|
- bốn -
Ðảo Chánh
ngày 19 tháng 2 năm
1965
*****
Sáng sớm chủ nhật, 19 tháng 2 năm
1965, tiếng súng nổ ở hướng Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ
Ðô, hướng căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, và hướng Bộ
Tổng Tư Lệnh. Tôi lái xe xuống Biệt Khu Thủ Ðô vì gần
nhà. Ðường Lê văn Duyệt từ Chợ Ông Tạ đến "trại Lê
Văn Duyệt" (tức Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô) phải hơn
nửa tiếng đồng hồ vì kẹt xe. Ðến cổng trại, tôi gặp
ngay Thiếu Tá Lưu Ngọc Kỉnh -bạn tôi từ năm 1955- đang là
Tiểu Ðoàn Trưởng thuộc Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, có nhiệm vụ
chiếm giữ Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô:
"Chào anh Kỉnh. Ông nào lãnh đạo
vậy anh?
"Anh Hoa, lâu quá mới gặp. Thiếu
Tướng Phát (Lâm Văn Phát) lãnh đạo đó".
"Bây giờ Thiếu Tướng đi với
cánh quân nào anh biết không?
"Thiếu Tướng lên hướng căn cứ
Không Quân và tôi đoán là ổng đang ở trên đó".
"Tôi nghe có tiếng súng bên hướng
Bộ Tổng Tư Lệnh. Vậy bên đó có lực lượng nào không
anh?
"Có. Trung Tá Thao với 2 Tiểu Ðoàn
chiếm giữ bên đó. Nè, anh nói giùm với Trung Tá Thao là tôi
đến đây rồi mà chưa có lệnh gì thêm, với lại không có
tiếp tế thực phẩm cho anh em. Anh nói Trung Tá Thao liên lạc
với tôi và đem tiếp tế đến đây giùm nghe".
"Sao anh không gọi máy nói chuyện
với ảnh?
"Lệnh im lặng vô tuyến chưa giải
tỏa nên không dùng máy. Thôi, anh đi giùm đi".
"Ðược rồi. Tôi sang Bộ Tổng
Tư Lệnh ngay. Chào anh".
Chiếc Jeep phải lách mãi mới quay
lại được đường Thoại Ngọc Hầu và chạy sang Bộ Tổng
Tư Lệnh. Tại cổng số 1, Quân Cảnh Bộ Tổng Tư Lệnh kiểm
soát chặt chẽ người lẫn và xe ra vào cổng. Bên trong, hầu
hết là quân nhân mang phù hiệu Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Trước
cửa văn phòng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tư Lệnh, tôi gặp
Trung Tá Lê Hoàng Thao.
Ðầu năm 1962, anh là Thiếu Tá Tỉnh
Trưởng tỉnh Vĩnh Bình trong thời gian Ðại Tá Trần Thiện
Khiêm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu Chiến
Thuật Hậu Giang bao gồm 8 tỉnh bờ nam sông Tiền, kể cả
tỉnh Vĩnh Bình. Lúc ấy tôi là Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư
Ðoàn 21 Bộ Binh, kiêm điều hành văn phòng Ấp Chiến Lược
của Khu Chiến Thuật Hậu Giang. Do công tác này mà tôi tiếp
xúc thường xuyên với quí vị Tỉnh Trưởng đang trắc nghiệm
Ấp Chiến Lược, từ đó chúng tôi quen nhau.
"Anh Thao. Hôm nay trông anh oai quá".
"Oai cái gì. Mệt quá trời đây
nè".
"Anh Kỉnh cần liên lạc với anh
và xin anh lo tiếp tế cho Tiểu Ðoàn của ảnh bên Biệt Khu
Thủ Ðô đó".
"Giờ này làm sao tôi lo được,
bên đó phải tự túc chớ. Ðược rồi, tôi sẽ gọi ảnh".
"Thiếu Tướng Phát ở đâu anh Thao?
"Bên căn cứ Không Quân. Ổng bắt
được ông Khánh rồi (ý nói Trung Tướng Nguyễn Khánh). Tôi
cho anh biết là có ông Thảo bên Mỹ về làm vụ này đó nghe.
Xong là "sếp" về ngay".
"Sếp" mà Trung Tá Thao vừa nói có
nghĩa là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đang là Ðại Sứ
Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Còn ông Thảo, tức Trung Tá
Phạm Ngọc Thảo. Trước kia ông Thảo bên hàng ngũ cộng sản
về "hồi chánh" thời Tổng Thống Diệm. Với mức độ tin
cậy nào đó, Tổng Thống Diệm đồng hóa cấp Ðại Úy cho
ông và cử ông giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức
Bến Tre), một địa phương mà đa số đồng bào có thân nhân
hoạt động trong hàng ngũ cộng sản. Do thành tích triệt hạ
nhiều hạ tầng cơ sở cộng sản tại đây nên được tiến
cấp Thiếu Tá, sau đó lại lên Trung Tá (cấp đồng hóa khi
được thăng cấp gọi là "tiến cấp"), và do đề nghị của
Trung Tá Thảo mà Thiếu Tá Thao được Tổng Thống cử giữ
chức Tỉnh Trưởng tỉnh Vĩnh Bình. Trung Tá Thảo có vẻ như
được lòng của Ðại Tá Khiêm, có thể vì ông được Tổng
Thống Diệm nâng đỡ, cũng có thể do thành tích của Trung
Tá Thảo tại Kiến Hòa, hoặc cả hai kết hợp lại. Nhưng
có điều tôi không rõ là Ðại Tá Khiêm có cảm tình với
Trung Tá Thảo là thật lòng hay vì yếu tố chính trị? Bởi,
theo tôi, Ðại Tá Khiêm là người ít nói nhưng không phải
là kém thận trọng, vì dù sao đi nữa thì những gì Trung Tá
Phạm Ngọc Thảo đạt được trong thời gian qua, vẫn chưa
đủ sức bôi xóa được nguồn gốc quá khứ của ông, để
tạo cho ông chỗ đứng vững chắc trong Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa.
