|
- năm -
Quân Ðội Lãnh Ðạo
Quốc Gia
ngày 19 tháng 6 năm
1965
*****
Từ ngày lên cầm quyền, gần như
chẳng mấy khi giữa Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu với Thủ
Tướng Phan Huy Quát đồng quan điểm về chính sách quốc gia.
Không biết trước kia giữa hai vị có điều gì bất hòa nhau
hay không, mà trong giai đoạn hai vị là người lãnh đạo cao
nhất nước, đang gánh vác trách nhiệm quản trị quốc gia
trong thời chiến, nhưng có vẻ như đang quay lưng vào nhau.
Thật là đáng buồn!
Bác sĩ Phan Huy Quát nhận chức Thủ
Tướng ngày 16 tháng 2 năm 1965. Hơn một tuần sau đó, Ðại
Tướng Nguyễn Khánh rời Việt Nam (25/2/1965) lưu vong. Vào những
ngày đầu trung tuần tháng 6 năm 1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát
gởi đến Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Trưởng Quốc
Phòng, một văn thư quay roneo dài 2 trang giấy dầy, khổ 21x33
phân tây, có đóng dấu của Thủ Tướng. Văn thư này có thông
báo Trung Tướng Trần Văn Minh, Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, và tôi đã đọc nó. Lúc ấy tôi là Thiếu
Tá, Trưởng Phòng Quân Sự Vụ/Nha Ðổng Lý Bộ Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Xin được nhắc lại rằng, sau cuộc
Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh
trong chức vụ Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng,
hành sử chức năng Quốc Trưởng, đã ban hành Sắc Lệnh vào
đầu tháng 4 năm 1964, hệ thống hóa tổ chức quân đội dưới
danh xưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm: Hải Quân,
Lục Quân, Không Quân, và Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân. Trong
khi đó, Bộ Tổng Tham Mưu trở thành Bộ Tổng Tư Lệnh, và
văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng cũng biến cải lại thành
Nha Ðổng Lý Bộ Tổng Tư Lệnh gồm: Phòng Quân Sự Vụ mà
tôi là Trưởng Phòng. Phòng Dân Sự Vụ do Thiếu Tá Hoàng
Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng. Và Phòng Báo
Chí do Thiếu Tá Tâm làm Trưởng Phòng. Với tổ chức và phương
thức điều hành của Nha Ðổng Lý, hầu như tất cả Văn
Thư của các Phòng Sở Bộ Tổng Tư Lệnh đều đến Phòng
Quân Sự Vụ để trình vào Trung Tướng Tổng Tư Lệnh. Về
tổ chức Nha Ðổng Lý, tôi nghĩ rằng, trong quân đội và
ngay cả trong phạm vi Bộ Tổng Tư Lệnh, rất ít sĩ quan biết
đến, vì đây là một tổ chức rất xa lạ với những sĩ
quan tham mưu hiểu biết về cơ cấu tổ chức trong quân đội.
Xin trở lại Văn Thư của Thủ Tướng
Phan Huy Quát. Nội dung nói lên sự bất đồng quan điểm giữa
Thủ Tướng với Quốc Trưởng về vấn đề thay đổi nhân
sự cấp Bộ trong chánh phủ. Vấn đề chưa kết thúc, bỗng
dưng Quốc Trưởng cho biết là ông từ chức. Như vậy, chánh
phủ cũng phải từ chức theo. Sau cùng, Thủ Tướng Quát yêu
cầu Hội Ðồng Quân Ðội, hãy nhân danh quân đội mà nhận
lãnh trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn cực kỳ
khó khăn hiện nay. Xin nói thêm là ngay sau cuộc Chỉnh Lý,
tổ chức đại diện quân đội vẫn sử dụng danh xưng là
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng như trước đó, đến tháng
11 năm 1964 thì tổ chức này cải danh là Hội Ðồng Quân Ðội.
Do văn thư đó, Hội Ðồng Quân
Ðội họp liên tục trong căn cứ Không Quân, và kết quả
là Hội Ðồng đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng
Phan Huy Quát. Ðể thực hiện trách nhiệm lãnh đạo quốc
gia, Hội Ðồng quyết định thành lập một tổ chức với
danh xưng "Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia" để lãnh đạo
theo nguyên tắc "Ủy Ban quyết định, những thành viên thi
hành". Thành viên Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia trên căn bản
theo chức vụ đương nhiệm trong quân đội là 11 vị, gồm:
- Chủ Tịch.
- Tổng Thư Ký.
- Thủ Tướng.
- Tổng Trưởng Quốc Phòng.
- Tổng Tham Mưu Trưởng.
- Tư Lệnh Hải Quân.
- Tư Lệnh Không Quân.
- Tư Lệnh Quân Ðoàn I, Tư Lệnh
Quân Ðoàn II, Tư Lệnh Quân Ðoàn III, và Tư Lệnh Quân Ðoàn
IV.
Sau cuộc tham khảo bầu chọn, kết
quả với các chức vụ như sau:
- Chủ Tịch: Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu.
- Tổng Thư ký: Trung Tướng Phạm
Xuân Chiểu.
- Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung
Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Thiếu
Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân.
- Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức
Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có. Thiếu
Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
- Các thành viên:
- Ðề Ðốc Trần Văn Chơn : Tư
Lệnh Hải Quân.
- Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi:
Tư Lệnh Quân Ðoàn I.
- Thiếu Tướng Vĩnh Lộc: Tư Lệnh
Quân Ðoàn II.
- Thiếu Tướng Cao Văn Viên: Tư
Lệnh Quân Ðoàn III.
- Thiếu Tướng Ðặng Văn Quang:
Tư lệnh Quân Ðoàn IV.
Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ gọi
nội các của ông là "nội các chiến tranh". Trong nội
các chiến tranh của ông có một Bộ mới thành lập, đó là
Bộ Xây Dựng Nông Thôn, và Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Thắng
được cử giữ chức Tổng Trưởng. Bộ này đáp ứng nhu
cầu bình định nông thôn trong chiến lược tách dân ra khỏi
sự kiểm soát của cộng sản. Nhớ lại sau cuộc đảo chánh
ngày 1 tháng 11 năm 1963, chánh phủ Nguyễn Ngọc Thơ rất lúng
túng với chính sách Ấp Chiến Lược thời Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm để lại. Với chánh phủ của Thủ Tướng Nguyễn
Cao Kỳ, chính sách Ấp Chiến Lược được phát triển đến
mức có một Bộ phụ trách, và Thiếu Tướng Nguyễn Ðức
Thắng được đánh giá là một Tướng Lãnh có khả năng,
nhiệt tâm, cương quyết, được xem là trong sạch, lãnh đạo
Bộ này (và những Ðoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn lần lượt
ra đời từ kế hoạch của Thiếu Tướng Thắng).
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia theo thành
phần nói trên là 11 vị, nhưng vì Tổng Trưởng Quốc Phòng
kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, nên thực tế là 10 thành viên.
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia chọn
ngày 19 tháng 6 năm 1965 ra mắt tân chánh phủ, với danh xưng
"Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương". Ðó cũng là ngày đánh dấu
Quân Ðội nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia. Cũng vì vậy
mà ngày 19 tháng 6 được Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia chọn
làm "Ngày Quân Lực". Còn "Quốc Khánh" vẫn giữ ngày 1 tháng
11 hằng năm.
Sau khi bàn giao chức vụ Tư Lệnh
Quân Ðoàn II xong, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có điện thoại
cho tôi:
"Anh Hoa, anh ở lại đó phụ tá
cho anh Tài nghe".
