|
- tám -
Những Tháng Cuối
Cùng
của cuộc chiến
1954-1975
*****
Tỉnh Phước Long thất thủ ngày
7 tháng 1 năm 1975.
Tỉnh Phước Long ở phía Bắc Ðông
Bắc Sài Gòn, sát biên giới Việt Nam-Cam Bốt, là một trong
những tỉnh được thành lập dưới thời Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm, trong chiến lược phòng thủ quốc gia. Nơi đây
là vùng đất chuyển tiếp của địa hình cao nguyên cuối
dãy Trường Sơn xuống đồng bằng miền Nam. Vì vậy mà Phước
Long núi không cao, rừng không rậm rạp như rừng già Cao Nguyên.
Cư dân hầu hết là người miền núi thuộc nhiều bộ tộc
khác nhau. Thời thực dân Pháp cai trị, địa phương này có
cái tên mà bất cứ người dân bình thường nào cũng khiếp
đảm khi nghe đến, đó là trại tù Bà Rá.
Sự ra đời của tỉnh Phước Long
và tỉnh Bình Long trong phạm vi lãnh thổ Quân Ðoàn III/ Quân
Khu III, do quan niệm của Tổng Thống Diệm chuẩn bị chống
chiến tranh xâm lược của cộng sản miền Bắc dưới tên
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bởi theo Hiệp Ðịnh Ðình
Chiến mà thực dân Pháp, cộng sản Liên Xô, cộng sản Trung
Hoa, và cộng sản Việt Nam ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại
Genève, Thụy Sĩ, thì hai năm sau đó -tức năm 1956- sẽ tổng
tuyển cử thống nhất Nam Bắc, nhưng Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm đã chánh thức công bố là không chấp nhận tổng tuyển
cử vì chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa không ký vào Hiệp Ðịnh
đó. Mà thật ra, trong tình hình lúc bấy giờ, nếu tổng tuyển
cử thì nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có cơ hội chiến
thắng trong cuộc bầu cử đó, có nghĩa là khối Tự Do do
Hoa Kỳ lãnh đạo nói chung và Việt Nam Cộng Hòa chúng ta nói
riêng, bị trúng kế của khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo.
Và như vậy, Việt Nam chúng ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà
Mau sẽ bị cộng sản cai trị bằng chế độ độc tài từ
đó. Hẳn là Tổng Thống tin rằng nhóm lãnh đạo cộng sản
Việt Nam sẽ bắt đầu chiến tranh xâm chiếm Việt Nam Cộng
Hòa, mà bước đầu là một lực lượng lên đến hằng chục
ngàn cán bộ do chúng cài lại miền Nam bằng cách sống chen
lẫn trong gia đình, hay trong đồng bào nông thôn miền Nam khi
chúng tập kết chuyển ra Bắc theo Hiệp Ðịnh Ðình Chiến
qui định. Ðây sẽ là lực lượng nòng cốt gây chiến trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.
Mục tiêu thành lập các tỉnh tại
những vùng mà trong cuộc chiến tranh giữa Pháp thực dân với
Việt Minh cộng sản 1946-1954 mà quân Pháp không kiểm soát
được, để có các cơ quan hành chánh lẫn quân sự hoạt
động vừa bảo vệ dân vừa ngăn chận quân cộng sản thiết
lập hạ tầng cơ sở cho cuộc chiến tranh ước tính là rất
có thể sẽ xảy ra. Một đoạn trên quốc lộ 14 từ thị
trấn Chơn Thành thuộc tỉnh Bình Long, chạy ngang thị trấn
Ðồng Xoài -tức quận Ðôn Luân- thuộc tỉnh Phước Long lên
hướng Ðông Bắc sẽ đến tỉnh lỵ Ban Mê Thuột của tỉnh
Darlac. Ban Mê Thuột được xem là thủ phủ Cao Nguyên Miền
Trung. Từ đây thẳng lên hướng Bắc sẽ đến Plei Ku, và
tiếp tục thêm khoảng 40 cây số nữa sẽ đến Kon Tum, tỉnh
cuối cùng của quốc lộ 14 trên dãy Trường Sơn. Do vậy mà
tỉnh Phước Long có tầm quan trọng về mặt chiến lược
quân sự lẫn chính trị trong chiến tranh chống cộng sản,
một loại chiến tranh mà nhà cầm quyền không dễ gì nhận
ra địch quân vì chúng sống trà trộn trong đồng bào, thậm
chí là chúng có thể chen vào trong các cơ quan nữa.
Từ khi vùng rừng núi này trở thành
tỉnh, dân số gia tăng dần lên với số người từ Sài Gòn
cũng như các tỉnh khác đến đây khai phá đất ba-dan trồng
các loại cây kỹ nghệ, và buôn bán làm ăn với đồng bào
sắc tộc. Tuy chưa phải là nhộn nhịp như các tỉnh vùng
đồng bằng Cửu Long hay dọc miền duyên hải, nhưng cũng tạo
được bộ mặt đầy đủ của một tỉnh lỵ cũng như các
thị trấn quận và xã.
