|
- bảy -
Vài Sự Kiện Quan
Trọng
(trong những năm 1967-1974)
*****
Tôi rời chức vụ chánh văn phòng
Tổng Tham Mưu Trưởng vào những ngày cuối năm 1966 để nhận
chức tại tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), nên không có điều kiện
theo dời những sự kiện chính trị từ trong căn phòng nhỏ
hẹp của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa (Trung Tướng Viên thăng cấp Ðại Tướng nhân
lễ Quốc Khánh năm 1967), nơi mà các vị lãnh đạo với tất
cả quyền lực trong tay thường hội họp và quyết định
những vấn đề trọng đại của quốc gia trong năm 1965 và
1966. Giữa năm 1968, tôi thuyên chuyển trở lại Bộ Tổng Tham
Mưu, phục vụ trong bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận với
chức vụ Chánh Sở Kế Hoạch Chương Trình. Năm 1972, nhận
chức Cục Trưởng Cục Mãi Dịch. Năm 1974, nhận chức Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Trong thời gian này cho đến
giờ thứ 25 của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, tôi
có cơ hội trực tiếp lẫn gián tiếp, theo dõi được tình
hình quốc gia qua một số sự kiện quan trọng trong phần này
và những phần tiếp sau.
1. 1. Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân.
Xin nhắc lại rằng, đầu tháng
6/1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát gởi văn thư mật, yêu cầu
Hội Ðồng Quân Lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia,
vì do bất đồng quan điểm với Quốc Trưởng khi thay đổi
nhân sự trong nội các mà Quốc Trưởng từ chức, và Thủ
Tướng phải từ chức theo. Văn thư nhấn mạnh, nếu Hội
Ðồng Quân Lực không nhận trách nhiệm này thì tình hình
có thể sẽ trở nên rối loạn. Sau hai ngày họp, Hội Ðồng
Quân Lực quyết định chấp nhận lời yêu cầu của Thủ
Tướng.
Ðể có khả năng đảm nhận trách
nhiệm lãnh đạo quốc gia, Hội Ðồng Quân Lực đã tổ chức
hai cơ cấu: Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu giữ chức Chủ Tịch, và Ủy Ban Hành Pháp Trung
Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ Tịch.
Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia hành sử chức năng Quốc
Trưởng, và Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức Thủ
Tướng chánh phủ.
Ngày 19 tháng 6 năm 1965, tất cả
thành viên của hai Ủy Ban này đã ra mắt quốc dân đồng
bào và ngoại giao đoàn. Trong năm 1965 và 1966, Ủy Ban Lãnh
Ðạo Quốc Gia đã tổ chức hai lần "Ðại Hội Toàn Quân",
để quyết định đường lối hành động trong trách nhiệm
quân đội lãnh đạo quốc gia. Thật ra những thành viên của
hai lần Ðại Hội này, tôi có tham dự cả hai đại hội,
hằng ngàn quân nhân đại diện toàn quân về Sài Gòn tham
dự để nghe quí vị thành viên của hai Ủy Ban trình bày về
những chính sách của các ngành sinh hoạt quốc gia, và trong
một chừng mực nào đó, có thể xem đây là một sách lược
quốc gia.
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ với
tư cách Thủ Tướng, đã tuyên bố nội các của ông là "nội
các chiến tranh" và là "chánh phủ của người nghèo". Sau đó
ông có thực hiện một số chính sách giúp đỡ người dân
cải thiện đôi chút cuộc sống, như:
- Bán xe Lambretta 3 bánh trả góp
dùng chở khách trong thành phố. Ðây cũng là cách gia tăng
phương tiện chuyên chở công cộng trong thành phố,
- Cất nhiều khu nhà liên kế, bán
trả góp cho quân nhân viên chức.
- Bán xe gắn máy 2 bánh cho quân
nhân trả góp.
- Tổ chức hệ thống Quân Tiếp
Vụ, bán hàng tiêu dùng thông thường với giá miễn thuế
cho quân nhân và gia đình.
- Và vân ... vân . . .
Năm 1967, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc
Gia quyết định tăng lương đồng đều cho tất cả quân nhân
các cấp thuộc chủ lực quân, mỗi quân nhân 100 đồng. Lúc
bấy giờ, quân số chủ lực quân khoảng 450.000 người (chưa
kể quân số Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân). Chỉ 100 đồng
thôi vì ngân sách không thể chi trả nhiều hơn nữa, mà 100
đồng thời điểm ấy cũng chẳng mua sắm được gì. Cũng
không rõ là Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có chấp thuận cho
Bộ Quốc Phòng hay không, về việc sử dụng 100 đồng đó
để thành lập một quỹ gọi là "Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân", và chỉ áp dụng cho quân nhân chủ lực quân
mà thôi. Mục đích của quỹ như tên gọi là "vừa tiết kiệm
vừa tương trợ quân nhân và gia đình". Thiếu Tướng Nguyễn
Văn Vỹ, Tổng Trưởng Quốc Phòng, giữ chức Chủ Tịch Hội
Ðồng Quản Trị. Tôi không nhớ hết các vị thành viên trong
Hội Ðồng Quản Trị, chỉ nhớ là có vị Tổng Giám Ðốc
Tài Chánh Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng, và Thiếu Tướng
Ðồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ) Tổng Cục Trưởng
Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu.