Trung Tá Thảo đang làm việc trong
tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Do những điều
tôi biết về Ðại Tướng Khiêm đến trước ngày ông lưu
vong (7/10/1964) thì tôi không tin Ðại Tướng Khiêm phái Trung
Tá Thảo về đây tổ chức đảo chánh. Nhưng có thể là nhận
thức của tôi sai lầm, vì biết đâu quan điểm chính trị
của Ðại Tướng Khiêm từ ngày lưu vong đến nay -dù chưa
đầy 5 tháng- đã thay đổi? Dù sao thì Trung Tá Phạm Ngọc
Thảo -theo lời Trung Tá Thao- cũng đang có mặt trong cuộc đảo
chánh này vẫn làm tôi thắc mắc.
Ðến đây tôi xin mở ngoặc để
thuật lại câu chuyện liên quan giữa tôi với cựu Ðại Tướng
Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm tối 21 tháng 10 năm
2003. Sau khi ông hỏi tôi những chi tiết trong cuộc đảo chánh
này, tôi liền hỏi lại ông: (trong câu chuyện, cựu Ðại
Tướng Khiêm xưng là anh Tư và ông gọi tôi là chú, tôi thì
xưng em)
"Thưa anh Tư, em xin hỏi anh Tư trong
vụ Thiếu Tướng Phát đảo chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965,
theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao nói với em là có Trung Tá Phạm
Ngọc Thảo từ tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ
về tham gia, dự trù khi thành công thì anh Tư về cầm quyền.
Ðiều đó có đúng không anh Tư?
"Trời ơi! Bây giờ chú hỏi Anh
mới biết là tại sao lúc đó mấy anh nhà báo của Mỹ nhất
là tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh. "Họ hỏi Anh biết
gì về cuộc đảo chánh đó? Anh trả lời là Anh không biết
gì hết, và đang chờ tin tức từ Việt Nam. Còn cái vụ ông
Thảo về Việt Nam là do ông Khánh (Trung Tướng Nguyễn Khánh)
gởi công điện gọi ông Thảo về gấp đó. Anh có nghe nói
khi ông Thảo về tới phi trường Tân Sơn Nhất, được người
nào đó cho biết là ông Khánh đã phái người chận bắt ông
Thảo đem đi giết, nên người đó giúp ông Thảo chạy trốn
luôn. Về sau, bị nhóm nào đó bắt được và giết chết".
"Vậy thì lời của Trung Tá Lê Hoàng
Thao đã không đúng".
Và cựu Ðại Tướng Khiêm hỏi
lại tôi:
"Chú có biết là tại sao ông Phát
(Thiếu Tướng Phát) đảo chánh ông Khánh (Trung Tướng Khánh)
bị thất bại, mà ông Khánh lại lưu vong hông? Ông Phát thua
thì phải rồi, còn ông Khánh tại sao thua? Hồi ông Khánh qua
ở đây với Anh (Ðại Tướng Khánh có đến nhà Ðại Tướng
Khiêm khi ông Khiêm giữ chức Ðại Sứ tại Hoa Kỳ), Anh có
hỏi ổng:
"Tại sao ông Phát thua mà Anh cũng
thua nữa? Ông Khánh cười cười mà không trả lời.
"Ðiều này em không biết rõ, chỉ
biết rằng Hội Ðồng Quân Ðội lúc ấy có Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Nguyễn
Chánh Thi, và còn nữa nhưng người kể lại cho em nghe thì
không nhớ hết, các vị quyết định Thiếu Tướng Phát phải
lui quân. Và các vị lại họp tiếp và quyết định trục
xuất Trung Tướng Khánh ra khỏi Hội Ðồng Quân Ðội, cách
chức Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và buộc
lưu vong".
"Anh có gặp Thiếu Tướng Phát khi
ổng qua Mỹ này, Anh hỏi ổng tại sao ổng đảo chánh hồi
năm 1965. Ông Phát trả lời thật ngắn là "Mỹ xúi". Anh thấy
chuyện đời mà buồn! Chú có biết là Anh (tức cựu Ðại
Tướng Khiêm), ông Khánh, ông Ðức (Dương Văn), và ông Phát,
bốn đứa Anh cùng học một khóa không? Vậy mà khi lên Tướng
lại quay mặt đánh nhau! Chú có thấy chính trị nó làm mất
tình cảm giữa anh em bè bạn với nhau không!
"Thưa anh Tư, em còn nhớ vào chiều
ngày 6 tháng 10 năm 1964, khi chuẩn bị lưu vong, anh Tư gọi
em đến nhà, anh đích thân đem bánh rót nước trà mời em.