"Vâng. Cám ơn Thiếu Tướng".
"Anh phụ trách về hồ sơ công văn
của Bộ Tổng Tham Mưu, anh Tài (Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tài)
sẽ là chánh văn phòng và có những công tác đặc biệt. Bây
giờ anh chuẩn bị lễ bàn giao giữa Trung Tướng Minh với
tôi vào ngày 15 tháng 7 (năm 1965). Anh trình Trung Tướng Minh
rồi điện thoại cho tôi biết ngay".
"Tôi nghĩ là Thiếu Tướng nên nói
chuyện trực tiếp với Trung Tướng Minh thảo luận nhanh hơn,
thưa Thiếu Tướng".
"Anh trình với Trung Tướng Minh là
được rồi".
"Vâng. Tôi trình Trung Tướng Minh
và sẽ trình lại Thiếu Tướng sau".
Tôi vào trình cho chánh văn phòng
là Trung Tá Trần Văn Quiền (không phải tôi viết sai đâu
mà tên của ông là như vậy đó), Trung Tá Quiền bảo tôi
vào trình trực tiếp với Trung Tướng Minh. Tôi thi hành:
"Thưa Trung Tướng, Thiếu Tướng
Có từ Pleiku điện thoại về bảo tôi trình Trung Tướng là
ngày bàn giao chức vụ Tổng Tư Lệnh sẽ tổ chức vào ngày
15 tháng 7, thưa Trung Tướng".
Xin giải thích. Bộ Tổng Tham Mưu
do Trung Tướng Khánh cải danh thành Bộ Tổng Tư Lệnh, khi
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia hình thành thì Ủy Ban quyết định
sử dụng lại danh xưng Bộ Tổng Tham Mưu, trong lúc giao thời
này Thiếu Tướng Có gọi là Bộ Tổng Tham Mưu nhưng Trung
Tướng Minh vẫn gọi Bộ Tổng Tư Lệnh.
"Vous cứ nói với ông Có là ngày
nào cũng được. Hôm đó tôi mặc quân phục đại lễ".
"Vâng. Tôi sẽ trình lại Thiếu
Tướng Có như vậy".
Trung Tướng Trần Văn Minh (không
phải là Trung Tướng Trần Văn Minh mà sau này là Tư Lệnh
Không Quân, cũng không phải là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh,
Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô), thường dùng tiếng chữ "vous"
(Pháp ngữ) khi tiếp chuyện hay khi ra lệnh, lời của ông chậm
rãi, từ tốn, rõ ràng, chẳng mấy khi tôi thấy ông nổi giận.
Tôi điện thoại lên Pleiku:
"Thưa Thiếu Tướng, Trung Tướng
Minh đồng ý ngày bàn giao 15 tháng 7, và buổi lễ hôm đó
Trung Tướng Minh mặc quân phục đại lễ 4 túi".
"Không được. Anh trình với Trung
Tướng Minh là tôi mặc quân phục tác chiến. Mình đang trong
tình trạng chiến tranh mà".
Tôi vào trình Trung Tá Quiền, ông
vẫn bảo tôi vào trình Trung Tướng Minh.
"Thưa Trung Tướng, Thiếu Tướng
Có sẽ mặc quân phục tác chiến và Thiếu Tướng Có xin Trung
Tướng cũng mặc như vậy".
"Vous nói với Thiếu Tướng Có mặc
gì thì tùy ông ấy. Còn tôi, tôi sẽ mặc 4 túi".
Trình qua trình lại, cuối cùng thì
hai vị mặc quân phục theo ý riêng của mình. Một vị mặc
quân phục tác chiến màu xanh lá cây, một vị mặc quân phục
đại lễ màu trắng. Phải chăng vì Trung Tướng Minh đang Quyền
Tổng Tư Lệnh (chữ "quyền" đồng nghĩa với tạm thời),
một chức vụ mà ông thừa biết là Hội Ðồng Quân Ðội
dùng ông để tạm thời trám vào cái khoảng trống đó trong
khi tìm người chánh thức, nên ông không chấp nhận ảnh hưởng
của vị Tướng nào cả? Cũng có thể vì ông là vị Tướng
thâm niên, mà ông không sẵn lòng chịu sự ngang hàng với
vị Tướng cấp nhỏ mà lại ít thâm niên, cho dù lời yêu
cầu của Thiếu Tướng Có không có gì là kém trang trọng?
Rồi những trục trặc trong lễ
bàn giao ngày 15 tháng 7 năm 1965 tại võ đình trường Bộ Tổng
Tư Lệnh do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban
Lãnh Ðạo Quốc Gia, chủ tọa. Theo lễ nghi quân cách, quan
trọng nhất là lúc trao quân kỳ Bộ Tổng Tư Lệnh theo tuần
tự như sau:
- Thủ quân kỳ trao cho Trung Tướng
Trần Văn Minh.
- Trung Tướng Minh trao cho Trung Tướng
Nguyễn Văn Thiệu, biểu tượng cho trách nhiệm và quyền hạn
Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt từ
giờ phút này.
- Trung Tướng Thiệu, với tư cách
Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chủ tọa
buổi lễ, sau khi dõng dạc tuyên bố trao trách nhiệm cho Thiếu
Tướng Nguyễn Hữu Có từ giờ phút này, là ông trao quân
kỳ cho Thiếu Tướng Có, biểu tượng trách nhiệm và quyền
hạn của vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt
đầu từ giờ phút này.
- Thiếu Tướng Có với quân kỳ
trong tay, ông tuyên bố nhận trách nhiệm trước vị Tổng
Tư Lệnh Tối Cao và hứa sẽ hoàn thành trách nhiệm, rồi
trao quân kỳ lại "thủ quân kỳ".
Nhưng cái trục trặc rất ư là
kỳ cục lại xảy ra, vì Trung Tướng Minh không chịu nhận
quân kỳ từ tay của quân nhân "thủ quân kỳ", cho nên quân
nhân "thủ quân kỳ" phải ngập ngừng một lúc rồi bước
đến trao thẳng cho Trung Tướng Thiệu. Sự kiện này làm Trung
Tướng Thiệu phải mất vài chục giây ngỡ ngàng mới đưa
tay nhận. Lại thêm vài chục giây ngỡ ngàng nữa trước khi
ông tuyên bố trao quân kỳ cho Thiếu Tướng Có. Rõ ràng là
Trung Tướng Minh không tôn trọng lễ nghi quân cách, dù rằng
ông là vị Tướng rất thâm niên mà lại xuất thân từ trường
sĩ quan của quân đội Pháp. Quốc kỳ biểu tượng một quốc
gia, quân kỳ biểu tượng một đơn vị. Trong tất cả quân
kỳ thì quân kỳ Bộ Tổng Tư Lệnh là cao nhất vì đó là
biểu tượng của một quân đội, nhưng hôm nay -ngày 15 tháng
7 năm 1965- quân kỳ Bộ Tổng Tư Lệnh được bàn giao như
vậy đó! Là một quân nhân, tôi cảm nhận một nỗi buồn!
Giao nhận xong, Bộ Tổng Tư Lệnh
trở lại với danh xưng "Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa". Giải tán Nha Ðổng Lý và tổ chức lại "văn
phòng Tổng Tham Mưu Trưởng" như trước. Thiếu Tá Nguyễn
Hữu Tài giữ chức Chánh văn phòng, tôi phụ tá cho anh.
