thị sau khi tôi phản đối vụ mưu sát nói trên. Tôi không
trực tiếp nghe luật sư Anh nói về vụ này, mà những gì
tôi ghi lại ở đây là do Trung Tá Luông nói với tôi. (Ðầu
năm 1975, Trung Tá Luông là Ðại Tá, Chỉ Huy Trưởng Cảnh
Sát Khu 3 tại Biên Hòa, và anh Lưu Yểm là Ðại Tá Tỉnh Trưởng
tỉnh Biên Hòa)
Trước 12 giờ một chút, Trung Tướng
Khánh đến cùng với 2 xe Jeep chở đầy nhân viên cận vệ
với vũ khí trong tay. Vẫn như hành động trong thời gian gần
đây, toán cận vệ có mặt quanh nhà nhưng không anh nào ngồi
hay đứng yên một chỗ mà luân chuyển nhau từ vị trí này
đến vị trí khác, miễn sao các anh ấy trông thấy được
bàn ăn bên trong.
Vì là bữa ăn rất căng thẳng nên
tôi không ra vào như lệ thường. Khoảng 10 phút đầu tiên,
không khí trong phòng ăn thật yên lặng nếu có đôi mắt bàng
quan nào đó nhìn vào. Nhưng, sau đó, lời qua tiếng lại tuy
không đến nỗi ồn ào nhưng rõ ràng là bữa ăn đầy sóng
gió. Lời lẽ gay gắt qua lại giữa bà Khiêm với Trung Tướng
Khánh, cho tôi nhận xét "không cân sức" về phía bà Khiêm
trong khi Ðại Tướng Khiêm đăm chiêu suy nghĩ hơn là tranh
cãi, vì Trung Tướng Khánh đang có trong tay tất cả quyền
lực quốc gia, đâu dễ dàng bị thuyết phục cho dù ông bà
Khiêm là bạn thân với gia đình ông. Chữ "bạn thân" chẳng
qua là thuở chưa có quyền lực đấy thôi, chớ bây giờ thì
khác. Khác xa lắm rồi!
Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm
lưu vong
Khi Trung Tướng Khánh rời phòng
ăn với thái độ gần như bình thường, cứ như không có
chuyện gì xảy ra cả. Ðó là cái lạnh lùng của người có
quyền lực đối với "kẻ thù"! Mà liệu Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm có phải là kẻ thù của Trung Tướng Nguyễn Khánh
hay không? Chính trị, biết đâu mà lường phải không quí
vị? Tôi vào phòng ăn:
"Thưa Ðại Tướng, điều gì xảy
ra mà Trung Tướng Khánh to tiếng vậy Ðại Tướng?
"Ông Khánh "muốn" (hàm chứa ý nghĩa
một mệnh lệnh) tôi phải ra ngoại quốc, nếu không thì tánh
mạng tôi khó an toàn".
"Ðại Tướng nghĩ sao?
"Tôi quyết định đi. Chú lo thủ tục
cho tôi và gia đình tôi càng sớm càng tốt. Chú với chú Châu,
nếu được thì cùng đi với gia đình tôi".
"Tôi sẽ theo Ðại Tướng. Còn anh
Châu thì tôi sẽ hỏi ý kiến anh ấy và trình Ðại Tướng
sau, thưa Ðại Tướng".
"Chú Châu" mà Ðại Tướng Khiêm
nói ở đây là Ðại Úy Ðặng Văn Châu. Năm 1963, anh là chánh
văn phòng tỉnh Vĩnh Long, lúc ấy Trung Tá Lê Văn Phước là
Tỉnh Trưởng. Sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, Trung Tá Phước
bị cách chức và anh Châu cũng mất chức luôn. Sau cuộc đảo
chánh 30/01/1964, Ðại Tướng Khiêm bảo tôi liên lạc phòng
Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tư Lệnh thuyên chuyển anh Châu về
văn phòng chúng tôi để thông dịch Anh ngữ cho Ðại Tướng
Khiêm khi có phóng viên báo chí ngoại quốc phỏng vấn. Ðại
Tướng Khiêm nói tiếng Anh rất khá, nhưng với báo chí quốc
tế nên có thông dịch để có thì giờ suy nghĩ cho câu trả
lời.
Khi hỏi ý kiến, anh Châu đồng
ý đi. Vậy là số người "lưu vong" có Ðại Tướng Khiêm,
vợ và hai con ông, tôi, và Ðại Úy Châu. Anh Châu sang Bộ
Quốc Phòng xin "sự vụ lệnh", đến Sở Hành Chánh Tài Chánh
số 6 lãnh phụ cấp xuất ngoại vì "sự vụ lệnh" ghi "thay
mặt chánh phủ sang Anh quốc và Cộng Hòa Liên Bang Ðức, cám
ơn hai quốc gia này đã giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa chống
cộng sản". Lại đến Bộ Ngoại Giao xin "thông hành ngoại
giao" và chiếu khán ở tòa đại sứ Anh quốc và Cộng Hòa
Liên Bang Ðức. Xong, xuống Tổng Nha Hối Ðoái và Ngân Hàng
để đổi ngoại tệ. Phần phụ cấp bằng tiền Việt Nam
đổi được 10 ngàn mỹ kim, và phần tiền Việt Nam mà tôi
giữ trong tủ sắt của văn phòng đổi được 10 ngàn mỹ
kim nữa. Ðó là số tiền dự trữ trong tủ sắt để Ðại
Tướng cấp phát cho các đơn vị Tình báo sử dụng. Trong
cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13/9/1964, tôi mang về
nhà và Ðại Tướng Khiêm bảo tôi cứ giữ đó. Nay, tôi đưa
Ðại Úy Châu đi đổi luôn. Ðúng lúc mọi thủ tục sẵn
sàng thì Trung Tướng Khánh điện thoại tôi:
"Anh không được đi mà chỉ một
mình Ðại Úy Châu theo Ðại Tướng Khiêm".