Anh Tư có nói rằng: "Tôi nói với chú cũng như mấy chú trong
văn phòng, nếu như còn thương tôi thì đừng bao giờ làm
chính trị, vì chính trị đôi khi dẫn người ta đến chỗ
không còn giữ lại cho mình tình cảm với người thân, với
bạn bè bằng hữu". Mà theo em nghĩ, chính trị tự nó không
có gì là xấu cả, chỉ tại người làm chính trị thôi anh
Tư".
Ðến đây thì cựu Ðại Tướng
Khiêm bận việc gì gấp nên chấm dứt vội vàng. Một lúc
sau ông gọi lại cho biết là có việc nên không tiếp tục
được. Xin đóng ngoặc.
Trước khi trở lại câu chuyện
giữa tôi với Trung Tá Lê Hoàng Thao, tôi xin nói thêm về sự
kiện Trung Tá Phạm Ngọc Thảo bị bắt và bị giết. Ngày
18 tháng 1 năm 2004, đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại do ông
Hồng Phúc phỏng vấn tôi về cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng
1 năm 1964, nhưng ở phần đầu người xướng ngôn có đọc
bức thư của ông Bùi Dzũng từ Paris (con trai của cựu Ðại
Tá Bùi Dzinh). Theo đó thì khoảng tháng 7 năm 1965, Trung Tá
Phạm Ngọc Thảo bị bắt và bị giết chết sau đó. Theo một
vị đã trả lời trong cuộc phỏng vấn cũng của đài Tiếng
Nói Việt Nam Hải Ngoại, nguyên nhân là do bà Bùi Dzinh thường
tới lui thăm nuôi chồng nên bị lộ tung tích. Lúc ấy cựu
Ðại Tá Bùi Dzinh, cựu Ðại Tá Ðỗ Văn Diễn, và Trung Tá
Phạm Ngọc Thảo, cùng trốn chung trong một ngôi nhà vùng ngoại
ô Biên Hòa. Ông Dzũng cho biết, thật ra người đến thăm
thường xuyên là bà Ðỗ Văn Diễn nên bị lộ tung tích chớ
không phải bà Bùi Dzinh, tức mẹ của ông Dzũng. Cuối cùng,
ông Dzũng yêu cầu đính chánh để mẹ ông được yên nghỉ
trong lòng đất. (So với ấn bản lần 3, xin đính chánh theo
yêu cầu của ông Bùi Dzũng, ông không phải là bác sĩ. Ða
tạ)
Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện.
Tôi hỏi Trung Tá Lê Hoàng Thao:
"Anh có chắc là Trung Tướng Khánh
bị bắt rồi không?
"Chắc chắn mà. Nói thiệt anh nghe,
nếu không xong thì 2 trái lựu đạn này đủ giải quyết rồi
anh".
Trung Tá Thao vừa nói vừa đưa 2
tay nắm vào 2 trái lựu đạn móc ở giây thắt lưng. Mặc
dù anh Thao quả quyết việc Thiếu Tướng Lâm Văn Phát đã
bắt được Trung Tướng Nguyễn Khánh nhưng tôi chưa dám tin,
vì bắt Trung Tướng Khánh không phải dễ dàng đâu, bởi ông
có toán an ninh cận vệ xứng đáng với sự tin cậy của ông.
Tôi lên xe với ý định xuống nhà
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Ðổng lý Văn Phòng Bộ Tổng
Tư Lệnh. Vừa ra cổng Bộ Tổng Tư Lệnh, trông thấy xe của
bác sĩ Trung Úy Nguyễn Ðức Thành (em ruột của Thiếu Tướng
Nguyễn Ðức Thắng. Cấp bậc lúc ấy), bác sĩ riêng của
Trung Tướng Khánh, từ hướng phi trường xuống, tôi ngoắc
lại:
"Anh Thành. Anh có biết Trung Tướng
ở đâu không?
"Trung Tướng lên phi cơ đi rồi
Thiếu Tá".
"Chắc không anh, vì tôi nghe ông
Trung Ðoàn Trưởng đang chiếm giữ Bộ Tổng Tư Lệnh nói
là Trung Tướng bị bắt rồi?
"Chắc chắn vì tôi đưa đi mà.
Lúc phi cơ cất cánh có 2 chiếc Thiết Giáp chạy ra đường
băng cản lại nhưng không kịp".
"Trung Tướng đi đâu anh biết không?
"Tôi không rõ lắm, nhưng có thể
là bay xuống Sư Ðoàn 21 Bộ Binh (Bạc Liêu)".
"Bây giờ tôi xuống nhà Thiếu Tướng
Vỹ, anh có đi với tôi không?
"Tôi bận chút việc, nếu tiện
thì tôi đến sau".
"Vâng. Chào anh".
Vào nhà Thiếu Tướng Vỹ, hai ông
bà rất thản nhiên chừng như không có việc gì xảy ra hết
trơn.
"Lâu quá mới gặp anh. Anh chị mạnh
khỏe chớ? Bà Vỹ thật vui khi nói với tôi như vậy.
"Cám ơn chị, tụi tôi vẫn thường
thôi".
"Hôm nay anh ở đây dùng cơm với
vợ chồng tôi à nghe. Ðây này, anh điện thoại về cho chị
đi". Vừa nói chị vừa đưa ống nói điện thoại cho tôi.
"Rất cám ơn chị và xin lỗi chị,
chúng tôi có thân nhân từ Vĩnh Long lên thăm, nên chốc nữa
phải quay về dùng cơm trưa chị à".