Nhận chức xong, ngoài công tác ở
bàn giấy và những lần đi thăm các đại đơn vị, Thiếu
Tướng Có cho xây tấm vách chắn ngang "cây đòn dông" của
Trung Tâm Hành Quân, theo đường thẳng tưởng tượng chỉa
thẳng vào giữa văn phòng ông Tổng Tham Mưu Trưởng. Cũng
vì "cây đòn dông" này mà khi Trung Tướng Trần Thiện Khiêm
nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng
vào ngày 31 tháng 1 năm 1964, bà Khiêm bảo tôi nhờ người
treo cái kính soi mặt thật lớn dóng hướng và treo lên đó,
nhằm làm cho "cây đòn dông" nếu kéo dài theo đường thẳng
tưởng tượng sẽ đụng vào tấm kiếng mà "không vào" bên
trong được. Và việc thứ hai là Thiếu Tướng Có cho dời
hai ngôi mộ của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông cố
vấn Ngô Ðình Nhu ra nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi, nơi đã dự
trù hạ huyệt ngày 5 tháng 11 năm 1963 nhưng đã không thực
hiện được. Thiếu Tướng Có cho rằng, "cây đòn dông và
hai ngôi mộ" đã là những điều không may cho Bộ Tổng Tham
Mưu trong thời gian qua. Ðúng hay không thì sau đó mới rờ,
nhưng có điều là thêm một vị Tướng mang cả lòng tin về
tướng số, tử vi, địa lý vào chức vụ cao nhất của quân
đội.
Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có kiêm
nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng đúng 3 tháng. Ngày 15
tháng 10 năm 1965, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu lại chủ tọa
buổi lễ Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có bàn giao chức vụ Tổng
Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên.
Xin nhắc lại, Thiếu Tướng Viên
sau khi bàn giao chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân, lên Biên
Hòa nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn
cùng các đơn vị trực thuộc, di chuyển từ trại Lê Văn
Duyệt, Quận 3 Sài Gòn, lên đồn trú ở Biên Hòa sau cuộc
Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964. Nay, Thiếu Tướng Viên trở
lại Bộ Tổng Tham Mưu với chức vụ cao hơn trước.
Từ sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng
11 năm 1963, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng đã lần lượt
trong tay 6 vị "Nguyên Soái" mà trong đó 4 lần không có bàn
giao, 1 lần bàn giao không đúng lễ nghi quân cách. Và ngày
15 tháng 10 năm 1965 là lần bàn giao thứ 6. Lễ bàn giao tuy
mức độ trang trọng không đạt đúng chức vụ đứng đầu
quân đội, nhưng giao nhận đàng hoàng. Lần thứ nhất, Trung
Tướng Trần Văn Ðôn nhận chức ngày 2 tháng 11 năm 1963 sau
khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ và bị giết
chết. Lần thứ hai, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức
ngày 31 tháng 1 năm 1964 sau khi Trung Tướng Trần Văn Ðôn bị
bắt. Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức ngày
8 tháng 10 năm 1964 sau khi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu
vong ngày hôm trước (7/10/1964). Lần thứ tư, Trung Tướng Trần
Văn Minh, nhận chức ngày 26 tháng 2 năm 1965 sau khi Ðại Tướng
Nguyễn Khánh lưu vong ngày hôm trước (25/2/1965). Lần thứ
năm (15/7/1965), Trung Tướng Minh bàn giao cho Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có không đúng lễ nghi quân cách. Và lần thứ sáu là
ngày 15 tháng 10 năm 1965 này, bàn giao giữa Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có với Thiếu Tướng Cao Văn Viên, đúng lễ nghi quân
cách.
Chưa tròn 2 năm mà thay đổi 5 vị
Tổng Tham Mưu Trưởng, và Thiếu Tướng Cao Văn Viên là vị
Tổng Tham Mưu Trưởng thứ 6. Nếu đem thời gian chia đều
thì mỗi vị chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng có bốn
tháng rưỡi, thử hỏi làm sao xây dựng được chiến lược
chiến thuật thích ứng với mọi biến chuyển của tình hình
để quân đội nắm quyền chủ động trên chiến trường,
trong khi tình hình quân sự ngày càng đẫm máu với những
trận đánh cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn. Từ ngày quân bộ chiến
Hoa Kỳ và Ðại Hàn trực tiếp tham chiến, một số Sư Ðoàn
của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta gần như tập trung
vào những cuộc hành quân yểm trợ bình định nông thôn chung
quanh các thành phố thị trấn, ngoại trừ lực lượng của
Quân Ðoàn IV vùng đồng bằng Cửu Long là vẫn trong thế chủ
động, vì vùng này chỉ có căn cứ của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh
Hoa Kỳ ở Mỹ Tho, và Sư Ðoàn này chỉ giới hạn hoạt động
ở bờ bắc sông Tiền (hay Tiền Giang) thôi.
Nếu cứ cái đà tranh giành như
thế này hoài thì bất cứ vị Tướng vị Tá nào có tính
liều mạng hay bốc đồng, cũng có thể lên cầm quyền chơi
mỗi người mấy tháng nếu được vài đơn vị ủng hộ.
Ðể rồi khi bị đẩy ra khỏi chiếc ghế lãnh đạo cũng
còn hi vọng vớt vát cái chức "Ðại Sứ tại chỗ" hoặc
"Ðại Sứ lưu động" chớ có thua thiệt gì đâu. Sự thua
thiệt là ở những ai tha thiết với tổ quốc dân tộc, và
hơn nửa triệu quân nhân dưới cờ là thua thiệt nhất, vì
ngày đêm Họ miệt mài với chiến trận để ngăn chận quân
cộng sản xâm lăng, trong khi trung ương thì thường xuyên trong
tình trạng rối ren do giành giựt!
Nhận bàn giao xong, Thiếu Tướng
Cao Văn Viên cho dọn sang văn phòng mới vừa xây dựng xong,
và kiến trúc này do Trung Tướng Khánh cho khởi công từ tháng
cuối năm 1964. Thiếu Tướng Viên có quyết định dọn ngay
trong ngày bàn giao, một phần cũng vì Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có không chịu dời văn phòng của ông sang Bộ Quốc Phòng.
Ðây cũng là một hành động kỳ cục của Thiếu Tướng Có.
Ông có hai chức vụ mà cả hai chức vụ đều thuộc loại
nhất nhì đối với quân đội, và sau khi bàn giao cho Thiếu
Tướng Viên chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng, ông còn lại
chức Tổng Trưởng Quốc Phòng chớ có phải "ngồi chơi xơi
nước" đâu mà ông lại tranh chỗ ngồi của ông Tổng Tham
Mưu Trưởng mới nhận chức do chính ông bàn giao. Ðiều kỳ
cục này dẫn đến sự cãi cọ giữa hai phu nhân của hai vị
Tướng. Tuy chưa phải là lớn chuyện, nhưng cũng là "thành
tích chẳng đáng khuyến khích" chút nào trong ngũ lãnh đạo!
Tôi, với chức vụ phụ tá chánh
văn phòng khi Thiếu Tướng Có là Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi
chuẩn bị bàn giao cho Thiếu Tá Vĩnh Thái vì tôi phụ trách
toàn bộ hồ sơ văn phòng, còn Thiếu Tá Thái là chánh văn
phòng Tư Lệnh Quân Ðoàn III, theo Thiếu Tướng Viên về Bộ
Tổng Tham Mưu. Trong lúc chúng tôi giao nhận từng thành phần
hồ sơ nhất là hồ sơ xếp vào loại mật và tối mật mà
tôi giữ trong tủ sắt ngay sau lưng tôi, Thiếu Tướng Cao Văn
Viên bước vào:
"Chú Hoa không bàn giao gì hết. Tôi
cử chú vào chức vụ chánh văn phòng. Còn chú Thái sẽ nhận
nhiệm vụ khác".