Ðầu năm 1957, quân cộng sản gài
lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa -nhiều nhất là các
tỉnh cực Nam đồng bằng Cửu Long- bắt đầu quấy rối trên
toàn lãnh thổ. Lúc ấy, tỉnh Phước Long cũng trong tình trạng
như vậy. Những năm đầu, hoạt động của cộng sản tập
trung vào phạm vi kinh tài và đấu tranh chính trị với những
cuộc biểu tình lẻ tẻ ở nông thôn, hoặc vùng ngoại ô
các thị trấn hay tỉnh lỵ, phản đối những cuộc hành quân
bình định, hoặc yêu sách những tên cộng sản bị bắt.
Cuối năm 1960, quân cộng sản bắt đầu hoạt động với
lực lượng du kích cấp Trung Ðội trang bị thô sơ, và từng
bước chúng tiến lên hoạt động cấp Ðại Ðội. Trong những
năm 60, lực lượng cấp Trung Ðoàn, rồi Sư Ðoàn, được
cộng sản Liên Xô và cộng sản Trung Hoa trang bị nhiều loại
dụng cụ chiến tranh được xem là thế hệ mới. Từ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phía Bắc vĩ tuyến 17, luồn theo
dãy Trường Sơn xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa,
và thực hiện những trận đánh cấp Trung Ðoàn vào đầu
những năm 70. Cho đến tháng 3 năm 1973, lực lượng cộng sản
quanh quẩn trong vùng rừng núi của Phước Long và các tỉnh
lân cận lên đến cấp Sư Ðoàn, nhưng chưa làm gì được
Phước Long. Rồi ngay sau ngày Hiệp Ðịnh Paris (tháng 3 năm
1973) có hiệu lực, quân cộng sản vẫn tiếp tục chiến tranh,
có nghĩa là chúng ngang nhiên vi phạm Hiệp Ðịnh này.
Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn
vị có thể là cấp Tiểu Ðoàn trở lên, tấn công quận lỵ
Ðôn Luân, vị trí án ngữ quốc lộ 14 lên Ban Mê Thuột hay
xuống Bình Long, và liên tỉnh lộ 1 lên Phước Long, bị quân
trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Ðôn
Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng khác của cộng sản
đánh chiếm quận Bố Ðức (?) với quận Ðức Phong (có thể
tôi nhớ không chính xác về tên Quận). Một lực lượng của
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu điều động tăng
cường tỉnh lỵ, trong khi yểm trợ hỏa lực không quân được
tập trung cho Phước Long, kể cả điều động từ Sư Ðoàn
4 Không Quân ở Cần Thơ tăng cường.
Cuộc tiếp tế cho các đơn vị
hành chánh, quân sự, lẫn đồng bào trong tỉnh lỵ trở nên
khó khăn, thậm chí là rất khó khăn vì quân cộng sản sử
dụng nhiều lực lượng nhỏ phục kích nhiều ngày mà chúng
gọi là "đóng chốt" tại các đoạn đường hiểm trở dọc
theo đường liên tỉnh số 1 dẫn lên tỉnh lỵ. Tình trạng
này làm cho công tác chuyển vận các loại tiếp liệu bằng
đường bộ không sử dụng được, trong khi tiếp tế bằng
phi cơ rất hạn chế từ sau khi Ðệ Thất Không Lực Hoa Kỳ
rút khỏi Việt Nam theo qui định trong Hiệp Ðịnh Paris. Trong
cùng thời gian, quân cộng sản pháo kích mạnh vào phi trường
Lai Khê -nơi hoạt động rộn rịp của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh
tiếp viện Phước Long- và phi trường Sông Bé, tỉnh lỵ Phước
Long.
Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực
thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn lên tỉnh lỵ Phước
Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư đang nằm
tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ, sau khi chở tiếp tế thực
phẩm và nhiên liệu đến nơi. Lượt về, chiếc Chinook 47
đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản bắn hạ
sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút. Các phi tuần khu trục phản
lực A.37 được điều động từ Sư Ðoàn 4 Không Quân ở
Cần Thơ lên tăng cường yểm trợ hỏa lực cho lực lượng
phòng thủ Phước Long, một trong số các phi công phản lực
A.37 -Thiếu Tá Trần Quốc Tuấn- đã nói với tôi rằng:
"… Em chưa bao giờ gặp hỏa lực
phòng không dày đặc bố trí chung quanh tỉnh lỵ Phước Long.
Phải nói rằng, một lưới lửa đỏ cả một vùng rộng lớn
đã gây trở ngại đáng kể cho các phi tuần khu trục yểm
trợ Phước Long …"
Ngay ngày đầu năm 1975, quân cộng
sản pháo kích khá mạnh vào căn cứ không quân Biên Hòa, để
ngăn chận những phi tuần khu trục của Sư Ðoàn 3 Không Quân
cất cánh yểm trợ Phước Long. Cũng trong những ngày đầu
năm 1975, các đơn vị cộng sản gia tăng áp lực chung quanh
tỉnh lỵ với lực lượng ghi nhận là cấp Sư Ðoàn, đặc
biệt sự ghi nhận về lực lượng phòng không của chúng rất
mạnh. Ðang trong tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng
trú phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân giải tỏa
Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Ðống, Tư Lệnh Quân
Ðoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong
phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Ðống xin tăng
cường lực lượng tổng trừ bị nhưng không được chấp
thuận. Xin nói thêm, lực lượng tổng trừ bị dưới quyền
điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, gồm: Sư Ðoàn Nhẩy Dù,
Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù,
và Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân.