Tôi vào chuyện nóng bỏng luôn:
"Thưa Thiếu Tướng, chắc Thiếu
Tướng biết tin Trung Tướng Khánh đã xuống miền Tây rồi?
"Có. Tôi có biết".
Lúc ấy tôi nghĩ mãi không ra là
do đâu mà Thiếu Tướng Vỹ biết nhanh như vậy. Tôi thuật
lại những gì tôi với bác sĩ Thành nói chuyện với nhau cho
ông bà Vỹ nghe, sau đó tôi chào ông bà và trở lại Bộ Tổng
Tư Lệnh, tìm gặp Trung Tá Thao:
"Anh Thao, Trung Tướng Khánh đã rời
Sài Gòn bằng phi cơ lúc sáng, điều đó là xác thực. Tôi
nghĩ là anh nên trình với Thiếu Tướng Phát mà cẩn thận,
vì Trung Tướng Khánh nhiều thủ đoạn lắm, tôi e là không
ổn đâu nghe".
"Thiếu Tướng Phát nói với tôi
là bắt ông Khánh rồi mà".
"Tôi không nói Thiếu Tướng Phát
nói không đúng, nhưng anh nên nghe tôi vì tin tôi nhận được
là chính xác. Tùy anh".
Tôi vào văn phòng và chờ xem nội
vụ mà tôi tin là thất bại.
Buổi trưa hôm ấy, các vị Tướng
Lãnh họp trong căn cứ Không Quân để tìm biện pháp giải
quyết. Các vị nhiệt tình nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Thiếu Tướng Nguyễn
Chánh Thi. Kết quả buộc Thiếu Tướng Lâm Văn Phát phải
rút quân.
Tôi nghĩ, Trung Tướng Khánh chắc
là rất bằng lòng khi biết quyết định này, vì Hội Ðồng
Quân Ðội thu hẹp dù không có ông nhưng đã giải quyết đúng
theo ý ông. Nhưng, các vị Tướng lại họp nữa, và kết quả
sau cùng là "trục xuất" Trung Tướng Khánh ra khỏi Hội Ðồng
Quân Ðội, đồng thời buộc ông phải lưu vong.
Xin nói thêm rằng, sau cuộc Chỉnh
Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, Thiếu Tướng Thi với Thiếu Tướng
Kỳ là hai vị Tướng Lãnh ủng hộ Trung Tướng Khánh mạnh
mẽ nhất, vì cả 3 vị này có cùng quan điểm là phải đánh
ra Bắc mới giải quyết tận gốc chiến tranh. Mở cuộc chiến
tranh vào lãnh thổ cộng sản miền Bắc là một quyết định
chiến lược ngoài tầm tay và cả tầm vói của những vị
lãnh đạo của chúng ta cho dù các vị đang nắm quyền lãnh
đạo. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta được Hoa Kỳ
cung cấp trang bị cho một khả năng phòng thủ, mà chỉ là
phòng thủ diện địa chớ không có khả năng chống không
quân của địch nữa. Với hoàn cảnh "trói tay" như vậy, quan
niệm đánh ra Bắc chỉ là một chiến lược không tưởng,
dù rằng quan niệm này không phải là quá sớm. Nhưng dù sao
thì những vị Tướng của chúng ta có một quan niệm chiến
lược như vậy cũng là điều đáng mừng, vì bộc lộ một
trách nhiệm cao độ trong chiến tranh gìn giữ quê hương.
Khi biết mình bị loại ra khỏi
Hội Ðồng Quân Ðội, Trung Tướng Khánh gọi về văn phòng:
"Anh Hoa, anh tìm xem ông Ðại Sứ
Mỹ ở điện thoại nào và trình tôi ngay".
"Trung Tướng đang ở đâu vậy?
"Vũng Tàu".
"Vâng. Tôi thi hành".
Sau khi tìm mãi không được, tôi
điện thoại trình Thiếu Tướng Vỹ thì ông cho biết là Trung
Tướng Khánh vừa liên lạc với ông Ðại Sứ Mỹ rồi. Và
theo Thiếu Tướng Vỹ biết thì ông Ðại Sứ cho rằng, người
Mỹ không can thiệp vào vấn đề chính trị nội bộ của
Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều này được hiểu là Trung Tướng
Khánh không còn lối nào để thoát. Vậy là con đường lưu
vong mà Trung Tướng Khánh thiết lập cho Ðại Tướng Khiêm
"khánh thành", kế đó là Trung Tướng Dương Văn Minh trong chức
"đại sứ lưu động", và bây giờ chính ông là người lữ
hành đơn độc trên con đường mà chính ông chỉ muốn dành
riêng cho những vị Tướng mà ông xem như "kẻ thù". Tôi nghĩ,
Trung Tướng Khánh không ngờ rằng, tên ông cũng có trong danh
sách những vị một thời là "nạn nhân quyền lực" của chính
ông!
Xin mở ngoặc để ghi lại lời
thuật của anh Vờ Văn Nghi, vào một tối cuối tháng 11 năm
2003 tại thành phố Houston. Anh là bạn tôi, và anh đồng ý
cho tôi bổ túc vào ấn bản lần 4 này.