Ra lệnh xong là ông gác ống nói
ngay. Tôi điện thoại lại thì Thiếu Tá Thịnh, bí thư, anh
Thịnh cho biết Thủ Tướng không tiếp chuyện. Thế là tôi
không trình bày được gì cả.
Tôi đến trình Ðại Tướng Khiêm,
Ðại Tướng không nói gì nhưng rõ ràng là bà Khiêm không
hài lòng. Tôi nhận ra rằng, bà Khiêm không hài lòng không
phải vì tôi không được đi, mà không hài lòng chỉ vì bà
ngờ tôi "chưa chi đã trở mặt" đây. Tôi áp dụng câu của
Ðại Tướng Khiêm có lần nói với tôi rằng: "Sự trong sáng
không cần phải đính chánh mà thời gian sẽ chứng minh cho
mình, tuy có chậm nhưng rất hiệu quả". Tôi trở về văn
phòng.
Hôm sau tôi đến Phủ Thủ Tướng
xin gặp Thủ Tướng Khánh, và ông tiếp:
"Anh có chuyện gì?
"Thưa Thủ Tướng, tôi không được
đi theo Ðại Tướng Khiêm trong chuyến đi chưa biết ngày nào
trở về. Vậy, tôi xin Thủ Tướng vui lòng cho tôi một số
tiền đủ đổi 10 ngàn mỹ kim và một giấy phép để đổi
số tiền đó. Số tiền này tôi sẽ trao Ðại Tướng Khiêm
như là món quà nhỏ để Ðại Tướng và gia đình có thêm
khoản tiền chi tiêu ở ngoại quốc trong thời gian đầu. Xin
thưa với Thủ Tướng rằng, tôi đến đây là tự tôi chớ
Ðại Tướng Khiêm không hay biết gì về hành động này, thưa
Thủ Tướng".
Không cần suy nghĩ, ông trả lời
ngay:
"Ðược. Tôi cho anh".
"Xin cám ơn Thủ Tướng".
Chính tôi đi đổi tiền, và tôi
thuật lại Ðại Tướng Khiêm nghe khi tôi trao tiền cho ông.
Ông rất cảm động:
"Tôi cám ơn chú".
Chiều ngày 6 tháng 10 năm 1964, Ðại
Tướng Khiêm gọi tôi đến tư dinh của ông. Vào phòng khách,
ông mời tôi ngồi, điều mà chưa bao giờ xảy ra mỗi khi
tôi đến nhận lệnh ngoại trừ hai lần ra lệnh về đảo
chánh. Tự ông, đem bánh ngọt với nước trà ra mời tôi.
Tôi hiểu rằng, "sếp" của tôi sắp tâm sự chia tay đây rồi
vì ngày mai ông và gia đình rời Việt Nam lưu vong. Năm năm
làm việc trực tiếp dưới quyền ông trong trách nhiệm một
sĩ quan tham mưu đặc biệt, trong một chừng mực nào đó,
tôi hiểu được những cử chỉ cùng những thái độ của
ông thể hiện điều ông muốn hoặc ông sắp làm. Xong miếng
bánh với hớp trà, ông vào chuyện:
"Tôi cám ơn chú, trong mấy năm qua
chú đã làm việc với tất cả nhiệt tình và trung thực.
Giờ đây, trước khi rời Việt Nam lưu vong không biết ngày
về, tôi muốn nói với chú rằng, nếu chú và những chú khác,
còn nhớ đến tôi thì đừng bao giờ làm chính trị, vì làm
chính trị ít khi người ta dành lại tình cảm cho bạn bè
và đôi khi cũng không còn tình cảm cho thân nhân của họ
nữa".
Tay phải ông gỡ kiến cận xuống
và tay trái ông cầm miếng nỉ lau, đó là thói quen mỗi khi
ông suy nghĩ. Mang kiến vào, ông lại mời tôi:
"Chú ăn bánh uống trà đi".
"Vâng. Xin mời Ðại Tướng".
Thái độ của ông làm tôi lúng
túng. Tôi nghĩ, không phải ông ngưng lại để mời tôi ăn
bánh uống trà, mà là chính ông đang nén lại nỗi xúc động
của ông khi ông đang sống trong góc cạnh Tình cảm. Ðại
Tướng Khiêm là mẫu người giàu tình cảm, rất có tình có
nghĩa với những quân nhân mà trước kia cùng đơn vị với
ông cho dù người đó hiện là sĩ quan hay hạ sĩ quan cũng
vậy. Tôi đã nhiều lần chứng kiến hình ảnh lúc ông niềm
nỡ bắt tay những anh hạ sĩ quan cùng phục vụ tại Tiểu
Ðoàn 3 Việt Nam hằng chục năm trước đó.