Sự bất đồng quan điểm này, tôi
nghĩ, không phải là vấn đề lớn đến nỗi gây bất bình
cho Trung Tướng Dư Quốc Ðống. Ông từng là Tư Lệnh Sư Ðoàn
Nhẩy Dù, từng được Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường cho Quân
Ðoàn I, Quân Ðoàn II, trong những tình hình chiến sự tại
đó, chắc ông dễ dàng thông cảm với Bộ Tổng Tham Mưu khi
sử dụng lực lượng tổng trừ bị. Về phía Quân Ðoàn III,
xin thì ông cứ xin, nhưng còn chấp thuận hay không còn phải
tùy thuộc tình hình khắp các Quân Ðoàn mà chỉ Bộ Tổng
Tham Mưu mới nắm vững. Trong thời gian Phước Long bị tấn
công gần như toàn tỉnh, thì tình hình tại Quân Ðoàn I và
Quân Ðoàn II cũng không phải là yên tĩnh, và cho dù có yên
tĩnh đi nữa thì Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu là cơ quan có trách
nhiệm cập nhật hóa "bản nghiên cứu và ước tính tình báo"
cung cấp thường xuyên cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng về tình
hình tại các vùng lãnh thổ các Quân Ðoàn trách nhiệm. Nghĩa
là vị Tổng Tham Mưu Trưởng, lúc nào cũng theo dõi thấu hiểu
tình hình quân sự khắp nơi trên lãnh thổ. Chỉ nhìn từ
bên ngoài thôi, lực lượng trú phòng vùng giới tuyến phải
luôn luôn trong thế sẵn sàng chống trả những cuộc tấn
công của một lực lượng cộng sản nhất thiết là mạnh
hơn các vùng lãnh thổ khác, vì bất cứ lúc nào chúng cũng
có thể từ bên trên vĩ tuyến 17 xua quân tràn xuống tấn
công chúng ta. Có lẽ vì vậy mà Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường
dài hạn cho Quân Ðoàn I, cả lực lượng của Sư Ðoàn Nhẩy
Dù lẫn Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, trong khi Phước Long
bị mất một số Quận nhưng vẫn không đưa ra quyết định
rút một phần lực lượng tổng trừ bị từ Quân Ðoàn I
về tăng viện cho Quân Ðoàn III, ắt phải có nguyên nhân chính
đáng, trừ khi có nguyên nhân sâu xa nào đó đằng sau quyết
định của Tổng Thống không chấp thuận đề nghị của Trung
Tướng Tư lệnh Quân Ðoàn III.
Theo lời của Trung Tướng Ðồng
Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu nói lại trong
buổi họp tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận, thì Trung Tướng
Dư Quốc Ðống xin từ chức ngay trong buổi họp tại Phủ
Tổng Thống, nhưng Tổng Thống không chấp thuận. Lý do mà
Trung Tướng Ðống xin từ chức, theo lời của cựu Ðại Tướng
Cao Văn Viên thì sau khi trình bày tình hình quân sự tại Phước
Long là ông xin từ chức ngay vì ông tự thấy không đủ khả
năng.
Vậy, sự thật là Trung Tướng Ðống
xin từ chức trước khi hay sau khi Tổng Thống không chấp
thuận tăng cường lực lượng cho Phước Long theo đề nghị
của Trung Tướng Dư Quốc Ðống? Nếu Trung Tướng Dư Quốc
Ðống xin từ chức trước khi Tổng Thống không chấp thuận
tăng cường lực lượng giải tỏa áp lực cộng sản tại
Phước Long, thì tại sao ông không từ chức trước khi Phước
Long thật sự bị áp lực của quân cộng sản mà chờ đến
lúc Phước Long nguy ngập mới xin từ chức với lý do không
đủ khả năng giải quyết tình hình trong vùng trách nhiệm?
Chẳng lẽ ông sợ chiến trường Phước Long? Còn nếu Trung
Tướng Dư Quốc Ðống xin từ chức vì không được Tổng
Thống tăng cường lực lượng, tôi nghĩ, cũng không nên. Tại
sao? Tại vì có thêm quân thì tiếp tục làm Tư Lệnh, không
có thêm quân thì xin nghỉ, mà là xin nghỉ trong khi Phước
Long với hằng chục ngàn quân lẫn dân, viên chức lẫn cán
bộ các ngành, đang trong tình trạng gần như hấp hối, nỡ
lòng nào xin từ chức để không còn trách nhiệm với hằng
chục ngàn con người bằng xương bằng thịt mà ít ra trong
chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, ông đã có đôi ba lần được
Họ đón tiếp để nghe ông ban những huấn lệnh!