Tôi không rõ vị nào đã đưa ra
đề nghị này, nhưng có điều là Quỹ này có hợp lệ hay
không thì nhiều dư luận trái ngược nhau, mặc dù Quỹ đã
được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép hoạt động. Vì Ủy Ban
Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định tăng lương là trách nhiệm
của cấp lãnh đạo đối với quân nhân, nhưng Bộ Quốc Phòng
đã thay mặt quân nhân quyết định thành lập Quỹ. Ngay trong
Bộ Tổng Tham Mưu, các quân nhân cũng phàn nàn quyết định
này không ít, vì Họ là thành viên đương nhiên nhưng không
hề được hỏi ý kiến về việc nên hay không nên thành lập
Quỹ. Với lại trên nguyên tắc, Quỹ này không phải của
quân đội mà lại do vị Tổng Trưởng Quốc Phòng nắm chức
Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Các thành viên trong Hội
Ðồng đều được lãnh phụ cấp. Các vị khác thì tôi không
rõ, nhưng riêng Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên lãnh xong là
ông hoàn vào quỹ. Chính mắt tôi thì không thấy, nhưng Thiếu
Tướng Khuyên nói điều này trong những buổi họp tham mưu
của Tổng Cục Tiếp Vận. Xin tạm gác sự kiện này sang một
bên, để theo dõi dư luận đồn đoán xoay quanh nguyên nhân
dẫn đến quyết định tăng lương mà là số tiền được
tăng gần như chẳng đáng là bao so với vật giá thị trường.
Lúc bấy giờ, dư luận từ các
nhà hoạt động chính trị cho rằng, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc
Gia tăng lương chỉ nhằm mục đích lấy lòng quân nhân chuẩn
bị cho liên danh quân đội ra ứng cử Tổng Thống-Phó Tổng
Thống, chớ thật ra số tiền được tăng đó không có giá
trị bao nhiêu về vật chất.
Và rồi quí vị Tướng Lãnh ra ứng
cử thật. Không phải một liên danh mà đến hai liên danh:
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu một liên danh, và Thiếu Tướng
Nguyễn Cao Kỳ một liên danh khác. Sự kiện này đã đưa quân
đội, cho dù có thản nhiên đến mấy đi nữa, tự nó đã
hình thành ba khuynh hướng: Một khuynh hướng ủng hộ Trung
Tướng Thiệu, một khuynh hướng khác ủng hộ Thiếu Tướng
Kỳ, và một khuynh hướng khác nữa thì không quan tâm mấy
đến việc phải ủng hộ liên danh nào. Nếu tình trạng hai
liên danh vẫn quyết tranh đua trong cuộc bầu cử này thì sự
phân hóa trong quân đội là điều không tránh khỏi, và đó
là điều tệ hại cho quân đội, cho quốc gia. Cũng may, các
vị Tướng Lãnh đã vận động hai vị đứng đầu hai liên
danh đến sát cạnh ngày hết hạn nộp đơn ứng cử, thì
Thiếu Tướng Kỳ bằng lòng đứng chung liên danh với Trung
Tướng Thiệu, sau cuộc họp khá gay gắt tại câu lạc bộ
Bộ Tổng Tham Mưu. Cũng trong "sự thành công" đó, Trung Tướng
Nguyễn Văn Thiệu có hứa nếu đắc cử Tổng Thống, ông
sẽ tham khảo các vị như trong thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo
Quốc Gia về đường lối chính sách quốc gia. Ðồng thời
ông cũng thỏa thuận với Thiếu Tướng Kỳ là sẽ mời giáo
sư Nguyễn Văn Lộc -người đứng chung liên danh với Thiếu
Tướng Kỳ lúc 2 liên danh riêng rẽ- thành lập chánh phủ.
Trở lại Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân. Khi quân số chủ lực quân gia tăng thì số
vốn hằng tháng cũng theo đó mà gia tăng. Khi quân lực lên
đến hơn 1 triệu quân thì chủ lực quân xấp xỉ con số
600.000 người, và như vậy có nghĩa là số vốn hằng tháng
của quỹ ngoài các khoản lời khác, được tăng thêm đến
60.000.000,00 đồng. Có thể nói mà không sợ lầm lẫn, lúc
bấy giờ chưa có cơ sở tài chánh nào tại Việt Nam mà số
vốn gia tăng nhiều đến như vậy cả. Ðiều này ít nhất
cũng là một trong hai nguyên nhân dẫn đến việc Quỹ Tương
Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân "bị đánh sập" sau 51 tháng hoạt
động. Nguyên nhân thứ hai, tôi sẽ thuật tiếp ở phần sau.
Trong thời gian thành lập Quỹ Tương
Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, tôi đang phục vụ tại tỉnh
Phong Dinh (Cần Thơ) nên không trực tiếp thấu hiểu, nhưng
năm sau đó (1968) tôi thuyên chuyển về Tổng Cục Tiếp vận
mới có cơ hội nghe Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên cho biết
thêm về tổ chức và hoạt động của Quỹ này. Theo ông,
số vốn ngày càng gia tăng nhanh chóng và Hội Ðồng Quản
Trị quyết định thành lập một số cơ sở dịch vụ và
kinh doanh, song song với gia tăng số vốn đầu tư vào các công
ty dệt sợi, đặc biệt là Vimytex (Việt Mỹ Dệt Sợi Công
Ty). Ðây là công ty dệt sợi lớn nhất lúc bấy giờ. Hằng
năm, công ty này trúng thầu khoảng 50% đến 70% trong số 30
tỷ đồng (Việt Nam Cộng Hòa) cung cấp vải treillis thường
và treillis ngụy trang dùng may quần áo trận cho quân nhân.
Ngoài ra còn các nhu cầu vải sợi khác, như: vải may quân
phục Không Quân, Hải Quân, vải may mùng, may võng, may mũ,
vải che mưa, vải dùng lau chùi vũ khí, vải may quân phục
đại lễ, quân phục mùa đông cho sinh viên Trường Võ Bị
Quốc Gia, quân phục cho sinh viên Trường Bộ Binh Thủ Ðức,
vải may quân phục cho quân nhân công du hoặc du học ngoại
quốc, ..v..v.. Theo thời gian, các cơ sở sau đây được thành
lập:
- Kỹ thương ngân hàng.
- Công ty bốc dỡ hàng hóa tại
cảng Sài Gòn.
- Công ty vận tải.
- Công ty sản xuất vật liệu xây
dựng.
- Xây cất tòa nhà nhiều tầng tại
số 8 đại lộ Nguyễn Huệ khu trung tâm thủ đô, dự trù
sử dụng cho văn phòng ngân hàng, cho các công ty do Quỹ thành
lập, và cho thuê. Tòa nhà này thường được gọi là "cao
ốc số 8 Nguyễn Huệ".