Ðại Tướng Khiêm tiếp lời:
"Trung Tướng Khánh đã xử sự với
tôi như chú thấy đó, thật là không còn chút tình nghĩa gì
hết".
"Có vài vị Tướng Lãnh nêu thắc
mắc với tôi rằng: "Tại sao Ðại Tướng lại im lìm để
Trung Tướng Khánh dùng cả thủ đoạn không tốt với Ðại
Tướng". Riêng tôi, tôi thấy Trung Tướng Khánh là mẫu người
nhiều tham vọng chính trị, chính với Ðại Tướng là người
đã góp phần quan trọng đưa Trung Tướng Khánh lên đến tột
đỉnh địa vị ngày nay, nhưng Trung Tướng Khánh cứ quả
quyết Ðại Tướng là người đang tìm cách đẩy ổng ra khỏi
những chiếc ghế mà ổng đang ngồi, thưa Ðại Tướng".
"Tôi biết chớ chú. Nhưng tranh giành
làm gì!
Trong phòng trở nên yên lặng. Một
lúc sau:
"Các sĩ quan do tôi đào tạo là
người có khả năng và là người tốt nữa. Chắc chắn chú
sẽ được các vị khác sử dụng, và tôi tin là không có
gì khó khăn cho chú đâu. Thôi, ngày mai tôi đi, chú ở lại
mạnh giỏi. Cho tôi gởi lời thăm thím".
"Thưa Ðại Tướng, tôi chân thành
cám ơn Ðại Tướng đã dìu dắt tôi trong 5 năm qua. Tôi kính
chúc Ðại Tướng và gia đình được mạnh khỏe và luôn gặp
điều may trên đường lưu vong. Kính chào Ðại Tướng".
Tôi đứng thẳng người và chào
ông một cách trân trọng như khi tôi chào ông để nhận chức
chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh năm 1961 vậy.
Ðại Tướng Khiêm siết chặt tay tôi thật lâu, và cả hai
đều bùi ngùi trong cuộc chia tay này!
Ngày 7 tháng 10 năm 1964, Ðại Tướng
Trần Thiện Khiêm và gia đình rời Việt Nam Cộng Hòa trên
chuyến bay của Air France đi Paris để "lưu vong" dưới danh
nghĩa thật là vinh dự (!): "Thay mặt chánh phủ Việt Nam Cộng
Hòa sang Anh quốc và Ðức quốc, cám ơn hai quốc gia đồng
minh đã và đang giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cộng sản".
Ngay chiều hôm đó, tôi và gia đình
dọn ra khỏi cư xá trong khuôn viên bộ Tổng Tư Lệnh, và
sẵn sàng nhận lệnh thuyên chuyển đến đơn vị hay cơ quan
nào đó, vì có bao giờ một chánh văn phòng của ông Tướng
thất sủng lại tiếp tục phục vụ tại đơn vị cũ đâu,
nhất là đơn vị cũ lại là văn phòng Tổng Tư Lệnh.
Trung Tướng Nguyễn Khánh thêm
chức Tổng Tư Lệnh Quân Lực.
Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm ra
đi không bàn giao chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Ngày hôm sau, Trung Tướng Nguyễn Khánh vào nhận
thêm chức đó. Có nghĩa là Trung Tướng Khánh nắm giữ cả
4 chức vụ cao nhất nước: Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực,
Quốc Trưởng bao gồm Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Thủ Tướng,
Tổng Trưởng Quốc Phòng, và Tổng Tư Lệnh Quân Lực.
Ngay hôm đầu tiên Trung Tướng Khánh
nhận chức, tôi viết "Phiếu Trình" trình vào Trung Tướng
Khánh, xin chỉ định đơn vị tôi trình diện. Ông phê 3 chữ:
"Ở tại chỗ". Thế là tôi vẫn ngồi lại văn phòng này nhưng
chưa rõ chức vụ. Xin nói thêm, "Phiếu Trình" là một loại
văn kiện trong hồ sơ tham mưu, sử dụng khi cần trình một
vấn đề gì để xin chỉ thị của cấp trên.
Cũng ngày hôm ấy, tôi thấy thêm
một thủ đoạn của Trung Tướng Khánh. Ðó là hai ngày trước
khi Ðại Tướng Khiêm lưu vong, văn phòng tôi có nhận được
một "Nghị Ðịnh" thiết lập "quỹ mật" cho ông Tổng Tư
Lệnh với số tiền đầu tiên là 20 triệu đồng (Việt Nam).
Phía dưới Nghị Ðịnh có ghi chú "chờ lệnh". Giới chức
thiết lập quỹ là Trung Tướng Khánh nhân danh Thủ Tướng
cấp cho Tổng Tư Lệnh, và bây giờ chức Tổng Tư Lệnh cũng
trong tay Trung Tướng Khánh. Vậy là, giới chức cấp quỹ với
giới chức sử dụng quỹ, đều là ông. Lúc ấy, hối suất
chánh thức là 35 đồng Việt Nam bằng 1 mỹ kim.