Xin nhắc lại là tôi rất ngưỡng
mộ Trung Tướng Dư Quốc Ðống, lúc ông là Chuẩn Tướng,
thành viên trong Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt họp ngày
8 và 9 tháng 7 năm 1966 tại Bộ Tổng Tham Mưu, để giải quyết
5 vị Tướng liên quan đến sự kiện khủng hoảng miền Trung
từ ngày 9 tháng 3 (1966) đến 15 tháng 5 năm 1966. Chuẩn Tướng
Dư Quốc Ðống đã dõng dạc nhận mình là người bỏ phiếu
trắng, có nghĩa là riêng ông không chống lại Trung Tướng
Nguyễn Chánh Thi dù ông công nhận Trung Tướng Thi đã có lời
phát biểu cũng như những hành động sai trái trong sự kiện
khủng hoảng đó. Lý do mà ông trình bày vì ông kính trọng
Trung Tướng Thi là bậc Thầy của ông. Ðồng thời ông xin
Hội Ðồng quyết định về chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù của
ông.
Nhưng sao bây giờ lại như vậy?
Chẳng lẽ một vị Tướng, lại là vị Tướng trong binh chủng
Nhẩy Dù mà sợ trận chiến Phước Long này sao? Hay là đằng
sau của lời xin từ chức của ông, có điều gì uẩn khúc?
Tôi nghĩ, cho dù Tổng Thống có
chấp thuận hay không chấp thuận về đề nghị của ông xin
tăng viện cho Phước Long, ông cũng không nên từ chức. Nói
cho cùng, cho dẫu trận chiến Phước Long có đưa ông vào ngõ
cụt, ông vẫn phải dấn thân. Ðơn giản, vì ông là Trung
Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III, mà một phần lãnh thổ trách
nhiệm của ông đang trong tình thế nguy ngập!
Ðến ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn
tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản!
Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là một
trong những đơn vị rất tinh nhuệ của quân đội, đã phải
băng rừng tháo chạy với tổn thất khá nặng, vì được
Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường vào lúc tỉnh lỵ lâm nguy nhất.
Với lại cho dù thiện chiến đến đâu đi nữa, thì quân
số của Liên Ðoàn đặc biệt này cũng không sao chống nỗi
một địch quân đông vào khoảng 2 Sư Ðoàn, cho nên trong trường
hợp này sự thất bại trong nhiệm vụ của Liên Ðoàn là
điều không thể tránh được. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù
do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy trưởng, đặc biệt nổi
danh trong trận chiến khốc liệt mùa hè 1972 trong nhiệm vụ
phòng thủ tỉnh lỵ An Lộc thuộc tỉnh Bình Long. Hồi ấy,
báo chí gọi là "Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972" để chỉ 3 mặt trận
chính: Ðông Hà/Quảng Trị, Tân Cảnh/Kon Tum, Lộc Ninh với
An Lộc/Bình Long, và mặt trận phụ là Hà Tiên/Kiên Giang.
Cả 3 mặt trận chính đều do những Sư Ðoàn quân chính qui
của cộng sản từ lãnh thổ nước cộng sản Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa trên miền Bắc tràn xuống tấn công.
Trận chiến "mùa hè 1972" này làm
tôi nhớ lại vào những năm cuối của thập niên 50, quân
đội Việt Nam Cộng Hòa đang từ cấp Tiểu Ðoàn là cao nhất,
được tổ chức lên đến cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, rồi
Quân Ðoàn. Trang bị thống nhất với toàn bộ dụng cụ chiến
tranh do Hoa Kỳ cung cấp. Lúc bấy giờ là năm 1958, sau khi tôi
học xong khóa Ðại Ðội Trưởng tại chi nhánh Trường Võ
Bị Liên Quân Ðà Lạt trở về Tiểu Ðoàn 2/Trung Ðoàn 35/Sư
Ðoàn Khinh Chiến 12 đồn trú ở Catecka, cách thị xã Plei Ku
khoảng 8 cây số về phía Nam. Lại dự khóa huấn luyện bổ
túc Ðại Ðội Trưởng tại Kon Tum do Ban Cố Vấn Sư Ðoàn
Khinh Chiến 12 tổ chức trong 3 tháng. Xong khóa học, tôi chuyển
lên Bộ Chỉ huy Trung Ðoàn 35, giữ chức Trưởng Ban 3 kiêm
Trưởng Ban 5 Trung Ðoàn. Toàn bộ Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 gồm
Trung Ðoàn 34, Trung Ðoàn 35, và Trung Ðoàn 36, cùng các đơn
vị yểm trợ đang trong giai đoạn cuối của chương trình
huấn luyện, và chuẩn bị vào chương trình hành quân thao
dượt để Bộ Tổng Tham Mưu trắc nghiệm kết quả huấn
luyện.
Cuộc hành quân thao dượt diễn
ra trong phạm vi tỉnh Kon Tum theo quốc lộ 14 xuống Plei Ku,
với tình hình giả định là vào thời gian nào đó, quân cộng
sản từ bên trên vĩ tuyến 17 mở cuộc tấn công vào Việt
Nam Cộng Hòa với 2 mặt trận chính: mặt trận thứ nhất
là vượt sông Bến Hải tấn công vào Ðông Hà và Quảng Trị,
mặt trận thứ hai là từ lãnh thổ Cam Bốt -sườn Tây Việt
Nam- tấn công vào Dak To và Kon Tum. Trung Ðoàn 34 và Trung Ðoàn
35 Bộ Binh, có nhiệm vụ "trì hoãn chiến" từ mặt trận Kon
Tum xuống Plei Ku trong khi chờ lực lượng tổng trừ bị tăng
cường phản công. Còn Trung Ðoàn 36 Bộ Binh là lực lượng
trừ bị của Sư Ðoàn. Lúc ấy, các sĩ quan tham mưu chúng
tôi cho rằng, quan niệm về một tình hình giả định như
vậy là không thực tế với chiến trường Việt Nam, vì sở
trường của quân cộng sản là đánh du kích, có quá lắm
là lên đến vận động chiến cấp Trung Ðoàn thôi.