Quan điểm táo bạo nhất là Hội
Ðồng Quản Trị sẽ tiến đến xây dựng nhà máy sản xuất
đạn bắn thẳng mà khởi đầu là tân trang. Quan điểm này
càng trở nên mạnh mẽ khi Trung Tướng (đã được thăng cấp)
Ðồng Văn Khuyên được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Bộ
Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Không biết do đâu mà quan điểm này lọt ra ngoài, và phía
Hoa Kỳ bắn tiếng xa gần là sẽ không hỗ trợ mục tiêu
này nếu như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thực hiện. Rất
có thể đây là nguyên nhân thứ hai mà tôi vừa nói ở trên.
Hoa Kỳ cho rằng, họ sẽ cung cấp đầy đủ đạn dược với
phí tổn nhẹ hơn so với giá thành sản xuất tại Việt Nam.
Ðúng hay không thì chưa rõ, vì phải nắm được giá thành
sản xuất tại Hoa Kỳ mới so sánh được, với lại trong
nghiên cứu chiến lược lắm khi những vị lãnh đạo phải
chấp nhận phí tổn cao về kinh tế để đạt được mục
đích khác cao hơn như mục đích chính trị chẳng hạn. Giả
thuyết rằng, một viên đạn sản xuất tại Việt Nam cùng
phẩm chất mà giá thành cao hơn giá thành sản xuất tại Hoa
Kỳ, chánh phủ vẫn chấp nhận được vì cái cốt lõi của
mục đích là khả năng tự lực, còn giá thành không phải
là yếu tố quyết định cho dù đó là yếu tố đáng quan
tâm. Nhưng điều đó cho phép ta nhận định là Hoa Kỳ không
muốn Việt Nam Cộng Hòa dần dần ra khỏi tầm kiểm soát
của họ, mà đây là bước đầu Hội Ðồng Quản Trị muốn
thử nghiệm. Và theo tôi, đây là nguyên nhân thứ hai góp phần
dẫn đến quyết định đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân, mà lại là quyết định từ Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu!
Số tiền thanh trả cho quân nhân
và gia đình ra khỏi Quỹ, ngày được gia tăng nhiều hơn lúc
đầu nhờ vào số lời thu được từ các nguồn đầu tư.
Ðùng một cái, Tổng Thống chỉ
thị Phó Tổng Thống Trần Văn Hương thành lập Ủy Ban Thanh
Tra do Ðại Tá Trương Bảy (về sau là Chuẩn Tướng ngành
Cảnh Sát) trách nhiệm, và Cục Mãi Dịch là cơ quan được
nhắm vào như là trọng tâm. Ðại Tá Trương Bảy là sĩ quan
ngành Tiếp Vận, và ông là vị Cục Trưởng thứ hai từ khi
ngành Mãi Dịch trong quân đội thành lập năm 1964. Cơ quan
này căn cứ vào thể lệ mãi ước hành chánh quốc gia, và
căn cứ vào nhu cầu cùng những điều kiện kỹ thuật do các
ngành liên hệ cung cấp, có trách nhiệm thiết lập hồ sơ
đấu thầu và đệ trình Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận (nếu
khế ước có trị giá đến 80 triệu đồng lúc thành lập
ngành, và năm 1973 tăng lên đến 200 triệu) và Tham Mưu Trưởng
Bộ Tổng Tham Mưu quyết định (nếu khế ước trị giá 80.000.001
đồng trở lên, và năm 1973 thì từ 200.000.001 đồng trở lên).
Khi thành lập Quỹ Tương Trợ và
Tiết Kiệm Quân Nhân, không ít sĩ quan ngay tại quân trấn
Sài Gòn tỏ ý than phiền việc thành lập Quỹ cũng như Hội
Ðồng Quản Trị Quỹ này không nằm trong nguyên tắc hành
chánh nào cả, vì tổ chức này không hoàn toàn quân sự cũng
không hoàn toàn là dân sự. Nhưng khi Quỹ bị bắt buộc giải
tán và chi trả tài sản cho quân nhân thì dư luận quay lại
ủng hộ Quỹ, cho rằng Tổng Thống đã bị "tài phiệt Chợ
Lớn" và Hoa Kỳ khống chế, đành tâm đánh sụp một cơ sở
tài chánh mà "tài phiệt Chợ Lớn" rất sợ sẽ mất độc
quyền về kinh tế tài chánh. Ðúng hay không, tôi không có
được những bằng chứng xác đáng về việc này nên không
dám đánh giá, nhưng rõ ràng là sự sụp đổ của Quỹ Tương
Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân đã dẫn đến bữa tiệc rất
trọng thể của nhiều nhà "tài phiệt Chợ Lớn".
Sở dĩ Cục Trưởng Cục Mãi Dịch
bị Ủy Ban Thanh Tra nhắm vào vì Cục Trưởng là một thành
viên trong Ủy Ban Thực Hiện cung cấp máy móc dụng cụ cho
cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ nói trên, đặc biệt là
các thang máy chở đồ và chở người cho cao ốc này, trị
giá chung là 60.000.000,00 đồng Việt Nam. Ủy Ban Thanh Tra kết
luận, việc thực hiện hai loại thang máy nói trên là không
đúng nguyên tắc, và hệ quả là vị Cục Trưởng bị phạt
và bị cách chức.