Anh Võ Văn Nghi, tốt nghiệp khóa
10 Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt năm 1954. Cấp bậc sau
cùng (năm 1975) là Thiếu Tá, binh chủng Truyền Tin. Năm 1964,
anh là Ðại Úy Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn Truyền Tin/Bộ Tổng
Tư Lệnh. Anh được cử vào chức vụ Sĩ Quan Truyền Tin/Phủ
Thủ Tướng, với nhiệm vụ chính là cung cấp mọi dịch vụ
liên lạc vô tuyến khi tháp tùng theo Trung Tướng Nguyễn Khánh.
Cùng trong toán Truyền Tin lưu động với anh còn có Ðại Úy
Lê Văn Hòa. Anh Nghi với anh Hòa, luân phiên nhau trực đi theo
Trung Tướng Khánh. Ngoài Ðại Úy Nghi hoặc Ðại Úy Hòa tùy
phiên trực, trong toán Truyền Tin lưu động này còn có một
Trung Sĩ và một Hạ Sĩ chuyên viên sử dụng máy WM2.
Giải thích của Phạm Bá Hoa: Ngày
1/11/1964, Trung Tướng Khánh đã tấn phong chánh phủ Trần Văn
Hương, sau đó là chánh phủ Phan Huy Quát. Như vậy, Trung Tướng
Khánh không còn ngồi trong Phủ Thủ Tướng nữa, nhưng theo
lời anh Nghi thì Trung Tướng Khánh vẫn sử dụng bộ phận
Truyền Tin của Phủ Thủ Tướng, vì cơ quan này có trang bị
máy vô tuyến WM2, loại máy liên lạc được với tất cả
các cơ quan hành chánh cũng như tất cả các đơn vị quân
đội trên toàn quốc. Do vậy mà anh Nghi thuộc đơn vị Truyền
Tin/Phủ Thủ Tướng. Ðiều này cũng được hiểu là khi bàn
giao chức vụ Thủ Tướng, Trung Tướng Khánh vẫn giữ nguyên
toán truyền tin đặc biệt và lưu động này theo ông, như
là toán biệt phái đặc biệt. Hết phần giải thích.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965, khi lực
lượng Sư Ðoàn 25 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lâm Văn Phát điều
động xâm nhập tiến chiếm một số cơ quan trọng yếu trong
thủ đô Sài Gòn, thì anh Nghi đang bận việc ngoài phố dù
là anh đang trong phiên trực, vì vậy mà anh không kịp đi theo
Trung Tướng Khánh khi ông dùng phi cơ C47 dành riêng cho ông
để thoát khỏi Sài Gòn. Sau đó, toán Truyền Tin của anh bên
cạnh Trung Tướng Khánh báo tin cho anh hay, lúc ấy Trung Tướng
Khánh đã đến Vũng Tàu. Và đây là lời của cựu Thiếu
Tá Võ Văn Nghi:
''Nghe nhân viên báo tin, tôi vội
dùng xe Jeep với bảng số dân sự chạy ra Vũng Tàu. Ðến
nơi, thì phi cơ cất cánh đi nữa rồi nhưng chưa rõ đi đâu.
Tôi quay về Sài Gòn. May quá, được tin từ toán Truyền Tin
lưu động cho biết là Trung Tướng Khánh sẽ đến Biên Hòa
họp với các vị Tướng Lãnh ở đó. Tôi chạy lên Biên Hòa,
lúc ấy Trung Tướng Khánh chưa đến. Thiếu Tướng Kỳ trông
thấy tôi, ổng nói:
"Giờ này mà anh còn đi theo ông
Khánh làm gì nữa".
Ngưng một lúc để moi thêm trí
nhớ, anh Nghi nói tiếp:
"Trung Tướng Khánh đến. Vào phòng
họp, nhưng tôi không được vô. Một lúc sau, anh cận vệ
bước ra nói với tôi là Thiếu Tướng Kỳ (Nguyễn Cao Kỳ)
với Thiếu Tướng Thi (Nguyễn Chánh Thi) muốn Trung Tướng
Khánh từ chức liền, nhưng Trung Tướng Khánh không đồng
ý vì ông cho rằng, vụ chiếc tàu của cộng sản chở vũ
khí đạn dược xâm nhập Việt Nam Cộng Hòa bị đánh chìm
tại Vũng Rô (tỉnh Khánh Hòa, ngày 16/2/1965), đang là vấn
đề quan trọng cần phải nghiên cứu để có biện pháp thích
ứng với tình hình. Sau đó, Trung Tướng Khánh ra sân bay. Lên
phi cơ. Tôi đi theo. Trung Tướng Khánh ra lệnh Ðại Úy Ðoàn,
trưởng phi hành đoàn, bay ra Vũng Tàu (giải thích của Phạm
Bá Hoa: từ đây, Trung Tướng Khánh gọi về văn phòng bảo
tôi tìm ông Ðại Sứ Hoa Kỳ cho ông liên lạc như tôi đã
thuật ở trên).
Anh Nghi thuật tiếp:
"Khoảng giữa đêm, Trung Tướng
Khánh ra lệnh tất cả lên phi cơ, cất cánh ra Nha Trang. Trước
khi đáp xuống Nha Trang, ổng bảo tôi gọi cho ổng nói chuyện
với ông Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh (dường như là Thiếu
Tướng Lữ Lan). Tôi liên lạc được, nhưng khi trao ống nói
cho Trung Tướng Khánh thì đầu máy bên kia không nói nữa.