Nhưng 14 năm sau, tức năm 1972, chiến
trường đã diễn ra gần đúng như tình hình giả định trong
cuộc hành quân thao dượt của Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 vào
năm 1958 vậy.
Trở lại tình hình hậu Phước
Long! Trong buổi chiều cùng ngày 7 tháng 1 năm 1975, Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, mời tất cả các đơn
vị trưởng trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn và vùng phụ cận
đến câu lạc bộ/Bộ Tổng Tham Mưu, để nghe ông tóm tắt
diễn biến tình hình toàn tỉnh Phước Long, và ông nói rằng:
sự thất thủ của tỉnh này -Trung Tướng Khuyên không nói
là điều may, mà ông nói- là giảm đi cái ung nhọt trên cơ
thể, vì với khả năng không vận hiện này mà chiến trường
Phước Long cần đến thì Bộ Tổng Tham Mưu không thể thỏa
mãn nỗi. Câu kết của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, đã
làm cho cả hội trường gần như đồng thanh "ồ" lên một
tiếng, và tiếp đến là những âm thanh xì xào mà tôi chắc
là các cử tọa đang bất mãn về lời sau cùng của Trung Tướng
Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Chính bản thân tôi cũng
nhận thấy Trung Tướng Khuyên đã không chuẩn bị trước
cho buổi họp này, nên đã nói một câu tuy ngắn ngủi nhưng
làm đau lòng những chiến sĩ trú phòng cũng như tiếp viện
Phước Long còn sống sót, và làm tổn thương vong linh những
chiến sĩ đã ngã xuống cho sự sống còn của Phước Long!
Xin nói thêm rằng, ngoài 4 năm phục
vụ trong van phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi có gần 7 năm
phục vụ dưới quyền trực tiếp của Trung Tướng Ðồng
Văn Khuyên, thường khi bàn thảo với ông về những quan niệm
cùng những kế hoạch cải tiến ngành Tiếp Vận, và qua đó,
tôi nhận thấy Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên là vị Tướng
rất có kinh nghiệm trong nhiều lãnh vực hoạt động của
quân đội, và một số lãnh vực về kinh tế. Mỗi khi ông
đề cập đến vấn đề nào thì ông diễn đạt được những
gì ông nghĩ, nhưng có điều là ông nghĩ đến đâu trình bày
đến đó chớ không hoàn toàn tuần tự từ A đến Z, nói
chung là không mạch lạc. Ông vừa có kinh nghiệm và vừa có
nét nhìn xa về tương lai của quân đội, nhưng là nghiêng
về quản trị con người, quản trị hành chánh, quản trị
tiếp vận, hơn là về chiến lược chiến thuật. Chẳng hạn
như chương trình cải tổ sâu rộng về tổ chức và điều
hành trong toàn ngành Tiếp Vận trong năm 1973-1974, ông đã dám
nghĩ và dám làm trong hoàn cảnh vừa tái tổ chức vừa yểm
trợ, và bước đầu được đánh giá là thành công. Nét nhìn
xa của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên được thể hiện trong
Quỹ Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà tôi trình bày
ở một đoạn trong chương bảy.
Vì Trung Tướng Khuyên nghĩ sao thì
nói vậy, nói một cách chân thành về những điều mà ông
nghĩ, nên tôi và những sĩ quan tham mưu trong Tổng Cục Tiếp
Vận có mặt lúc bấy giờ, hiểu và thông cảm về câu nói
mà lẽ ra ông không nên nói, cho dẫu điều ông nói có là
sự thật đối với khả năng của Bộ Tổng Tham Mưu cũng
vậy. Tôi có nghe nói đến "chứng lapsus" và được giải thích
rằng, khi người nào có chứng này thì trong những lúc bất
chợt "lời nói thường là không đúng như điều đang nghĩ
trong đầu". Không biết có phải Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên
trong trường hợp này vào buổi chiều ngày 7 tháng 1 năm 1975
trong câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu hay không?
Ðúng là khả năng chiến đấu của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị suy giảm, nhưng không phải
suy giảm đơn thuần do tinh thần chiến đấu của Quân Nhân,
mà do những nguyên nhân khách quan, trước mắt là khối lượng
dụng cụ chiến tranh vào hàng tối tân do 500.000 quân Ðồng
Minh sử dụng, đã bị Hiệp Ðịnh Paris đẩy ra khỏi chiến
trường Việt Nam. Ðó là khối hỏa lực mà quân cộng sản
từng khiếp đảm, bỗng dưng không còn nữa! Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa đang đánh giặc theo "kiểu nhà giàu" hay ít ra
cũng là "dựa hơi nhà giàu", nay đánh nhau theo "kiểu nhà nghèo"
thì ảnh hưởng đến tinh thần Quân Nhân là điều khó tránh
khỏi!