Thật ra thì hai ngày trước đó,
bà Cao Văn Viên có điện thoại tôi:
"Chú Hoa, Thiếu Tướng cử chú làm
chánh văn phòng đó nghe".
"Còn anh Vĩnh Thái thì sao Chị? Em
ngại sẽ mích lòng với anh ấy".
"Chú không lo. Thiếu Tướng nói
chú Thái thuyên chuyển sang Bộ Quốc Phòng".
"Vậy thì em nhận, và cám ơn Chị".
Sau đó, Thiếu Tá Vĩnh Thái được
cử vào chức vụ Tùy Viên Quân Sự tại tòa đại sứ Việt
Nam Cộng Hòa ở Ðại Hàn Dân Quốc.
Thiếu Tá Vĩnh Thái, năm 1960 đang
dạy tại Trường Sinh Ngữ Quân Quân Ðội. Sau ngày 11 tháng
11 năm 1960, thuyên chuyển sang Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, giữ chức
chánh văn phòng Tư Lệnh mà lúc đó Ðại Tá Viên vừa nhận
chức Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù. Lần lượt theo Thiếu Tướng
Viên về văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, rồi lên Quân
Ðoàn III. Vì gắn bó như vậy mà tôi rất thận trọng không
dám nhận lời khi Thiếu Tướng Viên điện thoại cho tôi trước
khi bà Viên giải thích. Anh Thái cũng là người thường đến
Viện Ðại Học nhận giùm bài học đem về cho Thiếu Tướng
Viên, đang là sinh viên của Ðại Học Văn Khoa. Tôi nghĩ, việc
Thiếu Tướng Viên cử tôi vào chức vụ chánh văn phòng, rất
có thể là do tôi quen việc nơi đây, cũng có thể là ông
nghĩ đến ngày 1 tháng 11 năm 1963 khi tôi nhận trách nhiệm
đưa ông từ "phòng tạm giữ" lên ngồi trong văn phòng tôi.
Thật ra thì lúc bấy giờ hành động của tôi chỉ nhằm giúp
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm (cấp bậc đến ngày 1/11/1963),
tránh được điều khó xử với bạn của ông thôi.
Vậy là tôi với Ðại Úy Nguyễn
Hữu Có, trước đây là chánh văn phòng và tùy viên của Ðại
Tướng Trần Thiện Khiêm, nhưng giữa năm 1964 Ðại Úy Có
thuyên chuyển sang Nhẩy Dù làm sĩ quan tùy viên cho Thiếu Tướng
Cao Văn Viên. Bây giờ, sau hơn một năm, hai chúng tôi ráp lại
trong chức vụ chánh văn phòng và tùy viên của Thiếu Tướng
Tổng Tham Mưu Trưởng.
Ngày 1 tháng 11 năm 1965, Quốc Khánh
Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng Cao Văn Viên được thăng
cấp Trung Tướng. Cùng thăng cấp Trung Tướng với ông còn
có nhiều vị nữa, và trong số đó có Thiếu Tướng Nguyễn
Hữu Có, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Thiếu Tướng Ðặng
Văn Quang.
Tháng sau đó, tôi được thăng cấp
Trung Tá.
Trung Tướng Cao Văn Viên có vóc
dáng cao lớn, thường luyện tập Yoga, với bộ quân phục
nhẩy dù, trông ông rất khỏe mạnh. Ông có đủ dáng vẻ
của vị Tướng chiến trường. Trung Tướng Viên rất xông
xáo, thường đến thăm các đơn vị nhất là các đơn vị
đồn trú và hoạt động Vùng I Chiến Thuật và Vùng II Chiến
Thuật.
Từ giữa năm 1965 là thời gian bắt
đầu và dồn dập có nhiều đơn vị Ðồng Minh -nhất là
Hoa Kỳ- lần lượt đổ quân vào Việt Nam. Trung Tướng Viên
thường được cử thay mặt Chánh Phủ và nhân danh Tổng Tham
Mưu Trưởng, có mặt tại các địa điểm đổ bộ để chào
đón quân bạn. Ðơn vị đầu tiên mà Trung Tướng Viên chào
đón kể từ sau ngày nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng, là
Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Chu Lai, còn gọi
là vịnh Dung Quất.
Vậy là Hoa Kỳ đã thực hiện được
mục tiêu chiến lược của họ, "chiến lược Domino" mà trong
thực tế là những căn cứ quân bộ chiến của Hoa Kỳ trải
dài như những mắt xích nối liền nhau từ Ðại Hàn xuống
Nhật Bản, sang Ðài Loan, Phi Luật Tân, đến Việt Nam Cộng
Hòa, và Thái Lan. Những căn cứ này là những nơi xuất phát
lực lượng Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, có khả năng
ngăn chận chiến tranh xâm lược của cộng sản tấn công
các quốc gia trong vùng Ðông Nam và Ðông Bắc Á Châu. Quân
Lực Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương, được trang bị nhiều
loại vũ khí tối tân mới được sử dụng lần đầu tiên
trên chiến trường Việt Nam. Thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm,
Hoa Kỳ đã nỗ lực thuyết phục Tổng Thống Diệm, nhưng
đã bị Tổng Thống Diệm khước từ một cách cứng rắn.
Xin mở ngoặc để nói đến cuộc
phỏng vấn ngày 18 tháng 10 năm 2003, giữa ông Hồng Phúc của
đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại từ Washington DC, với ông
Bùi Tín cựu Ðại Tá quân đội cộng sản từ Paris. Khi ông
Hồng Phúc yêu cầu ông Bùi Tín cho một quan điểm như là
so sánh giữa Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông Hồ Chí
Minh. Ông Bùi Tín nói rằng, theo quan điểm của ông thì ông
Ngô Ðình Diệm (ông Bùi Tín không dùng chữ chức vụ Tổng
Thống) yêu nước thật sự vì sau khi nhận chức Thượng Thư
Bộ Lại khoảng 4 tháng thì từ chức vì Toàn Quyền Pháp tự
ý sửa đổi Hòa Ước 1884 đặt Trung Kỳ dưới quyền bảo
hộ của Pháp như Bắc Kỳ. Ông Diệm thông minh hơn ông Hồ,
đạo đức hơn ông Hồ, trong sạch hơn ông Hồ, chỉ riêng
cái quyết định không bằng lòng cho Hoa Kỳ sử dụng cảng
Cam Ranh, ông Diệm đã nói rằng "nếu để một mảnh đất
vào tay Hoa Kỳ, sau này khi có hiệp thương giữa hai miền Nam
Bắc thì ông phải giải thích như thế nào với đồng bào."
Câu này do Vũ Ngọc Nhạ thuật lại cho ông Bùi Tín nghe sau
ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, và ông ta gặp
lại Bùi Tín ngay trong dinh Ðộc Lập. Vũ Ngọc Nhạ, là một
cán bộ tình báo cao cấp được lãnh đạo cộng sản Việt
Nam cài vào Phủ Tổng Thống (Việt Nam Cộng Hòa) với chức
vụ cố vấn của Tổng Thống. Xin đóng ngoặc.