Xin giải thích đôi nét về "quỹ
mật". Nguyên tắc của quỹ mật là chi tiêu không cần chứng
minh, nhưng giới chức sử dụng phải chịu trách nhiệm trực
tiếp với giới chức cấp quỹ khi giới chức cấp quỹ yêu
cầu chứng minh, nhưng thực tế thì trong những năm qua tôi
chưa thấy yêu cầu này xảy ra lần nào. Xem chừng lấy tiền
trong ngân khố của chánh phủ quá dễ chăng?
Nhưng còn ghê gớm hơn nữa kìa.
Theo lời bà Khiêm nói với tôi rằng, khi mà gia đình Ðại
Tướng Khiêm với gia đình Trung Tướng Khánh không còn coi
nhau là bạn bè thân thiết như trước nữa, bà biết bà Khánh
đã hai lần đưa cho người em làm Tổng Lãnh Sự Việt Nam
Cộng Hòa tại Hong Kong, mỗi lần 500 triệu đồng Việt Nam
Cộng Hòa để bán lấy đồng mỹ kim. Ai mua tiền Việt Nam
đó nếu không phải là quân cộng sản của nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa, để mang trở về mua hàng trên thị trường
Việt Nam Cộng Hòa tiếp tế cho quân của chúng đánh lại
quân ta? Sự thật đến mức nào tôi không rõ, nhưng những
thông tin này là từ bà Khiêm đến tôi và tôi ghi lại đây
là chính xác.
Xin mở ngoặc để nối tiếp phần
trên. Trong tạp chí Thế Kỷ 21, số 147 tháng 7 năm 2001 phát
hành tại Nam California, có loạt bài "Công Cuộc Nghiên Cứu
Việt Sử Tại Bắc Mỹ" (1975-2000), và bài số 10 với tựa:
"Nhóm Viết Hồi Ký" của tác giả Trần Anh Tuấn, nói về
"Sĩ quan cấp Tá viết hồi ký". Dưới đây là vài đoạn trích
từ trong bài này.
"Cấp Tá viết hồi ký khoảng 18
người, theo thứ tự tên gọi là: Trương Dưỡng, Trần Kim
Ðịnh, Vương Văn Ðông, Phạm Bá Hoa, Ðặng Trần Huân, Ðỗ
Kiểm, Trần Khắc Kính, Hoàng Ngọc Liên, Vũ Văn Lộc, Phan
Nhật Nam, Trần Ngọc Nhuận, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp,
Trịnh Tiếu, Võ Ðại Tôn, Trần Ðình Trụ, Tạ Tỵ, và Ngô
Văn Xuân".
"Nói một cách tổng quát, khi chúng
ta rời bỏ thế giới hồi ký của cấp Tướng để đọc
hồi ký của cấp Tá là chúng ta sang một thế giới khác.
Một thế giới của văn nhân. Một đàng là quyền lực quốc
gia, và một đàng là văn chương nhân bản".
" ...... Về hình thức, nhiều hồi
ký cấp Tá với những áng văn chương trong sáng, chữ dùng
nhiều khi đắc địa, có thể trích làm bài giảng văn mẫu
trong các trung tâm Việt ngữ tại hải ngoại. Ðiển hình của
hồi ký loại này là tác phẩm của Phan Lạc Phúc, Phan Lạc
Tiếp, Phạm Bá Hoa, Ðặng Trần Huân, Vũ Văn Lộc, ......."
Sau khi tác giả điểm qua hồi ký
của hai nhà văn Phan Lạc Phúc và Phan Lạc Tiếp, đến quyển
Ðôi Dòng Ghi Nhớ của tôi (Phạm Bá Hoa), tác giả Trần Anh
Tuấn viết:
" ..... Hồi ký của cựu Ðại Tá
Phạm Bá Hoa có nội dung khác hẳn những hồi ký vừa kể".
".......... Ðây là một hồi ký chính trị, ghi lại những biến
cố trên chính trường Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1963 cho đến
ngày 30/4/1975. Giai đoạn lịch sử này tương ứng với thời
gian tác giả đóng vai trò tuy không có hào quang của một nhân
vật trên mặt nổi, nhưng lại là người sắp xếp và do đó
thấu hiểu những uẩn khúc của hậu trường, cùng diễn trình
của nhiều biến cố có tầm mức lịch sử ngay từ lúc khởi
thủy. Việc ghi nhận này rất thẳng thắn và thành thật.
Ngòi bút Phạm Bá Hoa can đảm, trung thực, bất vị thân...
"
"Ðặc biệt, Ðôi Dòng Ghi Nhớ"
ghi nhận sự kiện kinh khủng trong chiến tranh Việt Nam. Ðó
là việc, lấy nguồn tin từ bà Trần Thiện Khiêm, tác giả
cho biết bà Nguyễn Khánh đã hai lần đưa cho người em làm
Tổng Lãnh Sự Việt Nam Cộng Hòa tại Hong Kong, mỗi lần 500
triệu, tổng cộng một tỷ bạc Việt Nam Cộng Hòa để đổi
lấy đô la. Sau tiết lộ kinh khủng đó, tác giả Phạm Bá
Hoa đặt một câu hỏi chắc như đinh đóng cột, rằng, "Ai
mua tiền Việt Nam trên đất Hong Kong nếu không phải là Cộng
Sản Việt Nam?". Câu nghi vấn đó của tác giả Phạm Bá Hoa,
nay đã được phía bên kia kiểm chứng là xác thực. Nếu
muốn, xin độc giả tìm đọc "Ðồng Ðô La Trong Cuộc Kháng
Chiến Chống Mỹ Cứu Nước" dựa theo hồi ký của Thăng Long
Huỳnh Bá Việt và những người làm công tác tài chánh đặc
biệt trong chiến tranh với sự cộng tác của các nhà văn
Nguyễn Quang Sáng, Hiền Phương, Thanh Giang, và Hoàng Xuân Huy,
để biết Ban Kinh Tài Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền
Nam Việt Nam (của cộng sản) đã mua tiền Việt Nam Cộng Hòa
từ đâu để đem về chi phí cho chiến trường miền Nam.....