Phải chi những vị lãnh đạo của
chúng ta -nhất là thời Trung Tướng Nguyễn Khánh 1964- có bản
lãnh chính trị vững vàng, thì biết đâu có thể đã thuyết
phục được đồng minh Hoa Kỳ, thay vì đưa quân sang Việt
Nam thì họ nhiệt tình giúp chúng ta các loại chiến cụ để
chính chúng ta chiến đấu cho đất nước chúng ta, thì chính
nghĩa trọn vẹn trong tay chúng ta. Trong trường hợp đó, rất
có thể không có cái "Hiệp Ðịnh Paris 1973 kỳ cục", cùng
với "sự bảo đảm cũng kỳ cục" của 13 quốc gia và tổ
chức Liên Hiệp Quốc, chỉ nhằm hỗ trợ cho quân cộng sản
đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Ðó là một thứ bảo
đảm không công bằng, bởi vì khi quân cộng sản vi phạm
Hiệp Ðịnh, thậm chí khi chúng xua quân chính qui từ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tràn xuống vĩ tuyến 17 đánh chiếm
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, cũng chẳng có thành viên nào trong
con số 13 thành viên đó phản đối cả!
Sau đó, Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu cử Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thay thế Trung Tướng
Dư Quốc Ðống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, tháng
12 năm 1974, bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân Ðoàn II cho Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú, vì theo Phó Tổng Thống Trần Văn Hương,
Trung Tướng Toàn bị tố cáo tham nhũng. Trước đó, trong thời
gian giữ chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh đồn trú tại Quảng
Ngãi, Trung Tướng Toàn đã bị báo chí nói đến như là một
Tướng Lãnh có quá nhiều tai tiếng không tốt. Nhưng sau khi
rời khỏi Sư Ðoàn 2 Bộ Binh, ông được Tổng Thống cử
giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II ở Plei Ku. Sau khi bàn giao
Quân Ðoàn II, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn nhận chức Chỉ
Huy Trưởng Binh Chủng Thiết Giáp. Và tháng 2 năm 1975, từ
Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, ông nhận chức Tư lệnh Quân Ðoàn
III.
2. Tỉnh Darlac thất thủ ngày
13 tháng 3 năm 1975.
Tết Nguyên Ðán đầu năm 1975, quân
nhân và công chức nghỉ chiều Ba Mươi Tết và trọn ngày
Mồng Một Tết, thay vì nghỉ 3 ngày rưỡi như mọi năm, vì
tình hình nghiêm trọng sau khi toàn tỉnh Phước Long vào tay
quân cộng sản ngày 7 tháng 1 năm 1975.
Trưa Mồng Hai Tết, nếu như ngày
thường thì rất đông sĩ quan nhà xa dùng cơm trưa tại câu
lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng bữa ăn trưa hôm nay, chỉ
có Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng
Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, tôi
-lúc bấy giờ là Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận- và
Thiếu Tá Nguyễn Văn Tấn, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng
Khuyên. Vì dù cho tình hình có thế nào đi nữa, trong mái ấm
gia đình vẫn còn hương vị ngày Xuân, nên hầu hết các sĩ
quan về nhà dùng cơm với gia đình.
Với nét mặt thật buồn, Trung Tướng
Khuyên lên tiếng phá tan sự yên ắng trong khoảng không gian
trống rỗng của câu lạc bộ:
"Tôi nghĩ, chắc mình mất nước
thật quá anh!
"Tại sao Trung Tướng nghĩ vậy?
"Anh nghĩ coi, có vấn đề hạ tuổi
hoãn dịch trong các tôn giáo để có thêm một số thanh niên
nhập ngũ, mà Thủ Tướng trình lên Tổng Thống, rồi Tổng
Thống đẩy xuống Thủ Tướng, không vị nào dám nhận trách
nhiệm vì sợ đụng chạm đến tôn giáo".
Ngưng một lúc, ông tiếp với giọng
thật nhỏ:
"Ðã không đặt vấn đề thì không
nói làm chi, mà khi đã thành vần đề thì phải thực hiện
đến nơi đến chốn vì là vấn đề quốc gia mà, chớ dở
dang như vậy chỉ làm mất uy tín của người lãnh đạo thôi".
Khi nêu câu hỏi với Trung Tướng
Khuyên là tôi muốn nghe ông giải thích thêm, chớ thật ra
thì trong một chừng mực nhất định, tôi hiểu được câu
ông nói. Chuyện như thế này: Nhân lễ Giáng Sinh, tối 24 tháng
12 năm 1974, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên tổ chức bữa ăn
thật đơn giản ở phòng trên lầu của câu lạc bộ/Bộ Tổng
Tham Mưu, với các thực khách sau đây:
- Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên và
phu nhân -
- Thiếu Tướng Smith, Trưởng Cơ
Quan Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thực chất
thì cơ quan này thay thế Bộ Tư Lệnh Viện trợ Quân Sự Hoa
Kỳ tại Việt Nam (MACV) trong một quyền hạn thu hẹp -
- Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh,
Cục Trưởng Cục Quân Y -
- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức,
Cục Trưởng Cục Công Binh -
- Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục
Phó Tổng Cục Tiếp Vận, và phu nhân -
- Ðại Tá Pelosky, Phụ Tá của Thiếu
Tướng Smith về Tiếp Vận -
- Tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham
Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận -
- Và Trung Tá Nguyễn Ðình Bá, chánh
văn phòng của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên -
Thiếu Tướng Smith tiết lộ rằng:
"Bộ Quốc Phòng (Pentagon) Hoa Kỳ
có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300.000.000 (300 triệu)
mỹ kim để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40.000 sĩ quan và gia
đình, nhưng thời gian thì chưa rõ".