Ủy Ban Thanh Tra cho rằng, đáng lẽ
Ủy ban Thực Hiện phải mở cuộc đấu thầu công khai với
các nhà thầu quốc tế lẫn trong nước, đằng này Ủy Ban
Thực Hiện chỉ "gọi thầu trực tiếp" dù là với nhà thầu
quốc tế, nghĩa là mời các nhà thầu mà Ủy Ban Thực Hiện
xét thấy có khả năng thi hành khế ước để khảo giá trực
tiếp rồi trình lên Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Sở
dĩ trình lên Hội Ðồng Quản Trị vì ngân khoản này không
thuộc ngân sách quốc gia, mà là ngân khoản của Quỹ. Thật
ra theo nguyên tắc mãi ước hành chánh do chánh phủ Pháp ban
hành năm 1899 (chính xác là vậy đó), mà nền hành chánh Việt
Nam Cộng Hòa vẫn áp dụng không mảy may thay đổi điều khoản
căn bản nào cả. Cũng theo đó, "đấu thầu công khai" hay "gọi
thầu trực tiếp", đều đúng nguyên tắc cả, có điều là
mỗi nhu cầu tùy theo trường hợp và thực hiện theo cách
nào cho là thích hợp nhất mà áp dụng, nhưng nhất thiết
phải có lợi cho ngân sách. Xét cho đúng thì không có gì trái
nguyên tắc cả, với lại lần thực hiện đó giảm chi được
khoản tiền đáng kể mà lại được món hàng tốt nữa. Nhưng
khi cấp thẩm quyền muốn cho nó sập thì kết luận phải
cho nó sập, vì đó là lệnh của Tổng Thống mà!
Lúc ấy tôi đang phục vụ tại
Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận (Cần Thơ), được cử thay thế vị
Cục Trưởng nói trên. Bấy giờ là tháng 6 năm 1972. Tôi đương
nhiên là thành viên trong Ủy Ban Thanh Lý tài sản của Quỹ
Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân. Ủy Ban Thanh Lý do Tổng
Nha Tài Chánh và Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng giữ chức
Chủ Tịch, có nhiệm vụ thanh lý và hoàn trả những khoản
còn lại trong thời gian thực hiện cao ốc số 8 đại lộ
Nguyễn Huệ, mà trọng tâm là xác định mức độ công tác
hoàn thành của nhà thầu Huỳnh Thi (?). Về họ thì tôi chắc
chắn là đúng, nhưng về tên của nhà thầu thì tôi chưa dám
xác định.
Trong thời gian tham gia Ủy Ban này,
tôi được biết một số sự kiện, đồng thời Trung Tá Bùi
Hy Trọng -Cục Phó Cục Mãi Dịch lúc thực hiện hàng cho cao
ốc số 8 Nguyễn Huệ- cung cấp cho tôi những con số sau đây:
- Ðến khi bị cưỡng bách giải
tán thì số vốn do đóng góp là 3.520.000.000,00 (3 tỷ 520 triệu)
đồng Việt Nam.
- Trước đó, số tiền chi trả
cho quân nhân giải ngũ, về hưu, hi sinh, từ trần hay mất
tích, là 460.000.000,00 (460 triệu) đồng.
- Khi thanh lý tài sản, đã chi trả
cho toàn thể quân nhân hội viên (gồm cả tiền lời) lên
đến 3.500.000.000,00 (3 tỷ 500 triệu) đồng.
- Ðã chi ra 360.000.000,00 (360 triệu)
đồng vào công trình xây dựng cao ốc Nguyễn Huệ.
- Số tiền còn lại trong ngân hàng
là 500.000.000,00 (500 triệu) cùng với tài sản tại các công
ty của Quỹ ước tính cũng đến vài chục triệu nữa.
Cao ốc số 8 Nguyễn Huệ gồm 12
tầng, cộng với sân thượng dự trù sử dụng một nửa phía
đại lộ Nguyễn Huệ để cho thuê khai thác nhà hàng có ca
nhạc, và một tầng hầm làm chỗ đậu xe (parking) với lối
ra vào dành cho xe chuyên chở hàng hóa sử dụng chuyển vận
lên các tầng trên, và hai máy phát điện đủ cung cấp điện
năng cho cao ốc khi bị cúp điện. Ngay tầng trệt dành cho
Kỹ Thương Ngân Hàng và phòng khách chung cho cao ốc như tại
các khách sạn lớn vậy.
Cũng trong năm 1972, Bộ Tài Chánh
thương lượng với Ủy Ban Thanh Lý mua lại cao ốc số 8 Nguyễn
Huệ với giá sơ khởi do Ủy Ban Thanh Lý ra giá là 1.000.000.000,00
(1 tỷ) đồng. Khi tôi được cử vào chức vụ Tham Mưu Trưởng
Tổng Cục Tiếp Vận, tôi không còn trong Ủy Ban Thanh Lý nữa
nên không rõ diễn tiến như thế nào mà đến tháng 4 năm
1975, cao ốc vẫn chưa bán được.
Hãy để mục đích thành lập cũng
như mục đích đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân
Nhân đúng hay sai qua một bên, chúng ta thử kết toán một
cách tổng quát sau 51 tháng hoạt động: Số vốn 3 tỷ 520
triệu, đã lên đến 4 tỷ 460 triệu, cộng với cao ốc số
8 Nguyễn Huệ trị giá 1 tỷ, cộng với tài sản tại Kỹ
Thương ngân hàng và các công ty. Nếu không bị đánh sập,
rất có thể Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, có
khả năng góp phần đáng kể vào mục tiêu phát triển kinh
tế quốc gia, cũng có thể góp phần quan trọng vào mục tiêu
của quân đội từng bước tiến đến tự lực trong nền
kinh tế quốc gia, đang đặt trọng tâm vào khả năng và tiềm
năng tìm kiếm khai thác dầu hỏa dưới thềm lục địa Việt
Nam, mà Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa đặt nhiều tin tưởng vào
đó, ước tính từ năm 2000. Không phải là ảo tưởng khi
Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ), Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, năm 1969, giao cho tôi lúc
tôi phụ trách Sở Kế Hoạch & Chương Trình/Tổng Cục
Tiếp Vận, âm thầm nghiên cứu phác thảo một hướng đi
cho ngành Tiếp Vận từng bước tiến đến tự lực các loại
dụng cụ chiến tranh, mà một trong những nền tảng là khả
năng và tiềm năng dầu hỏa. Trong năm 1970, Thiếu Tướng Khuyên
đã chấp thuận dự thảo của tôi và ngay sau đó đã ban hành
trong toàn ngành Tiếp Vận tập tài liệu nhỏ có tên là Ðường
Lối Tiếp Vận 10 điểm với dự phóng từ năm 2000 có khả
năng đạt đến nếu như những dự phóng phát triển của
Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa không quá sai lệch. Sau đó, từng
lãnh vực trách nhiệm được nghiên cứu phác thảo tổng quát.