Lúc ấy phi cơ đáp phi trường Nha Trang. Trung Tướng Khánh
và tùy tùng xuống phi cơ thì bị một toán Không Quân võ trang
bao vây. Trung Tướng Khánh chưa có phản ứng gì thì Thượng
Sĩ Ngàn trong phi hành đoàn, dõng dạc nói với toán Không Quân
rằng: "Ðây là chuyện của những vị Tướng Lãnh, mấy chú
không được hành động gì với Trung Tướng (Khánh) cả".
Thế là toán Không Quân giải tán. Thật sự thì tôi không
biết Thượng Sĩ Ngàn là người như thế nào trong Không Quân
mà lời nói của ổng được toán quân nhân võ trang này nghe
theo, nếu không thì tôi cũng chưa biết việc gì xảy ra nữa".
Ngưng một lúc, anh Nghi thuật tiếp:
"Trung Tướng Khánh bảo tôi liên
lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ để ổng nói chuyện.
Tôi liên lạc được với Thiếu Tướng Kỳ và xin ổng chờ
nói chuyện với Trung Tướng Khánh, nhưng khi tôi trao ống nói
cho Trung Tướng Khánh thì Thiếu Tướng Kỳ không nói nữa.
Giống như trường hợp liên lạc với Thiếu Tướng Lữ Lan
(?).Như vậy có lẽ là trung ương đã thông báo cho các đại
đơn vị rồi, ít ra cũng là Sư Ðoàn 25 Bộ Binh tại Quảng
Ngãi (giải thích của Phạm Bá Hoa: lúc thành lập, Sư Ðoàn
25 Bộ Binh đồn trú tại Quảng Ngãi, về sau di chuyển vào
Củ Chi, Hậu Nghĩa). Khoảng 2 giờ sáng (ngày 20/2/1965), Trung
Tướng Khánh ra lệnh mọi người lên phi cơ và cất cánh lên
Ðà Lạt. Căn cứ Không Quân Nha Trang không cho phi cơ cất cánh,
nhưng Trung Tướng Khánh bảo cứ cất cánh, và phi cơ rời
khỏi đường băng an toàn. Ðại Úy Ðoàn, trưởng phi cơ báo
cáo có hai chiếc khu trục AD6 đã cất cánh từ Sài Gòn ra,
có thể là họ đuổi theo chiếc phi cơ này. Trung Tướng Khánh
bảo tắt đèn và bay thấp, đổi hướng đi Hong Kong. Nhưng
vài phút sau đó, Trung Tướng Khánh bảo quay lại và bay lên
Ðà Lạt, đừng đáp Liên Khàng mà đáp sân bay Cam Ly (giải
thích của Phạm Bá Hoa: Cam Ly là phi trường nhỏ, sát ngoại
ô thành phố Ðà Lạt). Phi cơ bay không đèn, sân bay cũng không
đèn, cũng may là trời có trăng nên đáp an toàn. Tôi gọi
mấy anh trong biệt điện đem xe dodge ra đón một cách lặng
lẽ. Trung Tướng Khánh cho Ðại Úy Ðoàn 20.000 đồng như để
khen thưởng anh điều khiển phi cơ đáp an toàn trong đêm tối,
rồi ông bảo mọi người nghỉ ngơi.
Tôi hỏi anh Nghi:
"Theo anh thì liệu có giới chức
nào ở Ðà Lạt biết Trung Tướng Khánh đến đây không?
"Tôi chắc là không ai biết đâu.
Khoảng 10 giờ 30 trưa, anh Truyền Tin gọi tôi dậy vì Trung
Tướng Khánh bảo tôi vào phòng gặp ông gấp, và ông ra lệnh:
Anh (Ðại Úy Võ Văn Nghi) thảo công điện gởi về Sài Gòn
và phổ biến ngay, nói là tôi đồng ý thoái vị. Ðồng thời
yêu cầu các đơn vị đảo chánh hãy trở về vị trí".
Tôi xin anh dừng lại để nêu câu
hỏi cho rõ:
"Anh có nhớ rõ là Trung Tướng Khánh
nói thoái vị hay nói từ chức?
Anh Nghi lặp lại:
"Trung Tướng Khánh nói thoái vị.
Lúc ấy tôi thấy khó quá, vì đây là bản văn rất quan trọng
mà ổng bảo tôi viết rồi gởi luôn. Tôi trình Trung Tướng
Khánh:
"Xin Trung Tướng viết và tôi chuyển
ngay".
"Anh viết là được rồi". Lời
của Trung Tướng Khánh.
"Dạ, tôi viết rồi trình Trung Tướng
ký".
"Không cần. Viết xong anh chuyển
đi ngay".
"Viết xong tôi gọi về Truyền Tin
Phủ Thủ Tướng và đọc "bạch văn" luôn. Tôi yêu cầu phổ
biến ngay trên các đài phát thanh. Sau đó thì Trung Tướng
Khánh trở về Sài Gòn. Ông có yêu cầu Bộ Tổng Tư Lệnh
phải để cho các quân nhân phục vụ trực tiếp cạnh ông
lâu nay, được chọn đơn vị phục vụ. Và tôi trở về chức
vụ Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn Truyền Tin/Tổng Tư Lệnh".
Ðến đây là hết phần tường
thuật của cựu Thiếu Tá Võ Văn Nghi. Xin đóng ngoặc và trở
lại với Hội Ðồng Quân Ðội.