"
Sau đoạn nhận xét rất tinh tế
của tác giả về cách dùng chữ của người miền Nam trong
khi có vài chữ tôi dùng chữ của người miền Bắc để giảm
nhẹ ý nghĩa sự tức giận của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm
đối với Trung Tướng Dương Văn Minh, tác giả Trần Anh Tuấn
kết luận:
"Ðiều tác giả Phạm Bá Hoa có
thể yên tâm là, ít nhất có một độc giả tin ông, tin ở
tấm lòng trung can nghĩa khí của ông. Ðôi Dòng Ghi Nhớ, vì
thế, là một trong rất ít hồi ký chính trị hoàn tất sau
biến cố 30/4/1975 có cơ tồn tại với thời gian. Ông là một
sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có tư cách".
Xin đóng ngoặc, và trở lại văn
phòng Tổng Tư Lệnh.
Trung Tướng Khánh cho giải tán văn
phòng Tổng Tư Lệnh, và tổ chức thành "Nha Ðổng Lý Văn
Phòng Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Thiếu Tướng
Nguyễn Văn Vỹ, được Trung Tướng Khánh cử giữ chức Ðổng
Lý Văn Phòng. Lớn ơi là lớn, nhưng kỳ ơi là kỳ! Dưới
quyền Thiếu Tướng Vỹ có:
-Thiếu Tá Thịnh, bí thư.
- Tôi, Trưởng Phòng Quân Sự Vụ,
với toàn bộ nhân viên và trách nhiệm của văn phòng Tổng
Tư Lệnh trước đây, ngoại trừ những vấn đề riêng tư
của ông Tổng Tư Lệnh.
- Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức
nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng Dân Sự Vụ.
- Thiếu Tá Tâm (tôi không nhớ họ),
Trưởng Phòng Báo Chí.
Công tác kế tiếp là Trung Tướng
Khánh giao cho Chuẩn Tướng Phạm Ðăng Lân, Chỉ Huy Trưởng
binh chủng Công Binh, đúc bê tông tầng trên phòng họp số
1 trong tòa nhà chánh (nơi tạm giữ những vị bị Hội Ðồng
Quân Nhân Cách Mạng xem là trung thành với Tổng Thống Diệm
trong cuộc đảo chánh 1/11/1963) để làm văn phòng mới của
Tổng Tư Lệnh. Ðồng thời xây cái hầm ngầm ngay phía dưới
phòng họp số 1 để làm hầm trú ẩn với tiện nghi cần
thiết cho bộ chỉ huy hành quân khoảng 30 người. Từ bàn
viết của ông Tổng Tư Lệnh nhìn đến cuối phòng trước
mặt, sát góc bên trái có cầu thang xoáy ốc xuống hầm. Nếu
không phải nhân viên phục vụ nơi đây, phải để ý lắm
mới trông thấy được cái quan trọng của cầu thang xoáy
ốc này. Hầm làm xong từ mặt đất lên đến nóc là 2.2 thước,
chung quanh và cả nóc hầm được tấn bằng những tấm kim
khí thật dày, lớp đất trên nóc hầm dày đến 1.5 thước.
Ngay trên hầm là một đoạn của con đường vòng đai bên
trong hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa Bộ Tổng Tư Lệnh với
một góc của phi trường Tân Sơn Nhất. Trong lúc đơn vị
Công Binh đang đổ đất lấp nóc hầm thì Trung Tướng Khánh
nói với Chuẩn Tướng Phạm Ðăng Lân, lúc ấy tôi đứng
cạnh chờ trình công văn gấp của Phòng 3:
"Làm xong hầm này tôi chấp tất
cả phi cơ của "thằng" Kỳ đó".
Nói xong ông cười khoái chí, chừng
như ông không còn lo ngại Thiếu Tướng Kỳ đảo chánh ông
bằng Không Quân vậy. Tôi không hiểu câu nói của ông là
thật hay đùa, nhưng cho dù là đùa hay thật thì tự ông nói
lên nỗi lo của ông về sự chống đối của những đồng
đội quanh ông. Nhưng tại sao Trung Tướng Khánh lại sợ như
vậy? Mẫu người nhiều tham vọng với một bụng thủ đoạn
như ông, phải tự hiểu tại sao ông bị cô lập giữa đồng
đội và lúc nào cũng sợ đồng đội của ông. Qua những
hành động của ông từ trong cuộc đảo chánh ngày 30/01/1964
đến bấy giờ, theo tôi, ông là vị Tướng có vẻ như mang
tham vọng vượt lên trên tất cả mọi người để trở thành
vị lãnh đạo bậc nhất của Việt Nam Cộng Hòa trong nét
nhìn thán phục của các quốc gia lân bang trong vùng, và cả
Hoa Kỳ nữa. Cái tham vọng của Trung Tướng Khánh dễ dàng
nhận thấy qua 4 chức vụ cao nhất nước đang trong tay ông:
"Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng + Tổng
Tư Lệnh Quân Lực". Với 4 chức vụ đó, làm sao biện minh
là ông không có tham vọng? Làm sao biện minh là ông không độc
tài?