Nhân lễ Giáng Sinh 1965, Trung Tướng
Viên chỉ thị tôi tổ chức buổi tiếp tân trọng thể ngay
tại võ đình trường trước tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu.
Khách mời:
- Ngoại quốc, gồm: Các vị trong
Ngoại Giao đoàn, kể cả các vị Tùy Viên quân sự. Các vị
Tư Lệnh lực lượng Ðồng Minh đang có mặt trên lãnh thổ
Việt Nam Cộng Hòa, các đơn vị trưởng cùng các sĩ quan tham
mưu trực thuộc lực lượng này.
- Nội bộ, gồm: Các vị trong Chánh
Phủ, trong Quốc Hội. Tất cả các vị Tướng Lãnh đang phục
vụ tại thủ đô và lân cận, các vị Chỉ Huy Trưởng binh
chủng, Tổng Cục Trưởng, Cục Trưởng, và các sĩ quan cao
cấp phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa. Tổng số gần 500 vị.
Ðây là lần đầu tiên các cấp
chỉ huy lực lượng Ðồng Minh, gồm: Ðại Hàn, Phi Luật Tân,
Tân Tây Lan, Úc Ðại Lợi, Thái Lan, và Hoa Kỳ, với các cấp
chỉ huy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có cơ hội tiếp
xúc tìm hiểu nhau về cá nhân cũng như về kiến thức quân
sự. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn
Cao Kỳ đều có mặt. Chương trình tổng quát với lời chúc
Giáng Sinh ngắn gọn của Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham
Mưu Trưởng, của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, và của Thiếu Tướng Nguyễn Cao
Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Tiếp đó là chương
trình văn nghệ với những bài hát Giáng Sinh bằng tiếng Anh
và tiếng Việt. Buổi tiếp tân diễn ra trong bầu không khí
thân hữu và trang trọng.
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, là hai vị lãnh đạo cao nhất
của đất nước. Trải qua thời gian cầm quyền, tôi nghĩ
là những ai quan tâm đến thời sự quốc gia quốc tế, dễ
dàng nhận thấy rằng: về chức vụ thì Trung Tướng Thiệu
cao hơn nhưng Thiếu Tướng Kỳ lại được đồng bào trong
nước cũng như nhiều nhân vật quốc tế biết đến nhiều
hơn. Trung Tướng Thiệu thì trầm ngâm, sâu sắc, chỉ xuất
hiện khi cần thiết. Thiếu Tướng Kỳ thường tuyên bố điều
này điều khác, đôi khi ông tuyên bố tùy hứng mà không cần
biết điều đó có thực hiện được hay không. Nói cách khác,
Thiếu Tướng Kỳ không có cái sâu sắc trong địa vị chính
trị của ông, nhưng trong một chừng mực nào đó, ông lại
là nhân vật có vẻ thích ứng với vai trò của ông, vai trò
một Thủ Tướng có cá tính "bốc đồng" trong giai đoạn chiến
tranh lúc ấy. Phải chăng đó là chính sách của Hoa Kỳ? Nhìn
chung thì Trung Tướng Thiệu với Thiếu Tướng Kỳ, không hợp
nhau từ bản chất cá nhân, nhưng lại là một cặp lãnh đạo
đất nước! Thật ra trong thuật lãnh đạo, trong hàng lãnh
đạo rất cần những quan điểm trái ngược, nhưng là trái
ngược trong tinh thần thúc đẩy phát triển quốc gia chớ
không phải trái ngược trong mục đích đả phá nhau do tinh
thần cá nhân hay phe nhóm. Vậy, quí vị quí bạn nhìn Trung
Tướng Nguyễn Văn Thiệu với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ
như thế nào? Xin hiểu là nhìn lại để rút ra bài học kinh
nghiệm cho mai sau, chớ không phải nhìn lại để chỉ trích
cá nhân, thậm chí là kết án.
Dư luận trong giới chính trị cũng
như trên báo chí quốc nội quốc tế, khi nói đến những
vị lãnh đạo quốc gia của chúng ta thường nhắc đến "bộ
ba" gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn
Cao Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, tức Quốc Trưởng
+ Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng. Theo tôi, con người
của Trung Tướng Có không có nét nào hợp với Thiếu Tướng
Kỳ, cũng không trầm ngâm như Trung Tướng Thiệu. Ông không
có tính xốc nổi nhưng cũng không sâu sắc, ông rất hăng
say trong trách nhiệm lãnh đạo Quốc Phòng, nhưng dường như
kiến thức tổng quát cũng như kiến thức quân sự có những
giới hạn, nên không có gì đặc biệt ở cương vị của
ông trong nội các chiến tranh. Tôi nghĩ, những công việc có
tính cách điều hành của Bộ Quốc Phòng cũng như Bộ Tổng
Tham Mưu, thích hợp với ông hơn là những vấn đề chiến
lược chiến thuật.
Về cấp hiệu sĩ quan mà Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm qui định từ đầu năm 1956 (hay 1957?), thay
thế cấp hiệu của Pháp (mà quân đội quốc Gia Việt Nam
áp dụng khi mới thành lập) là cấp Úy biểu tượng bằng
bông mai vàng và cấp Tá là bông mai trắng trên cổ áo hoặc
trên mũ lưỡi trai. Nhưng vì kỹ thuật của các nhà sản xuất
chưa hoàn hảo nên màu sắc không chính xác giữa trắng với
vàng, nhất là thời gian sử dụng càng lâu thì màu sắc càng
dễ gây lầm lẫn. Chẳng hạn như một Ðại Úy với cấp
hiệu 3 bông mai vàng với một Thiếu Tá cấp hiệu một bông
mai trắng đi ngược chiều nhau, nhưng vì màu sắc trên bông
mai vàng phai mờ nên ông Thiếu Tá tưởng lầm ông Ðại Úy
đi ngược chiều là Ðại Tá, băn đưa tay chào cho dẫu có
thắc mắc không biết có phải Ðại Tá hay không vì trông
trẻ quá. Vì vậy mà Trung Tướng Nguyễn Hữu Có quyết định
cấp hiệu của sĩ quan cấp Tá được gắn thêm một vạch
ngang phía dưới bông mai trắng để dễ phân biệt giữa cấp
Úy với cấp Tá. Thế nhưng, lúc bấy giờ có dư luận cho
rằng, Trung Tướng Có được các nhà sản xuất các loại
huy hiệu cấp hiệu quân đội, lo lót một khoản tiền để
ông đưa ra quyết định như vậy, vì tất cả sĩ quan cấp
Tá đều phải mua cấp hiệu mới theo mẫu đó, và dĩ nhiên
là các nhà sản xuất thu được khoản tiền lời lớn. Ðúng
hay sai thì tôi không rõ, nhưng có điều chắc chắn là qui
định này đã giúp cho sự dễ nhận giữa cấp Úy với cấp
Tá. Tôi nghĩ, đây là một quyết định đúng.
Nhân vụ cấp hiệu này xin nói thêm
về nhiều loại huy chương được thiết lập trong thời gian
Trung Tướng Nguyễn Khánh cầm quyền, trong mục đích tạo
điều kiện thuận lợi cho các sĩ quan tham mưu và sĩ quan chuyên
môn, được tưởng thưởng thích hợp và nhiều huy chương
hơn để đeo trên ngực áo trong những lễ hội, những lần
đón tiếp các phái đoàn quân sự ngoại quốc, hoặc du học
du hành ngoại quốc. Trung Tướng Khánh có sáng kiến này là
vì có một vị Tướng (dường như là Thiếu Tướng Nguyễn
Ðức Thắng) khi xuất ngoại, trên ngực áo chỉ có 3 huy chương
cuống trông thật là "đơn côi" và làm cho vị Tướng có vẻ
"yếu đi" mặc dù ông có vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh.