Lời yêu cầu sau cùng của Trung
Tướng Khánh là xin Hội Ðồng Quân Ðội cử ông giữ chức
Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Tây Ban Nha, Hội Ðồng Quân
Ðội không đồng ý. Nhưng theo lời trình của Hội Ðồng
Quân Ðội, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu ký Sắc Lệnh thăng
cấp Ðại Tướng cho Trung Tướng Nguyễn Khánh. Phải chăng
đây là hành động của Hội Ðồng Quân Ðội an ủi Ðại
Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong?
Dường như Ðại Tướng Khánh "suy
bụng ta ra bụng người" khi ông xin chức Ðại Sứ, vì biện
pháp mà ông loại trừ Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm với
Trung Tướng Dương Văn Minh là ông cử đi làm "Ðại Sứ lưu
động" là xong. Một chức vụ tưởng như thưởng nhưng thật
ra là phạt. Chức "Ðại Sứ lưu động" là một chức vụ
nghe rất lớn vì không phải chỉ làm Ðại Sứ tại một quốc
gia mà là nhiều quốc gia, chỉ tội một điều là không có
tòa đại sứ, không xe không nhà, cũng không tùy tùng hay cận
vệ, bởi chức vụ này chỉ dành cho những vị Tướng sa cơ
thất thế! Cũng vì vậy mà báo chí thường nửa đùa nửa
thật khi ví von câu: "được làm vua, thua làm đại sứ". Trong
nửa năm qua (1964) sự thật là như vậy, nhưng sự thật này
đã hạ thấp vai trò và trách nhiệm của những vị Ðại
Sứ Việt Nam Cộng Hòa trên chính trường quốc tế, và làm
đau lòng những ai hằng quan tâm đến Quốc Gia Dân Tộc!
Ngày 25 tháng 2 năm 1965, Ðại Tướng
Nguyễn Khánh rời Việt Nam tự đi làm "đại sứ lưu động"
ở đâu đó. Trước khi lên phi cơ, Ðại Tướng Khánh thể
hiện "lòng yêu nước thương dân" của ông bằng cách hốt
nắm đất cho vào cái túi nhỏ mà ông gọi là "nắm đất
quê hương" để mang theo trên đường "nhậm chức đại sứ".
Ðến đây xem như xong màn bi hài kịch của một nghệ sĩ trình
diễn. Nhưng khổ nỗi, nếu như nghệ sĩ tồi thì chỉ những
khán giả thiệt hại về tiền bạc, về công sức, về thời
gian, còn trường hợp Ðại Tướng Khánh trong 4 chức vụ lãnh
đạo cao nhất với những quyền uy tột đỉnh của đất nước
Việt Nam: Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc
Phòng + Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông đã
gây tổn hại tinh thần, tổn hại nền nếp kỷ cương của
quân đội, tổn hại uy tín quốc gia trên chính trường quốc
tế, kể cả kẻ thù từ quốc gia phía bắc vĩ tuyến 17!
Theo tôi, giá mà Ðại Tướng Nguyễn
Khánh giữ những chức vụ lãnh đạo quân đội, điều binh
khiển tướng ở chiến trường thì thích hợp với ông hơn
là nắm giữ chức vụ lãnh đạo quốc gia. Thật ra, Ðại
Tướng Khánh có phong cách và cái uy của vị Tướng xông pha
trận mạc. Trong cách nhìn nào đó sau khi để qua một bên
về khía cạnh chính trị và những gì thuộc về riêng tư,
Ðại Tướng Nguyễn Khánh, Ðại Tướng Cao Văn Viên, và cố
Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí, mỗi vị có cách riêng của mình
trong nghệ thuật lãnh đạo chiến tranh, và cả ba vị đều
là Tướng Lãnh rất xứng hợp trong vai trò lãnh đạo và chỉ
huy quân đội trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Tiếc thay, chỉ hơn một năm cầm
đủ thứ quyền trong tay, Ðại Tướng Khánh đã làm rối loạn
nền nếp sinh hoạt chính trị lẫn kỷ cương quân đội. Phải
công nhận Ðại Tướng Khánh làm được nhiều việc, nhưng
cái cốt lõi của vai trò lãnh đạo là đem lại sự đoàn
kết mọi thành phần trong xã hội thành một khối để toàn
dân một lòng gìn giữ quê hương, thì kết quả ngược lại.
Liệu chúng ta có nên qui một phần trách nhiệm tinh thần cho
Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm khi đưa Ðại Tướng Nguyễn
Khánh từ Tư Lệnh Quân Ðoàn I lên đến chức vụ lãnh đạo
quốc gia hay không, cho dẫu sự tiếp tay đó là vô tình đã
tạo môi trường và cơ hội cho Ðại Tướng Khánh thực hiện
tham vọng chính trị? Nhưng nghĩ cho cùng, Ðại Tướng Khiêm
đã bị Ðại Tướng Khánh bạc đãi đến mức hận thù rồi,
không nên đè nặng lên tinh thần ông thêm nữa.
Xin nói thêm là cuối năm 1965, tôi
nhận được bức thư dài 8 trang viết tay của Bà Trần Thiện
Khiêm, 8 trang nhưng không có nghĩa là bức thư dài vì chữ
viết của Bà rất to rất dễ đọc. Có đoạn Bà cho biết,
dù đối xử không tốt với gia đình Bà, nhưng Ðại Tướng
Khánh cùng với Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, (đã tử nạn trực
thăng trong cuộc hành quân vượt biên năm 1970) đã đến Washington
D.C. sống trong gia đình Bà hằng tháng trời dù Bà không mời,
khi Bà viết câu: "khách không mời mà vẫn cứ đến cứ ở".