Và rồi tháng 4 năm 1975 chợt đến, tất cả trở thành giấy
vụn.
2. Chuẩn bị phát triển quốc
gia.
Hiệp Ðịnh ngưng bắn trên toàn
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa ký ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến
tháng 3 năm 1973 Hiệp Ðịnh có hiệu lực. Sau đó là trao đổi
tù binh, gồm cả tù binh Hoa Kỳ và tù binh Việt Nam Cộng Hòa
bị cộng sản giam giữ. Hiệp Ðịnh bị lãnh đạo cộng sản
Việt Nam có tên là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vi phạm
ngay khi Hiệp Ðịnh tưởng chừng chưa ráo mực. Nhưng không
vì vậy mà chánh phủ đặt nhẹ nhu cầu phát triển đất
nước. Với những sinh hoạt khá rộn rịp, chuẩn bị các
dự án phát triển quốc gia thời hậu chiến, như:
Tháng 6 năm 1973, một phái đoàn
chánh phủ gồm quí vị: Tổng Trưởng Giao Thông Bưu Ðiện,
Tổng Trưởng Tài Chánh, Tổng Giám Ðốc Ngân Hàng Phát Triển
Kỹ Nghệ cùng 3 vị Giám Ðốc trực thuộc, Chủ Tịch Phòng
Thương Mại Sài Gòn, và nhiều công kỹ nghệ gia thuộc Phòng
Thương Mại Sài Gòn. Phía quân đội được Thủ Tướng chỉ
định đích danh 4 sĩ quan của ngành Tiếp Vận liên quan đến
các dự án của chánh phủ, tham dự:
- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức,
Cục Trưởng Cục Công Binh.
- Ðại Tá Nguyễn Hữu Bầu, Cục
Trưởng Cục Quân Nhu.
- Ðại Tá Trần Văn Lễ, Cục Trưởng
Cục Quân Tiếp Vụ.
- Và tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa,
Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
Một nửa phái đoàn sang Hawaii hội
thảo với các nhà đầu tư Hoa Kỳ, rồi sang Singapore ráp vào
một nửa kia từ Sài Gòn sang Singapore trước vài ngày, cùng
nghiên cứu về phát triển chiều cao, phát triển kỹ nghệ
chế biến, và xây dựng hải cảng dành cho loại tàu chở
container.
Trước đó, một khóa hội thảo
về đầu tư phát triển được tổ chức tại Trường Cao
Ðẳng Quốc Phòng kéo dài trong 3 tuần lễ, với sự tham dự
đông đảo của công thương kỹ nghệ gia Việt Nam, và phái
đoàn kỹ nghệ gia Hoa Kỳ. Tôi được Tổng Cục Tiếp Vận
chỉ định tham dự hội thảo. Tóm tắt tổng quát các dự
án đã trình bày, gồm:
- Dự án mở rộng Sài Gòn về phía
Thủ Thiêm được xem như thủ đô chính trị.
- Biến vùng Rừng Sát ngập nước,
lọt thỏm giữa Sài Gòn-Biên Hòa-Vũng Tàu, thành khu chế xuất
lớn nhất Việt Nam mang dáng vấp khu kỹ nghệ Jurong Town của
đảo quốc Singapore.
- Một phi trường quốc tế tọa
lạc gần sông Ðồng Nai, cũng gần xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa.
Phi trường Tân Sơn Nhất trở thành phi trường quốc tế thứ
hai.
- Hầu hết những cơ sở cấp trung
ương của quân đội chuyển lên hướng xa lộ Sài Gòn-Biên
Hòa, nhường chỗ cho những dự án canh tân thủ đô.
Tất cả đều dự trù thực hiện
trong khoảng 20 năm kể từ đầu thập niên 1980. Với những
dự án này -trong một chừng mực nào đó- cho thấy chánh phủ
vẫn tin tưởng vào Hiệp Ðịnh, dù rằng bị cộng sản vi
phạm ngay sau khi Hiệp Ðịnh có hiệu lực.
Sở dĩ tôi được tham dự khóa
hội thảo này vì tôi trách nhiệm liên lạc với Bộ Kế Hoạch
lúc đầu, về sau là Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa, để nghiên
cứu phác thảo một quan niệm tổng quát về khả năng ngành
Tiếp Vận có thể từng bước tiến đến tự lực về dụng
cụ chiến tranh, căn cứ vào khả năng và tiềm năng quốc
gia mà dầu hỏa được xem là nền tảng cho công cuộc phát
triển đất nước. Công tác đang diễn tiến, thì lần lượt
Phước Long rồi Ban Mê Thuột thất thủ, rút bỏ Cao Nguyên,
rồi những cuộc lui binh hỗn loạn từ tuyến đầu Quảng
Trị cho đến Cam Ranh, ..v.. v.. thế là kết thúc.
Ngay trong năm 1973, trong phạm vi Tổng
Cục Tiếp Vận, gồm 8 ngành chuyên môn: Quân Nhu, Quân Cụ,
Quân Y, Quân Vận, Quân Tiếp Vụ, Công Binh, Truyền Tin, và
Mãi Dịch quân đội, thực hiện chương trình cải tổ để
thích nghi với viện trợ quân sự Hoa Kỳ sẽ giảm nhiều.