Về cách giải quyết công văn tại
văn phòng, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm với Ðại Tướng
Cao Văn Viên có cùng thận trọng như nhau, nhưng Ðại Tướng
Viên có phần nhanh hơn. Ðại Tướng Nguyễn Khánh cũng nhanh
nhưng mức độ thận trọng không bằng hai vị Tướng nói
trên. Trung Tướng Trần Văn Minh thì chỉ làm việc cho hết
giờ. Trung Tướng Nguyễn Hữu Có thì thận trọng quá đáng
nên có phần chậm chạp. Xông xáo đi thăm các đơn vị tại
mặt trận hoặc các đơn vị đang công tác đặc biệt, Ðại
Tướng Viên và Ðại Tướng Khánh như nhau, Trung Tướng Có
cũng gần như vậy, Ðại Tướng Khiêm thì thỉnh thoảng, còn
Trung Tướng Minh thì không có gì để so sánh. Ðại Tướng
Khánh, trong hơn một năm cầm đủ thứ quyền trong tay, là
thời gian nhiều xáo trộn chính trị, thế nhưng ông đã dành
thì giờ để đến với nhiều đơn vị, đó là điều ghi
nhận tốt. Ông là vị Tổng Tư Lệnh duy nhất cho mang theo
công văn để ông làm việc trên phi cơ trong khi đi thăm đơn
vị, nhưng ông cũng là vị Tổng Tư Lệnh kỳ cục nhất khi
bất đồng quan điểm với ông Ðại Sứ Hoa Kỳ thì tự dời
văn phòng làm việc cách xa Bộ Tổng Tư Lệnh hằng trăm cây
số (từ tháng 6 năm 1965, Bộ Tổng Tư lệnh mới trở lại
danh xưng Bộ Tổng Tham Mưu) .
Về mối liên hệ tình cảm trong
công tác, Trung Tướng Viên nghiêng về Thiếu Tướng Kỳ hơn
là Trung Tướng Thiệu, dù rằng Trung Tướng Thiệu chức vụ
cao hơn Thiếu Tướng Kỳ. Phải nhận rằng, Thiếu Tướng
Kỳ tuy cá tính xốc nổi nhưng dám nói dám làm, dù là làm
được lẫn làm không được, nhưng được sự ủng hộ của
số đông chiến hữu và đồng bào, nhưng những nhà hoạt
động chính trị thì không ủng hộ ông. Lực lượng có khả
năng trực tiếp tham gia đảo chánh là Nhẩy Dù và Thủy Quân
Lục Chiến thì đứng về phía Thiếu Tướng Khang và Trung
Tướng Viên, nên Thiếu Tướng Kỳ có thế đứng vững hơn
những Thủ Tướng trước ông. Trong những lúc nói chuyện
với tôi và sĩ quan tùy viên, Trung Tướng Viên thường tỏ
ra ca ngợi Thiếu Tướng Kỳ và không hề nhắc đến Trung
Tướng Thiệu dù Trung Tướng Thiệu đang là Quốc Trưởng.
Trung Tướng Viên cho rằng, trong số những khuôn mặt hiện
nay (năm 1965-1966) thì Thiếu Tướng Kỳ là người thích hợp
hơn hết.
Trong năm 1965 và đầu năm 1966, sinh
hoạt ở trung ương tương đối yên ắng, tuy phần lớn trong
giới chính trị lão thành cũng như giới thân hào nhân sĩ
tỏ ra không ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ. Tôi căn cứ vào những
báo cáo mật của Tổng Nha Cảnh Sát thông báo cho Tổng Tham
Mưu Trưởng mà ghi nhận như vậy. Trong hệ thống điều hành
thông thường, chẳng có qui định nào buộc Cảnh Sát phải
thông báo những tin tức về các hoạt động chính trị cho
Bộ Tổng Tham Mưu cả, nhưng có thể là do mối liên hệ mật
thiết giữa Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ -Thủ Tướng- với
Trung Tướng Cao Văn Viên -Tổng Tham Mưu Trưởng- mà hậu thuẫn
của Trung Tướng Viên là lực lượng Nhẩy Dù và Thủy Quân
Lục Chiến để chống đảo chánh, nên Tổng Giám Ðốc Cảnh
Sát -rất được Thiếu Tướng Kỳ tin cậy- mới có những
thông báo như vậy. Ngay sau ngày Thiếu Tướng Viên (hai tuần
sau đó ông mới thăng cấp Trung Tướng) nhận chức Tổng Tham
Mưu Trưởng, Ðại Tá Ngô Quang Trưởng -dường như lúc bấy
giờ ông là Tư lệnh Phó Nhẩy Dù- đến văn phòng tôi, ông
nói:
"Anh Hoa, để kịp thời đối phó
với những biến động quân sự về phía nội bộ, bất cứ
là giờ nào trong ngày nếu như anh thấy có điều gì nghi ngờ
về một cuộc đảo chánh hay tương tự như vậy, thì anh báo
tin cho tôi ngay, vì lúc nào tôi cũng có một đơn vị túc trực
tại căn cứ Hoàng Hoa Thám (tên doanh trại của Lữ Ðoàn Nhẩy
Dù, khỏi ngã tư Bảy Hiền, trên đường Sài Gòn-Tây Ninh)"
Khi tôi bổ túc đoạn ngắn này
thì cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã từ trần. Xin cắm
nén hương tưởng nhớ đến Ông, một Tướng Lãnh khi xuôi
tay yên nghỉ, nhận được lòng ngưỡng mộ và thương cảm
của hầu hết các thành phần trong Cộng Ðồng Việt Nam Tị
Nạn cộng sải tại hải ngoại!
Ðiều làm cho các vị Tướng lãnh
đạo ở trung ương nói chung và Thiếu Tướng Kỳ nói riêng,
lo ngại là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn
I kiêm Ðại Biểu Chánh Phủ tại Trung Phần, về những lời
tuyên bố cùng một số hành động của ông có tính cách trái
ngược với trung ương nếu không nói là chống lại trung ương.
Xin nhắc lại. Ðại Tá Nguyễn Chánh
Thi, sau hơn 2 năm lưu vong trên vương quốc Cam-Bốt, được
Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng sau cuộc lật đổ và giết
chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đón về, lần lượt thăng
cấp Thiếu Tướng, rồi Trung Tướng, và hai lần thăng cấp
này hoàn toàn không do công trạng trong chiến trận.
Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi là
người có tính bộc trực, thẳng tính, và nóng tính. Buổi
sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964, ngay trong sân nhà Trung Tướng
Khánh, trong lúc có nhiều sĩ quan quanh quẩn ở đó để theo
dời tin tức về cuộc "Chỉnh Lý", Trung Tướng Thi lúc đó
là Ðại Tá, đã bạt tai Thiếu Tá Nguyễn Huy Lợi với tất
cả sự nóng giận của ông. Hỏi ra tôi mới biết là trong
thời gian lưu vong, Thiếu Tá Lợi cũng như các bạn cùng lưu
vong, đã khinh thường ông vì ông không làm ra tiền mà trông
chờ vào sự "chạy gạo" của các sĩ quan cấp nhỏ hơn ông
trong nhóm lưu vong. Chắc vì vậy mà ông bạt tai cho hả giận,
và chắc cũng để tỏ ra là ông đã qua thời xuống chó và
đang thời lên voi chăng?