Những lời nói ngắn ngủi này của
một vị Tướng tuy không có hào quang của một nhân vật quyền
lực như Thống Tướng William C. Westmoreland trước đây, nhưng
là nhân vật tiêu biểu cho tiếng nói của Bộ Quốc Phòng
Hoa Kỳ tại Việt Nam chúng ta lúc ấy. Và lời nói này, tôi
nghĩ, không có cách hiểu nào khác, ngoài cách hiểu là cuộc
chiến tranh bảo vệ tổ quốc của chúng ta sắp kết thúc,
và kết thúc với ý nghĩa thua trận! Vì nếu không thua trận
thì làm gì có kế hoạch di tản sĩ quan và gia đình sang Hoa
Kỳ!
Ðột ngột quá chăng? Có thể là
với Hoa Kỳ, hay nói chung là với thế giới dân chủ tự do
lẫn thế giới cộng sản độc tài, thì không có gì đột
ngột cả vì họ là người ngoài cuộc. Có tốt lắm thì họ
cũng chỉ nói lời thương hại, hoặc lời "phân ưu" trong một
bài diễn văn nào đó, cho cái dân tộc bất hạnh này mà thỉnh
thoảng họ nói Việt Nam Cộng Hòa là tiền đồn trắc nghiệm
chiến tranh ý thức hệ, hoặc chúng ta là tiền đồn chống
cộng sản cho họ thôi!
Nhưng với tôi quả là đột ngột,
dù tôi có nghe những tin loan tãi đáng buồn trên làn sóng
đài phát thanh BBC qua chương trình Việt ngữ! Rất có thể
là tôi quá chủ quan khi tin rằng, chiến tranh đang trong giai
đoạn khốc liệt nhưng phần đất tự do này không thể vào
tay chế độ cộng sản độc tài được. Tại sao tôi chủ
quan như vậy? Ðơn giản chỉ vì tôi tin rằng cuộc chiến
đấu của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta là cuộc chiến đấu
có chính nghĩa, mà chính nghĩa thì không thể thua được! Lúc
bấy giờ, rõ ràng là tôi không thực tế khi tôi là một trong
số rất ít cử tọa ngồi nghe "diễn giả Smith" truyền đạt
một câu ngắn ngủi trong bữa ăn đêm Giáng Sinh năm 1974, nó
chẳng có ý nghĩa gì về tôn giáo, nhưng rất có ý nghĩa về
cuộc chiến tranh mà chúng ta buộc phải lâm trận!
Tôi hỏi:
"Chẳng lẽ đất nước mình đến
hồi mạt vận sao! Có lúc nào Trung Tướng nghĩ như vậy không?
"Không đâu anh. Thật ra có lúc tôi
cũng nghĩ như anh, nhưng cuối cùng tôi bác bỏ ý nghĩ đó,
vì dù sao thì mình cũng có một quân đội chống cộng sản
triệt để mà anh".
Vì ông nghĩ như vậy, nên khi thấy
một việc nhỏ tuy rất tế nhị mà Thủ Tướng với Tổng
Thống là hai vị lãnh đạo cao nhất nước với đầy quyền
lực trong tay, nhưng không vị nào dám nhận trách nhiệm, nên
Trung Tướng Khuyên mới thốt lên câu nói như một lời than
bất lực của chính ông, và hàm ý cho số phận một quốc
gia: Việt Nam Cộng Hòa!
Cũng trong bữa ăn trưa Mồng Hai
Tết này, Trung Tướng Khuyên nhắc tôi ráng điều động và
đôn đốc Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận (đồn trú tại Qui Nhơn),
vận chuyển hàng tiếp liệu lên Plei Ku chuẩn bị chống trả
cuộc tấn công của quân cộng sản thường khi là vào mùa
hè.
Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng
Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đang thực hiện kế hoạch vận chuyển
các loại hàng tiếp liệu loại 1, loại 3, và loại 5, từ
Qui Nhơn lên dự trữ ở Plei Ku và Kon Tum. Các loại hàng tiếp
liệu trong quân đội do ngành Tiếp Vận quản trị, chia làm
5 loại:
- Loại 1, là lương thực thực phẩm
cho người và thú vật (quân khuyển = chó trận)
- Loại 2, là quân dụng trang bị
cho tất cả các đơn vị quân chủng, binh chủng, binh sở,
và các cơ quan phòng sở tham mưu, như: quân xa, vũ khí bắn
thẳng, vũ khí bắn vòng cầu, xe tăng thiết giáp, xe đào đất
ủi đất, chiến hạm, phi cơ, máy móc văn phòng, bàn ghế,
..v.. v.. có ghi trong bảng cấp số của từng đơn vị cũng
như cơ quan phòng sở.