Trọng tâm của chương trình cải tổ là giản lược hệ thống
tổ chức về tồn trữ và sửa chữa quân dụng theo quan niệm
tập trung, để giảm bớt số lượng tồn trữ trải mỏng
theo quan niệm diện địa, vì số lượng dụng cụ chiến tranh
không nhiều như trong thời chiến. Ðồng thời áp dụng khoa
quản trị vào công tác quản trị toàn bộ dụng cụ chiến
tranh bằng máy điện toán IBM 360/50, là loại máy có khả năng
rất lớn so với quân đội của các quốc gia bạn trong khu
vực Ðông Nam Á lúc bấy giờ, để giải quyết nhu cầu tiếp
liệu, tồn trữ, vận chuyển, sửa chữa và tân trang, vừa
chính xác vừa nhanh chóng. Tách hẳn kế toán với tồn trữ,
quan niệm này có nghĩa là bộ phận giữ kho không hề biết
trong kho có những món hàng nào, số lượng bao nhiêu, hay vị
trí món hàng ở đâu. Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận là cơ
quan kế toán, và Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân là cơ quan
điều khiển.
Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng danh
từ "khách hàng" để chỉ các đơn vị Tiếp Vận tại 5 Vùng
Tiếp Vận, được chỉ định liên lạc trực tiếp với Trung
Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận ngang qua máy điện toán để xin
tiếp liệu hay sửa chữa, nói chung là mọi nhu cầu về quản
trị Tiếp Vận. Cũng xin giải thích thêm về 5 Vùng Tiếp Vận:
Vùng 1 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn I/Quân Khu I, Vùng 2 Tiếp
Vận và Vùng 5 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn II/Quân Khu II, vì
lãnh thổ Vùng này trải dài theo ven biển và từ ven biển
lên tận Cao Nguyên, Vùng 3 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn III/Quân
Khu III, và Vùng 4 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn IV/Quân Khu IV.
Kế hoạch cải tổ đã thực hiện
xong phần căn bản về tổ chức, nhưng về máy điện toán
của các khách hàng chưa thực hiện xong, thì chế độ dân
chủ tự do chúng ta sụp đổ.
3. Viện trợ quân sự.
Tháng 3 năm 1973, Hiệp Ðịnh Paris
Ngưng Bắn Và Tái Lập Hòa Bình có hiệu lực, nhưng ngay sau
đó quân cộng sản mở cuộc bao vây tấn công vào đồn Tống
Lê Chân trong phạm vi Quân Ðoàn III do Biệt Ðộng Quân trú
đóng. Lần lượt nhiều đơn vị khác cũng bị chúng tấn
công. Ðó là sự vi phạm Hiệp Ðịnh một cách trắng trợn
mà Ban Quân Sự Liên Hợp 4 bên do Hiệp Ðịnh Paris qui định
cũng không giải quyết được gì cả. Trong một tình hình
ngưng bắn nhưng thật sự thì chiến tranh vẫn còn nguyên đó,
súng vẫn nổ, người vẫn thương vong, nhưng mức độ viện
trợ quân sự đã giảm nhiều. Từ 1.062.000.000 (1 tỷ lẻ 62
triệu) mỹ kim năm tài chánh 1972-1973 xuống còn 700 triệu cho
năm tài chánh 1974-1975. Cũng trong năm tài chánh này, lần đầu
tiên Cơ Quan Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ (gọi tắt theo tiếng
Mỹ là D.A.O.) cho biết ngân khoản viện trợ trong một năm,
và là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất, cơ quan DAO yêu
cầu Tổng Cục Tiếp Vận cho biết quan niệm sử dụng cùng
với một kế hoạch chi tiết sử dụng số tiền viện trợ
đó.
Trước khi đi sâu vào kế hoạch
sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ, tôi xin lướt qua đôi
nét về thủ tục viện trợ quân sự để quí vị quí bạn
có khái niệm về "đồng đô la viện trợ quân sự" của Hoa
Kỳ như thế nào. Cũng xin trình bày rõ thêm, đây không phải
là viết theo tài liệu của Hoa Kỳ hay của Việt Nam, mà là
tôi căn cứ vào những buổi họp tham mưu của toàn ngành Tiếp
Vận mà đúc kết vào đây.
Từ khi Hoa Kỳ viện trợ quân sự
trực tiếp cho Việt Nam Cộng Hòa chúng ta (1966-1967) đến cuối
tài khóa 1973-1974, họ không cho chúng ta biết trước là họ
viện trợ cho chúng ta bao nhiêu trong một tài khóa, mà họ
căn cứ theo nhu cầu của chúng ta đưa sang và họ xét thấy
phù hợp với chính sách của họ là họ cấp, dĩ nhiên là
phải thông qua các buổi họp tham mưu chuyên môn giữa Bộ
Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với Bộ Tư Lệnh
Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam. Quân lực Việt Nam
nhận viện trợ quân sự trực tiếp từ quân đội Hoa Kỳ
chớ không bị ràng buộc bởi đạo luật năm 1961 về viện
trợ quân sự ngoại quốc (theo chế độ MDAP), nghĩa là không
theo hệ thống Bộ Tổng Tham Mưu lên Bộ Quốc Phòng, rồi
sang Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa. Từ Bộ Ngoại Giao Việt
Nam Cộng Hòa chuyển sang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, lần lượt
đến Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, sau đó mới đến Quân chủng
liên hệ của Hoa Kỳ. Tôi nói nhận viện trợ trực tiếp
(theo chế độ MASF, dịch sang Việt ngữ là Quỹ Viện Trợ
Dịch Vụ Quân Sự), có nghĩa là mỗi quân chủng Hải Lục
Không Quân của Việt Nam Cộng Hòa, liên hệ trực tiếp với
các quân chủng Hải Lục Không Quân của Hoa Kỳ, ngang qua các
cố vấn tại các quân chủng để đưa yêu cầu viện trợ.Trong
trường hợp này, Bộ Tổng Tham Mưu theo dõi chặt chẽ mọi
diễn tiến, nhưng Bộ Quốc Phòng thì không nắm vững như
vậy.
Bây giờ là công tác tham mưu soạn
thảo kế hoạch sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ quân
sự tài khóa 1974-1975. Căn cứ trên quan niệm của Phòng 3/Tổng
Tham Mưu, quan niệm của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham
Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng
Cục Tiếp Vận, là muốn duy trì một khả năng phòng thủ
trong phạm vi viện trợ giới hạn, cần:
- Phải có vũ khí, gồm cả phi cơ
với chiến hạm, bom đạn và chất nổ.