Thêm nữa, Trung Tướng Khánh còn
cấp cho Công Binh 10 triệu đồng để xây cái hầm sâu trong
lòng núi đá ngay sau lưng Trường Thiếu Sinh Quân/Vũng Tàu
nữa. Tôi không rõ những chi tiết về cái hầm này, chỉ được
nghe ông nói trong buổi họp tham mưu của Bộ Tổng Tư Lệnh
rằng:
"Trường hợp cuộc chiến dẫn đến
sự xâm nhập của không quân địch thì hầm này là nơi đặt
bản doanh hành quân của Bộ Tổng Tư Lệnh".
Ðến khi trường này chuẩn bị
di chuyển để bắt đầu phá núi xây hầm, cũng là lúc Trung
Tướng Khánh lưu vong nên kế hoạch bị hủy bỏ.
Ngay trước ngày Quốc Khánh đầu
tiên 1/11/1964 -kể từ sau cuộc lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm- Trung Tướng Khánh tấn phong chánh phủ dân sự do giáo
sư Trần Văn Hương làm Thủ Tướng, và kỹ sư Phan Khắc Sửu
làm Quốc Trưởng. Quốc Trưởng là nhà cách mạng quốc gia
lão thành, hoạt động không mệt mỏi, từng vào tù ra khám
vì hoạt động cách mạng, nổi tiếng là trong sạch, và chống
cộng sản một cách triệt để. Thủ Tướng là nhà giáo kỳ
cựu, có tiếng là thanh liêm, nhiệt tình, chống cộng sản
không khoan nhượng, nhưng có dáng vẻ và phong cách của một
công chức cần mẫn hơn là nhà hoạt động chính trị. Cả
hai vị đều do Trung Tướng Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội
Ðồng Quân Ðội (Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đã đổi
danh xưng là Hội Ðồng Quân Ðội) đề cử sau khi tham khảo
cơ quan do ông thành lập có tên gọi "Hội Ðồng Dân Quân".
Dưới nét nhìn nào đó cho thấy
Trung Tướng Khánh muốn dư luận thấy ông giảm bớt cái hơi
hám "độc tài" mà ông luôn bị cáo giác trong các cuộc mít
tinh biểu tình, và nhất là trong những vị hoạt động chính
trị, nên ông nhường chức Quốc Trưởng và Thủ Tướng cho
hai vị dân sự. Nhưng thật ra, với chức Chủ Tịch Hội Ðồng
Quân Ðội, ông vẫn tự cho mình cái chức năng trên Quốc
Trưởng chẳng khác dưới chế độ cộng sản độc tài bao
nhiêu.
Dù sao thì chánh phủ dân sự cũng
tô điểm đôi chút cho hình ảnh chính trị Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta, bớt tính cách năng nổ đầy u ám của một vị
vờ tướng cầm quyền có pha chút "hơi hám quân phiệt" lãnh
đạo.
Ngày 1/1/1965, Trung Tướng Khánh xuống
Cần Thơ chủ tọa lễ kỷ niệm "Ngày Quân Ðoàn IV hai tuổi".
Ông nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Ðội thăng cấp Trung
Tướng cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Quân Ðoàn
này.
Trong cuộc đảo chánh 1/11/1963, Ðại
Tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tham gia
tích cực. Ðảo chánh thành công, ngày hôm sau ông được thăng
cấp Thiếu Tướng, giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Chẳng
bao lâu sau đó, ông bàn giao cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên để
nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật cách
nay vài tháng. Nay, ông được thêm một ngôi sao mỗi bên cầu
vai.
Trung Tướng Khánh là người rất
xông xáo, nay đơn vị này mai đơn vị khác. Ông thường thăm
và khen thưởng tại chỗ về những thành tích cá nhân cũng
như tập thể đơn vị. Mỗi lần đi bằng phi cơ, tôi được
lệnh mang theo tất cả hồ sơ công văn của các phòng trình
lên để ông làm việc ngay trên phi cơ. Chiếc phi cơ C47 mà
Không Quân dành cho ông, có trang bị bàn viết, giường nằm,
tủ lạnh nhỏ, và vài tiện nghi lặt vặt khác. Thường khi
như vậy, ngoài Trung Tướng Khánh ra, còn có sĩ quan tùy viên,
cận vệ, vài nhân viên an ninh, vài nhân viên truyền tin, và
tôi. Ðến thành phố nào đó là tôi tìm phi cơ khác của Không
Quân Việt Nam, Không Quân Hoa Kỳ, hoặc Hàng Không dân sự,
để mang công văn trở về Bộ Tổng Tư Lệnh hoàn lại các
Phòng Sở. Việc bảo vệ số công văn này luôn được quan
tâm đúng mức. Ðây là nét đặc biệt của Trung Tướng Nguyễn
Khánh mà vị Tổng Tư Lệnh trước ông là Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm, và những vị sau ông là Trung Tướng Trần Văn
Minh, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, và Ðại Tướng Cao Văn Viên,
không có. Tôi không dám đoan chắc đó là điều tốt, nhưng
rõ ràng là ông không để thời gian trống trong nhiệm vụ
của ông.