Hội Ðồng Quân Ðội cử Trung Tướng
Trần Văn Minh giữ chức Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa. (Trung Tướng Minh nói ở đây không phải Trung
Tướng Trần văn Minh sau này là Tư Lệnh Không Quân). Chức
vụ đứng đầu quân đội hơn 600 ngàn quân, một lần nữa
không có ai bàn giao cho người nhận chức. Không quốc kỳ,
không quân kỳ, không vị nào chủ tọa, cũng không sĩ quan
nào tham dự, chỉ mỗi Trung Tướng Minh và vài sĩ quan thân
cận vào nhận việc một cách lặng lẽ! Bộ Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà "xuống giá" đến mức thảm
thương như vậy đó! Thảm thương đến mức không bằng buổi
bàn giao chức vụ Trung Ðội Trưởng bộ binh khi tôi tốt nghiệp
Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức nữa, vì dù sao cũng có
Trung Úy Ðại Ðội Trưởng của tôi -Trung Úy Nguyễn Văn Thảo-
chủ tọa giao nhận đàng hoàng, có bắt tay chúc mừng thân
mật, và cùng nâng chén nước trà bên bụi chuối tại khu
vực hành quân trong vùng hẻo lánh thuộc Quận Tam Bình tĩnh
Vĩnh Long vào thượng tuần tháng 2 năm 1955.
Ðây là lần thứ tư thay đổi chức
vụ đứng đầu quân đội mà không có bàn giao. Lần thứ
nhất ngay sau ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thành
công, Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhận chức ngày 2 tháng 11
năm 1963, lúc ấy Ðại Tướng Lê Văn Tỵ nằm quân y viện.
Lần thứ nhì, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm nhận chức ngày
30 tháng 1 năm 1964, lúc ấy Trung Tướng Trần Văn Ðôn đã
bị bắt. Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức
ngày 7 tháng 10 năm 1964, lúc bấy giờ Ðại Tướng Trần Thiện
Khiêm vừa rời Việt Nam lưu vong.
Trung Tướng Minh không thay đổi
tổ chức cũng như nhân viên văn phòng, ngoại trừ Ðổng Lý
Văn Phòng và Bí Thư của ông. Rất có thể vì chức vụ của
ông có chữ "Quyền" đứng trước có nghĩa là "tạm thời",
nên ông không thay đổi gì cả, và ông cũng không hề thăm
bất cứ một đơn vị nào, thậm chí ngay cả các Phòng của
Bộ Tổng Tư Lệnh cũng không được ông ghé mắt vào nữa.
Nhưng tại văn phòng, Trung Tướng Minh giải quyết công việc
tương đối nhanh chóng và dứt khoát. Phải công nhận là ông
xử sự với tất cả quân nhân viên chức rất lịch sự.
Không bao giờ ông gọi anh này anh kia, mà bao giờ ông cũng
dùng tiếng "vous" (tiếng Pháp) bất luận trước mặt ông là
anh tùy phái hay vị sĩ quan.
Tôi không rõ thời oanh liệt của
Trung Tướng Minh ra sao, nhưng trong chức vụ Quyền Tổng Tư
Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông không khác vị công
chức sắp về hưu bao nhiêu, cứ như "sáng vác ô đi tối vác
về" đều đặn như vậy trong mấy tháng ngồi trong phòng rộng
lớn chính giữa tầng lầu 2 tòa nhà chánh của trại Trần
Hưng Ðạo.
Bên phải bàn giấy của ông là
những cửa kiếng nhìn xuống võ đình trường rộng lớn uy
nghi, với cột cờ cao vời vợi mà trên đỉnh là lá quốc
kỳ nền vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió. Cũng từ đây nhìn
bao quát là những dãy nhà 2 tầng với kiến trúc khang trang
mang dáng vấp phương Tây, dùng làm các phòng sở cơ quan trực
thuộc ẩn hiện dưới những tán cây nhiều bóng mát, tô điểm
thêm những nét chấm phá cho bản doanh cơ quan cao nhất của
quân đội: "Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa".
Một cơ quan có đến 2.000 quân nhân viên chức, trong số có
rất nhiều Tướng Lãnh và sĩ quan cao cấp. Chính nơi đây,
những vấn đề chiến lược chiến thuật được các phòng
sở cơ quan nghiên cứu, soạn thảo, ban hành về tổ chức,
trang bị, huấn luyện, nuôi dưỡng, và điều khiển hành quân
chống trả quân cộng sản xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa trong
mục tiêu chiến lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên
toàn thế giới nói chung, và Việt Nam Cộng Hòa trong bối cảnh
một Ðông Nam Á cộng sản nói riêng. Nhưng không biết là
Trung Tướng Minh có khi nào đứng bên cửa sổ nhìn bao quát
khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo này, để mà thấy rõ trách
nhiệm của người có đủ tư cách và quyền uy ngồi vào chiếc
ghế Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?
Chức vụ Quyền Tổng Tư Lệnh Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa của Trung Tướng Trần Văn Minh, kéo
dài đến một ngày tính ra chỉ được gần 4 tháng....
(Tiếp
theo Chương năm)
|