- Phải di động nhanh, tức là nói
đến phương tiện vận chuyển đường bộ, đường thủy,
và hàng không, cùng với các loại nhiên liệu thích hợp.
- Phải duy trì tốt hệ thống chỉ
huy liên lạc, tức là máy móc truyền tin vô tuyến lẫn hữu
tuyến, diện địa lẫn chiến thuật.
- Và phải điều trị đúng mức
cho thương bệnh binh, vì sau mỗi trận chiến thể nào cũng
có tổn thất nhân mạng, cho nên chi tiêu cho các quân y viện
cũng là nhu cầu thiết yếu.
Quan niệm cũng dứt khoát, không
mua thêm bất cứ loại quân dụng chiến tranh nào, mà đặt
trọng tâm vào kế hoạch săn nhặt cơ phận từ các quân dụng
phế thải cùng chủng loại để tân trang sử dụng.
Từ quan niệm căn bản đó, bộ
tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận điều hợp với các Cục, soạn
thảo kế hoạch như thế này:
Với nhu cầu thứ nhất là vũ khí
thì không cần mua thêm bất cứ loại nào, cần sử dụng tân
trang trong số 2 triệu khẩu súng các loại hiện có. Về bom
đạn và chất nổ, bản thống kê trong 3 năm trước đó do
Sở Ðạn Dược của Cục Quân Cụ thiết lập, đã cung cấp
một loạt thống kê về mức tiêu thụ trung bình của từng
loại vũ khí, từng loại đạn nổ, đạn chiếu sáng, đạn
khói, ..v.. v.., từng loại bom, và từng loại chất nổ. Nhóm
công tác tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng những
thống kê đó làm căn bản ước tính nhu cầu năm 1974-1975
theo tình hình chiến sự do Phòng Nhì và Phòng Ba/Tổng Tham
Mưu ước tính. Xin nhớ rằng trong năm 1971 đến 1973, chiến
sự dữ dội nhất là năm 1972, và mức tiêu thụ các loại
quân dụng chiến tranh rất cao, với ngân khoản viện trợ
quân sự năm đó lên đến 1.062.000.000 mỹ kim, và con số này
là cao nhất trong suốt 20 năm Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam
Cộng Hòa. Khi chiết tính nhu cầu đạn dược, các sĩ quan
tham mưu ngành Tiếp Vận đã phải tính riêng cho loại đạn
bắn thẳng như súng trường, súng M16, súng trung liên, đại
liên, đến các loại đạn bắn vòng cầu của súng cối, súng
đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly, hỏa tiễn chống chiến xa, ..v..
v... Và rồi mỗi loại phải tính đến đạn chiếu sáng, đạn
xuyên phá, đạn khói.
Tóm lại là phải tính đến từng
chi tiết để mua đúng loại bom đạn thật sự cần thiết,
đúng chủng loại vũ khí, đúng số lượng ước tính, và
thích hợp với số tiền viện trợ. Ðó cũng là phương châm
của ngành Tiếp Vận: "Ðúng lúc, đúng mức, và đúng chỗ".
Không có gì cao siêu trong cách tính này cả, vì nó tương tự
những bà nội trợ trước khi đi chợ phải ước tính xem
nấu những thức ăn gì, để từ đó mới tính ra là mua những
cá những tôm những hành những tỏi, mỗi thứ bao nhiêu để
nấu đúng món và đủ cho số khẩu phần trong gia đình thích
ứng với hoàn cảnh mới về "kinh tế" của gia đình. Tiếp
Vận để duy trì cho một triệu quân nhân từ đỉnh đầu
xuống đến gót chân, từ dạ dày đến thương tích hay bệnh
hoạn, hy sinh hay từ trần, từ khẩu súng viên đạn, đến
vận chuyển hay liên lạc, ..v..v.., trong một góc độ nào đó,
tương tự như bà nội trợ bảo vệ hạnh phúc gia đình, dĩ
nhiên là mức độ phức tạp khác nhau.
Áp dụng cách tính như vậy cho nhu
cầu duy trì khả năng di động với phương tiện của Lục
Quân, là xe vận tải từ 2.5 tấn trở lên, phương tiện của
Hải Quân là Giang Vận Ðỉnh và Hải Vận Hạm, phương tiện
của Không Quân là phi cơ vận tải C47, C130, ..v.. v... Chỉ
riêng nhu cầu các loại nhiên liệu cho Hải Lục Không Quân
đã ngốn hết 80 triệu mỹ kim rồi, nhưng mức chi tiêu này
chỉ mới bằng 2/3 chi phí nhiên liệu của tài khóa 1973-1974
thôi.
Ðối với nhu cầu cơ phận sửa
chữa các loại máy truyền tin trong hệ thống liên lạc diện
địa cũng như hệ thống liên lạc chiến thuật, cũng theo
cách tính trên. Nghĩa là loại nào cần thiết cho hai nhu cầu
trên mới đưa vào kế hoạch sử dụng ngân khoản đó.
Cơ quan D.A.O. cũng thông báo chánh
thức cho Tổng Cục Tiếp Vận biết rằng, chế độ viện
trợ quân sự theo "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự" (MASF)
sẽ chấm dứt vào cuối tài khóa 1974-1975, sau đó chuyển sang
chế độ "Chương Trình Viện Trợ Quân Sự" (MDAP). Họ thông
báo để Tổng Cục Tiếp Vận chuẩn bị cho kịp thời gian,
vì hệ thống viện trợ này phải theo hệ thống vòng vo cần
nhiều thời gian cho hành trình giấy tờ thủ tục, kèm theo
một danh sách dài thật dài, ghi rõ từng loại quân dụng với
từng số lượng đang sử dụng, tiếp đó là những danh sách
cơ phận cần thực hiện cho từng loại quân dụng. Họ chấp
nhận món quân dụng nào trong danh mục của Tiếp Vận quản
trị, họ mới viện trợ "một đổi một" cũng như cơ phận
thay thế nó. "Một đổi một" tức là "mất một cái hoặc
phế thải một cái Hoa Kỳ viện trợ lại một cái", không
làm gia tăng thêm khối lượng dụng cụ chiến tranh.