Tôi không biết có phải là do vụ
"Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13/09/1964 hoặc vụ đó chỉ
là "giọt nước làm tràn ly nước" hay không, nhưng từ sau
vụ ấy thì Trung Tướng Khánh với Ðại sứ Hoa Kỳ -cựu
Tướng Maxwell Taylor- đã bất hòa nhau, và Trung Tướng Khánh
đặt bản doanh Bộ Tổng Tư Lệnh ở tòa nhà trắng Vũng Tàu.
Tòa nhà này, người dân địa phương thường gọi là "bạch
dinh". Hằng ngày, tôi dùng phi cơ nhỏ mang công văn của Bộ
Tổng Tư Lệnh từ Sài Gòn ra Vũng Tàu trình ông, xong là quay
về Sài Gòn. Ngày hai buổi sáng chiều, tôi đi đều đều
như vậy. Ðôi khi có công văn gấp, tôi phải đi ngay dù là
ngày chủ nhật hay nghỉ lễ. Thường thì tôi sử dụng chiếc
phi cơ L20 do anh bạn cùng khóa với tôi lái. Anh Nguyễn Xuân
Lễ, sau khi ra trường thời gian ngắn thì anh chuyển sang Không
Quân. Hiện (2006) anh định cư tại Houston.
Trong một chuyến bay trên chiếc
vận tải C7 (Caribou) từ Vũng Tàu về Sài Gòn, bị quân cộng
sản bắn lên và Ðại Úy Long ngồi cạnh tôi bị trúng đạn
xuyên từ dưới mông lên vai, và chết liền. Không biết chúng
bắn bao nhiêu viên đạn nhưng chỉ có 1 viên trúng phi cơ và
đã gây tử thương một sĩ quan mới tái ngũ vài tháng trước
đó, và đang phục vụ tại Bộ Tổng Tư Lệnh. Hôm ấy, chiếc
L20 tu bổ, tôi ôm công văn quá giang chiếc L19 ra Vũng Tàu,
và lại quá giang chiếc C7 nói trên trở về Sài Gòn.
Quí vị nghĩ xem, ông Tổng Tư Lệnh
giận ông Ðại Sứ của nước "chi tiền", dời văn phòng xa
hơn trăm cây số, để lại đằng sau cả một bộ tham mưu
đầu não của quân đội hơn 600 ngàn người đang từng giờ
chiến đấu chống cộng sản. Cho nên có những việc mà vị
Trưởng Phòng cần trình bày trực tiếp với vị Tổng Tư
Lệnh cũng chỉ dùng điện thoại mà điện thoại thì không
hoàn toàn bảo mật được! Phải chăng Trung Tướng Khánh là
vị lãnh đạo quốc gia xem chính trường như sân khấu? Ðồng
ý chính trường cũng là một loại sân khấu, nhưng nền tảng
của sân khấu là nghệ thuật dựng lại những góc cạnh của
cuộc sống, trong khi chính trường là nơi thể hiện tài năng,
kinh nghiệm, bản lãnh, của người lãnh đạo xây dựng cuộc
sống đó. Sở dĩ tôi nói đến "sân khấu" là vì trong năm
1964, nhiều báo chí tại Sài Gòn nói Trung Tướng Khánh có
dòng máu nghệ sĩ.
Xin mở ngoặc. Trong cuộc đàm thoại
tối ngày 21/10/2003, cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm từ
Virginia nói với tôi liên quan đến đoạn trên đây, như sau:
"Chú có biết tại sao ông Khánh
với ông Taylor giận nhau hông?
"Dạ không".
"Tại vì ông Khánh chửi ông Taylor
(Ðại Sứ Hoa Kỳ) về vụ ông Ðức (Trung Tướng Dương Văn
Ðức) biểu dương lực lượng đó. Ông Khánh nói với tôi
như vậy sau khi ổng bị đuổi khỏi Việt Nam qua Hoa Kỳ ở
với tôi mấy ngày".
Xin đóng ngoặc lại.
Ngày 16/02/1965, Trung Tướng Khánh
ra phi trường chậm hơn nửa tiếng đồng hồ, điều mà ít
khi xảy ra. Sau khi phi cơ lên đến độ cao để trực chỉ
Qui Nhơn, ông ngưng tay duyệt công văn và quay sang tôi:
"Tôi vừa thành lập xong chánh phủ".
"Thủ Tướng Trần Văn Hương còn
không, thưa Trung Tướng?
"Bác sĩ Phan Huy Quát thay ông Hương
rồi. Với tôi thì mọi việc chẳng có gì khó khăn cả".
Nụ cười của ông lúc bấy giờ
nếu cựu Thủ Tướng Hương trông thấy chắc là dễ tức
lắm cho dù giáo sư Hương có tiếng là người trầm tĩnh.
Tôi không rõ nguyên nhân thay đổi Thủ Tướng, chỉ nghe Trung
Tướng Khánh nói rằng:
"Trong giai đoạn này mà làm mất
lòng tôn giáo thì không thể chấp nhận được".