Trong thời gian Trung Tướng Khánh
bắt đầu có khoảng cách với Ðại Tướng Khiêm, rồi khoảng
cách đó ngày càng rộng và sâu thêm, cho đến một ngày khoảng
cách đó rộng bằng cả Ðại Tây Dương thì Ðại Tướng
Khiêm bị đẩy sang bên kia bờ phía tây gọi là thăm vài nước
Châu Âu, thì những vị Tướng thân thiết nhau như: Thiếu
Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng
Nguyễn Chánh Thi, và Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang (1964), có
vẻ như không can dự gì vào chuyện giữa Trung Tướng Nguyễn
Khánh với Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cả. Nhưng tôi không
rõ là bắt nguồn từ nguyên nhân nào mà Trung Tướng Thi (1966)
lại tách ra khỏi nhóm đó, và tách ra từ lúc nào nữa. Chỉ
biết là khi Trung Tướng Thi chống đối trung ương trở nên
công khai đến mức báo chí đăng tải, thì lúc đó Trung Tướng
Thi đang là Tư Lệnh Quân Ðoàn I tại Ðà Nẳng. Xin giải thích:
tôi chỉ nói đến những vị Tư lệnh có quân có quyền trong
tay và có khả năng đảo chánh lẫn chống đảo chánh thôi.
Xin nói đến Ngày Quân Lực.
Khi Hội Ðồng Quân Ðội nhận trách
nhiệm Lãnh đạo quốc gia theo yêu cầu của Thủ Tướng Phan
Huy Quát, và thành lập Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia với Ủy
Ban Hành Pháp Trung Ương, và chọn ngày 19 tháng 6 năm 1965 ra
mắt quốc dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Từ đó, Ủy
Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định chọn ngày 19 tháng 6 hằng
năm làm Ngày Quân Lực. Và Ngày Quân Lực 19 tháng
6 đầu tiên được tổ chức trọng thể vào ngày 19 tháng
6 năm 1966. Ngày Quân Lực đầu tiên nói ở đây là Ngày Quân
Lực 19 tháng 6, nhưng thật ra còn một Ngày Quân Lực đã được
chọn và tổ chức trước đó nữa.
Ðó là Ngày Quân Lực 30 tháng
1. Chuyện như thế này. Xin nhắc đến cuộc Chỉnh Lý ngày
30 tháng 1 năm 1964 do Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm, và Ðại Tá Cao Văn Viên, lãnh đạo lật
đổ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng của Trung Tướng Dương
Văn Minh, và thành công. Nhưng sau khi Trung Tướng Khánh công
bố bản Hiến Chương tại Vũng Tàu, liên tiếp những cuộc
mít tinh biểu tình cáo giác Trung Tướng Nguyễn Khánh là độc
tài, từ đó Trung Tướng Khánh cho rằng Ðại Tướng Khiêm
đứng đằng sau những vụ đó. Thế là Trung Tướng Khánh
đẩy Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong (7 tháng 10 năm
1964). Và rồi Trung Tướng Khánh quyết định chọn ngày 30
tháng 1 làm Ngày Quân Lực.
Ngày Quân Lực 30 tháng 1 được
tổ chức vào tối 30 tháng 1 năm 1965, trên sân thượng câu
lạc bộ Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Ðổng Lý Văn Phòng Tổng Tư Lệnh,
chỉ thị tôi Trưởng Phòng Quân Sự Vụ, và Thiếu Tá Hoàng
Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng Dân Sự Vụ,
trách nhiệm tổ chức.
Tham dự Ngày Quân Lực 30 tháng 1
năm 1965, gồm: quí vị trong Chánh Phủ, quí vị Tướng Lãnh,
quí vị trong Ngoại Giao đoàn, các đơn vị trưởng trong Quân
Trấn Sài Gòn, và sĩ quan cao cấp phục vụ tại Bộ Tổng
Tư Lệnh. Ngày Quân Lực 30 tháng 1 được tổ chức hôm ấy
là lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất.
Tôi nghĩ rằng, "Ngày Quân Lực tổ
chức ngày 30 tháng 1 năm 1965" rất ít người biết đến, vì
không có văn kiện ban hành, cũng không phổ biến bất cứ
hình thức nào, Trung Tướng Khánh chỉ ra lệnh ngang qua Thiếu
Tướng Vỹ, chúng tôi gởi thư mời, và tiến hành tổ chức
thôi. Chương trình buổi lễ rất đơn giản như một buổi
tiếp tân ngoài trời. Không diễn văn dài dòng, cũng không
một ai phát biểu. Chỉ sau một diễn văn ngắn gọn của Trung
Tướng Khánh là vào tiệc, với chương trình văn nghệ rất
đông nghệ sĩ tân nhạc nổi tiếng của Sài Gòn lúc ấy trình
diễn.
Nhân đây cũng xin nói thêm về những
ngày khác, nếu như trước ngày 19 tháng 6 năm 1966 mà có cuộc
thăm dò ý kiến trong quân đội thì tôi nghĩ, những ngày sau
đây có thể được chọn là Ngày Quân Lực, như: ngày 1 tháng
1, ngày 1 tháng 5, hay ngày 1 tháng 7.
Ngày 1 tháng 1. Trong cuộc chiến
giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản 1945-1954, chánh
phủ Pháp ước tính không thể dẹp tan đối phương trong thời
gian 6 tháng như Cao Ủy Pháp tại Ðông Dương đã từng tuyên
bố, nên sử dụng chính sách dùng người Việt không cộng
sản đánh nhau với người Việt cộng sản, bằng quyết định
thành lập một số Tiểu Ðoàn Việt Nam và những đơn vị
nhỏ hơn, dưới quyền chỉ huy của Pháp. Ðầu tiên là Chi
Ðội Thám Thính của binh chủng Thiết Giáp thành lập ngày
1 tháng 1 năm 1951. Lần lượt sau đó, một vài đơn vị đầu
tiên là:
Ngày 1 tháng 2 năm 1951: một đơn
vị Truyền Tin.
Ngày 1 tháng 5 năm 1951: một đơn
vị Không Quân.
Cùng ngày 1 tháng 5 năm 1951: một
đơn vị Quân Vận.
Ngày 1 tháng 8 năm 1951: một đơn
vị Nhẩy Dù.
Ngày 1 tháng 9 năm 1951: một đơn
vị Công Binh.
Ngày 1 tháng 11 năm 1951: một đơn
vị Pháo Binh.
Ngày 1 tháng 3 năm 1952: một đơn
vị Hải Quân.
Trong nét nhìn nào đó, những đơn
vị Việt Nam đủ tiêu biểu cho Hải Lục Không Quân nhưng
quá đỗi khiêm nhường, ngoại trừ Lục Quân có một số
đơn vị khả dĩ có khả năng "đánh tay đôi" với quân Việt
Minh cộng sản.
Như vậy, ngày 1 tháng 1, là ngày
mà đơn vị đầu tiên của Việt Nam được thành lập, dù
rằng đơn vị này do Liên Hiệp Pháp chỉ huy và yểm trợ.