Cũng nên nói thêm về sự kiện
vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa có xin thêm ngân khoản 300.000.000,00 mỹ kim nhưng
Quốc Hội Hoa Kỳ không chấp thuận, và có dư luận cho rằng
vì không có 300.000.000,00 đó mà chúng ta thua trận! Tôi không
rõ việc đó có đúng hay không, nhưng có điều tôi biết là
đến tháng 4 năm 1975 thì tài khóa 1974-1975 vẫn còn giá trị.
Ðiều đó có nghĩa là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn
nhận viện trợ theo chế độ "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân
Sự", tức là ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ vẫn viện trợ
trực tiếp cho chúng ta nếu họ muốn. Khi Hành Pháp chuyển
sang Lập Pháp, nếu chưa có đạo luật hay nguyên tắc nào
khác thay đổi sự điều hành "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân
Sự" trong hoàn cảnh bất thường đối với Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta, tôi nghĩ, đó là cách "giã từ" của Hành Pháp
Hoa Kỳ, chớ không phải Hành Pháp không có thẩm quyền viện
trợ. Nhắc lại để có thêm chút chuyện xưa thôi, chớ "khi
muốn" thì cách nào cũng được, còn "khi không muốn" thì cách
nào cũng xong. Chuyện đời thường đã thế, chuyện chính
trị thường khi cũng thế, chỉ đôi khi chẳng thế! Ngôn ngữ
chính trị là thế!
Chẳng hạn như chương trình "Việt
Nam Hóa Chiến Tranh" vậy thôi. Khi mắt xích tại Việt Nam chưa
thực hiện được thì chiến lược Domino của Hoa Kỳ trong
mục tiêu "be bờ" ngăn chận sự bành trướng của cộng sản
quốc tế xuống khu vực Ðông Nam Á Châu, từ Ðại Hàn Dân
Quốc, xuống Nhật Bản, vòng qua Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan),
Phi Luật Tân, ngang qua Việt Nam Cộng Hòa, và dừng lại Thái
Lan, xem như chưa hoàn chỉnh. Thế rồi cuộc đảo chánh ngày
1 tháng 11 năm 1963 giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm,
không biết có phải vì Tổng Thống từ chối ý định của
Hoa Kỳ thiết lập những căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt
Nam Cộng Hòa hay không, đến cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1
năm 1964, dẫn đến Thông Ðiệp của Trung Tướng Nguyễn Khánh
với tư cách Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu các
quốc gia đồng minh giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa chống quân
cộng sản, mà thật ra Thông Ðiệp đó chẳng khác chiếc chìa
khóa dành riêng cho Hoa Kỳ mở cửa Việt Nam thôi. Từ đó,
quân bộ chiến Hoa Kỳ lần lượt thiết lập các căn cứ
Chu Lai, Cam Ranh, Plei Ku, An Khê, Ðồng Tâm (Mỹ Tho), ..v.. v..
cùng chúng ta chiến đấu chống quân cộng sản từ miền Bắc
len lỏi xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Ðến khi
chính trị nội bộ Hoa Kỳ có những biến chuyển không thuận
lợi cho chánh phủ liên bang, vì quân đội đã can dự sâu
vào cuộc chiến tranh chống cộng sản trên lãnh thổ Việt
Nam Cộng Hòa chúng ta, lúc bấy giờ Hoa Kỳ cho rằng Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa đã đủ mạnh để đương đầu với quân
cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc,
thế là Hoa Kỳ thực hiện chương trình rút quân có tên gọi
là "Việt Nam Hóa Chiến Tranh". Ðích thực của Việt Nam Hóa
Chiến Tranh là gì? Ðơn giản mà nói, chẳng qua là Hoa Kỳ
triệt thoái quân đội về nước mà Hoa Kỳ đã thu được
trong thỏa hiệp ngưng bắn Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 là
cái màn che chắn danh dự cho Hoa Kỳ rút quân về nước. Còn
thật sự cái Hiệp Ðịnh đó có phải là danh dự cho cuộc
triệt thoái quân đội Hoa Kỳ về nước hay không, lại là
chuyện khác!
Khi rút quân, Hoa Kỳ để lại cho
quân đội chúng ta một khối lượng dụng cụ chiến tranh
gồm đại bác 175 ly nòng dài, đại bác phòng không, xe tăng
M48, các loại giang tốc đỉnh sử dụng tuần duyên tuần giang,
phi cơ vận tải C130, ..v.. v.., là những loại thuộc vào hàng
cũ kỹ kể cả số lượng nằm hư hỏng -đáng kể là phi
cơ các loại- trong các cơ xưởng chờ sửa chữa, mà nếu
chuyển vận trở về Hoa Kỳ không chừng phải tốn một ngân
khoản tương đương với trị giá khối dụng cụ này nữa
đó.
Báo chí của những đồng minh chúng
ta, đã thật tàn nhẫn khi nói Việt Nam Hóa Chiến Tranh chẳng
qua là "thay đổi màu da trên xác chết!" Chừng như bạn chúng
ta cho là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta chưa bao giờ
chết trận, cho mãi đến khi quân đội Hoa Kỳ về nước chúng
ta mới bắt đầu chết trận vậy!
Bài học cho chúng ta, tôi nghĩ: "Ðồng
minh là đồng minh, nhưng quyền lợi quốc gia vẫn là trên
hết. Vì vậy mà những vị lãnh đạo các cấp từ lập pháp,
hành pháp đến quân đội, hành sử chức năng của mình phải
xuất phát từ tư tưởng quyền lợi quốc gia Việt Nam hài
hòa với văn hóa Việt Nam." Ðó là bài học thật sự cay đắng
cho mọi người Việt Nam trong thế hệ đương thời, và là
bài học quí báu cho thế hệ mai sau trên chính trường!
(Tiếp
theo Chương tám)
|