Ông là Trung Tướng, với chức Chủ
Tịch Hội Ðồng Quân Ðội, "đã" ngang nhiên chỉ định Thủ
Tướng trong khi Quốc Trưởng vẫn tại chức, lại còn tự
cho mình là người giải quyết công việc quốc gia nhanh chóng
nữa!
Ðến Qui Nhơn, không có phi cơ về
Sài Gòn nên tôi phải ở lại. Tình hình quân sự tại tỉnh
Bình Ðịnh ngày càng xấu đi, đến nỗi đêm hôm đó mọi
người phải ngủ tại hầm chiến đấu. Tôi sang Bộ Chỉ
Huy 2 Tiếp Vận ngủ nhờ hầm chiến đấu của Bộ Chỉ Huy
này. Lúc ấy, Tỉnh Trưởng Bình Ðịnh là Trung Tá Lê Trung
Tường. Thiếu Tá Trương Bảy là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ
Huy 2 Tiếp Vận. (Về sau, Trung Tá Tường là Chuẩn Tướng
quân đội, Thiếu Tá Bảy là Chuẩn Tướng cảnh sát).
Sáng hôm sau, cả đoàn dùng trực
thăng bay vào Nha Trang. Sau khi thăm Bộ Tư Lệnh Lực Lượng
Ðặc Biệt mà Chuẩn Tướng Ðoàn Văn Quảng là Tư Lệnh,
Trung Tướng Khánh bay ngược ra Vũng Rô, nơi mà hôm trước
Hải Quân và Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã bắn chìm chiếc
tàu của quân cộng sản chở vũ khí từ ngoài bắc xâm nhập
vào. Nói cho đúng, chiếc tàu này bị Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ phát
hiện và liên tục theo dõi, đến khi vào duyên hải Việt Nam
Cộng Hòa thì họ báo cho Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa biết. Kết quả là tàu địch bị đánh chìm.
Khi trực thăng lượn nhiều vòng trên không phận Vũng Rô,
tôi nhìn thấy dòng chảy của nhiên liệu từ chiếc tàu chìm
phía dưới loang dài trên mặt biển. Lực lượng Người Nhái
của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đang trục vớt vũ khí lên
tàu, trong khi lực lượng của Quân Ðoàn II đang hành quân
lục soát trong khu vực núi Ðá Bia, lân cận Vũng Rô. Thiếu
Tướng Nguyễn Hữu Có, Tư Lệnh Quân Ðoàn II tin rằng, trong
khu vực này có thể có kho tồn trữ của quân cộng sản.
Chỉ trong ngày 17/2/1965, cả hai lực lượng thu được hơn
1000 khẩu súng đủ loại, tất cả hoàn toàn mới nguyên được
bao bọc trong giấy dầu cẩn thận.
Theo nhận định của Phòng Nhì/Bộ
Tổng Tư Lệnh, hơn một năm qua, với những bất ổn chính
trị trong nội tình Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, quân cộng
sản miền bắc đã lợi dụng "khoảng trống an toàn" đó để
gia tăng vận chuyển đơn vị chính qui và vũ khí đạn dược
vào lãnh thổ chúng ta bằng đường bộ dọc dãy Trường Sơn
và đường thủy dọc duyên hải từ bắc vào. Những lần
trước, số vũ khí đạn dược tịch thu được ở cửa sông
Bồ Ðề tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bờ biển Ba Ðộng tĩnh Vĩnh
Bình (Trà Vinh). Vụ Vũng Rô này là lần thứ 3 tịch thu được
số lượng vũ khí quan trọng .
Khi chánh thức cầm quyền sau cuộc
đảo chánh thành công, với một Thông Ðiệp quan trọng, Trung
Tướng Khánh chánh thức lên tiếng kêu gọi các quốc gia đồng
minh giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc xâm lăng của
cộng sản, điều mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã không
làm theo ý muốn của Hoa Kỳ. Nhưng liệu có phải Thông Ðiệp
mà Trung Tướng Khánh tuyên đọc là do Hoa Kỳ trao cho ông hay
chánh phủ của ông chủ động viết bản văn đó? Nhìn theo
góc độ quân sự, cho dù Hoa Kỳ có cần thực hiện "chiến
lược Domino" bằng cách thiết lập các căn cứ quân sự trên
đất nước chúng ta hay không thì sự hiện diện của quân
bộ chiến Hoa Kỳ, trong một mức độ nào đó thật sự là
cần thiết.
Trong khi áp lực quân sự từ phía
quân cộng sản ngày càng xấu đi thì tình tình chính trị
tại thủ đô Sài Gòn vẫn trong tình trạng rối ren. Tuy là
Quốc Trưởng với Thủ Tướng đều là dân sự, nhưng thực
chất thì quyền hành vẫn trong tay Trung Tướng Khánh. Các nhà
chính trị vẫn thường tổ chức những cuộc hội họp mít
tinh nhằm tạo áp lực đòi Trung Tướng Khánh rút lui thật
sự, vì vậy mà Trung Tướng Khánh luôn luôn lo sợ một ngày
"xấu trời" nào đó ông sẽ bị đảo chánh bởi lực lượng
quân sự. Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đã lưu vong từ tháng
10/1964, và Trung Tướng Dương Văn Minh cũng lên đường lưu
vong 2 tháng sau đó, nhưng điều đó không có nghĩa là "họa
đảo chánh" không còn.
(Tiếp
theo Chương bốn)
|