Ngày 1 tháng 5. Do Dụ số 43
ngày 23 tháng 5 năm 1952 (sau này gọi là sắc lệnh) của Quốc
Trưởng Bảo Ðại, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội
Quốc Gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 5 năm 1952. Vị Tổng Tham
Mưu Trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh. Ông
là Trung Tá Không Quân Pháp chuyển sang. Tuy có cơ quan đầu
não của quân đội, nhưng thực chất các đơn vị Việt Nam
đã thành lập trước đó vẫn do sĩ quan Pháp chỉ huy và yểm
trợ mọi nhu cầu của đơn vị. Bộ Tổng Tham Mưu non trẻ
này tập trung nỗ lực vào trách nhiệm tổ chức 60 Tiểu Ðoàn
tân lập bộ binh do Pháp cung cấp dụng cụ chiến tranh. Bộ
Tổng Tham Mưu thực hiện quan niệm tổ chức hai loại Tiểu
Ðoàn mà cơ quan này cho là thích hợp với chiến trường hiện
tại: "Tiểu Ðoàn Việt Nam" có trang bị súng cối và đại
liên để đánh nhau với cộng sản cấp Ðại Ðội, vì lúc
ấy quân cộng sản trên chiến trường miền Nam cũng chỉ
tổ chức đến cấp Ðại Ðội. Và loại "Tiểu Ðoàn Khinh
Quân", quân số ít và trang bị nhẹ so với Tiểu Ðoàn Việt
Nam, dễ luồn lách hoạt động trong vùng địch.
Ngày 1 tháng 7. Căn cứ quân
sự trong vùng lòng chảo Ðiện Biên Phủ của Pháp bị thất
thủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, trước những cuộc "tấn công
biển người" của quân Việt Minh cộng sản dưới sự yểm
trợ mạnh mẽ của quân Trung Hoa cộng sản, dẫn đến Hiệp
Ðịnh Ðình Chiến ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy
Sĩ. Lãnh thổ Việt Nam bị chia đôi thành hai quốc gia:
Vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, theo chế độ cộng sản độc
tài.
Vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là Quốc
Gia Việt Nam, theo chế độ tự do.
Trên địa thế, tiêu biểu cho vĩ
tuyến 17 là "sông Bến Hải với cầu Hiền Lương", phía bắc
thị trấn Ðông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Trung tuần tháng 12 năm 1954, Tướng
Collins của Hoa Kỳ và Tướng Paul Ely của Pháp thỏa thuận,
theo đó, Bộ Tư Lệnh Quân Viễn Chinh Pháp sẽ trao toàn quyền
chỉ huy quân sự cho quân đội Việt Nam từ ngày 1 tháng 7
năm 1955. Sau thỏa thuận này, một phái bộ hỗn hợp Mỹ Pháp
được thành lập từ ngày 20 tháng 1 năm 1955, dưới tên gọi
"Phái Bộ Liên Lạc Và Huấn Luyện Tại Việt Nam" (tiếng Anh
là Training Relations Instruction Mission, gọi tắt là CHIM), với
số sĩ quan gồm 200 của Pháp và 217 của Hoa Kỳ.
Từ sau thỏa ước trên, Bộ Tổng
Tham Mưu gần như ào ạt tiếp nhận quyền chỉ huy hệ thống
tổ chức lãnh thổ, từ Chi Khu (quận), Tiểu Khu (tỉnh), Phân
Khu (2 hoặc 3 Tiểu Khu), đến Quân Khu (nhiều Phân Khu), và
các đơn vị tác chiến lẫn yểm trợ. Và thật sự là Bộ
Tổng Tham Mưu nắm quyền chỉ huy quân đội quốc gia Việt
Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1955.
Vậy, ngày "1 tháng 1 năm 1951"
là ngày thành lập đơn vị Việt Nam đầu tiên nhưng do sĩ
quan Pháp chỉ huy, ngày "1 tháng 5 năm 1952" là ngày thành
lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, và ngày
"1 tháng 7 năm 1955" là ngày Bộ Tổng Tham Mưu chánh thức
thật sự nắm quyền lãnh đạo chỉ huy quân đội quốc gia
Việt Nam. Tôi nghĩ, nếu phải chọn một ngày trong 3 ngày nói
trên thì ngày 1 tháng 5 là danh chánh ngôn thuận để
kỷ niệm "Ngày Quân Lực" nếu so với ngày 30/01 hay ngày
19/06, vì thông thường Ngày Quân Lực là ngày thành lập quân
đội.
Nhưng tôi cũng nghĩ rằng, rất có
thể vì quân đội được khai sinh từ quân đội Pháp trong
hoàn cảnh chiến tranh giữa thực dân với cộng sản trong
khi người Việt không cộng sản chúng ta chưa có vị trí rõ
ràng trên bàn cờ chính trị, nên quí vị không chọn một
trong những ngày đó mà chọn ngày quân lực nhận trách nhiệm
lãnh đạo quốc gia để kỷ niệm. Ngày này có ý nghĩa vai
trò quân đội trong chiến tranh ý thức hệ giữa "Tự Do với
Ðộc Tài", giữa cái Thiện với cái Ác. Quyết định chọn
ngày 19 tháng 6 làm "Ngày Quân Lực", tiêu biểu nét đặc thù
trong chiến tranh giữ nước của chúng ta trước làn sóng đỏ
tràn xuống phía nam trong những thập niên 50 đến 70, mà hiệp
chủng quốc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia đồng minh đã đặt
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào vị trí "quốc gia tiền đồn"
trên mặt trận toàn cầu đương đầu với cuộc chiến ý
thức hệ cộng sản thế giới, mà cộng sản Việt Nam là
cánh tay nối dài của cộng sản thế giới.
Và kỷ niệm "Ngày Quân Lực 19
tháng 6" đã được Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa tổ chức trọng thể hằng năm kể từ năm 1966.
Trong chốn riêng tư, ngày 19 tháng 6 năm 1966, còn tiềm ẩn
ý nghĩa sự thành công của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, trong
nỗ lực giải quyết vụ khủng hoảng chính trị mà báo chí
thường gọi là "khủng hoảng miền Trung" nữa. Nói là thành
công, nhưng thật sự có phải là thành công hay không, tùy
sự đánh giá của quí vị quí bạn.
Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến
nay, người cựu quân nhân chúng ta trong những hoàn cảnh thích
hợp tại mỗi quốc gia hay thành phố định cư, đã cùng nhau
tổ chức kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 06. Hành động như
vậy, tôi nghĩ là hoàn toàn đúng và nên tiếp tục. Ðúng,
vì cho đến nay -đầu năm 2007-, trong Cộng Ðồng Việt Nam
chúng ta tị nạn cộng sản tại hải ngoại, không một cá
nhân hay một tổ chức nào khả dĩ có đủ tư cách để thay
đổi. Với lại chúng ta cần có -phải nói là rất cần-
một ngày trọng đại để vinh danh quân đội, vinh danh những
đồng đội đã hi sinh, vinh danh những đồng đội thương
phế binh đã để lại một phần thân thể trên khắp miền
quê hương đất nước, và vinh danh những bà quả phụ đã
tảo tần tạo dựng thế hệ nối tiếp trách nhiệm của chúng
ta. Ðồng thời, cũng là ngày nhắc nhở chúng ta -những người
cựu quân nhân chưa tròn nhiệm vụ đang sống lưu vong khắp
chân trời góc biển- hãy tiếp tục nhiệm vụ còn dang dở
trong cuộc chiến hôm nay, góp phần vào công cuộc dân chủ
hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam, và cùng
thế hệ hậu duệ nối tiếp xây dựng một chế độ dân
chủ tự do thật sự trên quê hương Việt Nam ngày mai.
(Tiếp
theo Chương sáu)
|