- Loại 3, là các loại nhiên liệu
và các loại dầu mỡ bôi trơn.
- Loại 4, là những gì thuộc về
vật liệu xây dựng và vật liệu phòng thủ.
- Và loại 5, là các loại bom đạn
và chất nổ.
Số lượng dự trữ dự trù cho
20.000 quân trú phòng Plei Ku và Kon Tum chiến đấu trong 30 ngày
không cần tiếp tế. Ðó là dự trù cho một tình hình tệ
hại là không tái tiếp tế được, chớ thật ra trong kế
hoạch của Tổng Cục Tiếp Vận có dự liệu khi chiến trận
xảy ra thì từ ngày thứ 3, mà trong tham mưu quân sự gọi
là ngày N + 2, bắt đầu tái tiếp tế bằng không vận để
bổ sung mực độ dự trữ cho lực lượng phòng thủ.
Khi mất Phước Long, Trung Tướng
Khuyên ước tính thời gian quân cộng sản mở cuộc tấn công
vào Plei Ku và Kon Tum, có thể sớm hơn ước tính của Phòng
2/Bộ Tổng Tham Mưu. Vì vậy mà ông cho tăng cường thêm quân
xa ra Qui Nhơn để Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận có thêm khả năng
vận chuyển. Hằng ngày, từng đoàn quân xa hằng trăm chiếc
hạng nhẹ và hạng trung, lăn bánh trên quốc lộ 19 nối liền
Qui Nhơn với Plei Ku - Kon Tum, và ngược lại.
Những ngày sau đó, tôi thường
thảo luận với Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên trong những bữa
ăn trưa tại câu lạc bộ, và câu chuyện chỉ xoay quanh nguồn
tin từ Thiếu Tướng Smith, hòa trong những tin chiến sự ngày
càng nghiêm trọng.
Ban Mê Thuột là thủ phủ Cao Nguyên
Miền Trung. Từ đây, theo quốc lộ 14 về hướng Bắc khoảng
170 cây số sẽ đến Plei Ku, một thị trấn đất đỏ ba-dan,
và tiếp tục hành trình thêm khoảng 40 cây số nữa sẽ đến
Kon Tum, một thị trấn toàn cát trắng. Cũng từ Ban Mê Thuột,
theo quốc lộ 14 xuôi hướng Tây Nam, sẽ đến thị trấn Chơn
Thành thuộc tỉnh Bình Long rồi theo quốc lộ 13 về đến
Sài Gòn. Nếu từ Ban Mê Thuột, theo quốc lộ 21 về hướng
Ðông vượt đèo M'Drak sẽ xuống quốc lộ 1, rẽ phải sẽ
đến Nha Trang và vào Sài Gòn, còn rẽ trái sẽ ra Tuy Hòa,
Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Ðà Nẳng, rồi Huế, Quảng trị. Ngay
trong thành phố Ban Mê Thuột và phi trường Phụng Dực, có
Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, các đơn vị yểm trợ, và
Trung Ðoàn 53 Bộ Binh đồn trú. Phần còn lại của Sư Ðoàn
23 đang bảo vệ Kon Tum và Plei Ku. Ban Mê Thuột trong phạm trách
nhiệm yểm trợ của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, và Bộ Chỉ
Huy này đồn trú tại bán đảo Cam Ranh, một bán đảo nổi
tiếng trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 khi Hạm Ðội của
Nga chạy trốn sự truy lùng của Hạm Ðội Nhật Bản.
Trưa ngày 9 tháng 3 năm 1975, Ðại
Úy Chỉ Huy Trưởng Kho Ðạn ở ngoại ô Ban Mê Thuột điện
thoại tôi:
"Thưa Ðại Tá, theo lệnh khẩn cấp
của Phòng 4/Quân Ðoàn II (đồn trú ở Plei Ku), tôi phải cấp
phát giải tỏa toàn bộ số đạn dự trữ trong kho vì tình
hình rất nghiêm trọng, và có thể sẽ bị quân cộng sản
tấn công trong đêm nay. Chúng tôi sẽ cấp phát tối đa cho
các đơn vị đồn trú trong và ngoài thị xã theo khả năng
mà họ tiếp nhận được. Xin trình Ðại Tá rõ".
"Anh em cố gắng công tác khẩn cấp
này và mong anh em hoàn thành nhiệm vụ".
Sở dĩ Quân Ðoàn II ra lệnh trực
tiếp là vì các kho dự trữ của ngành Tiếp Vận tại các
địa phương chịu sự chỉ huy của hai hệ thống: Dưới quyền
của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận về hành chánh và chuyên môn của
ngành, trong khi Quân Ðoàn chỉ huy về mặt yểm trợ tác chiến.
Trình Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng
Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận xong, tôi liên lạc sang Phòng
2/Bộ Tổng Tham Mưu được biết, theo nguồn tin khả tín thì
lực lượng cộng sản xuất hiện chung quanh Ban Mê Thuột vào
khoảng 2 Sư Ðoàn, với một đơn vị Pháo Binh có thể lên
đến cấp Sư Ðoàn, và chúng có khả năng tấn công trong thời
gian sớm nhất, nghĩa là có thể ngay trong đêm nay. Ðại Tá
Loan và tôi, lo ngại về các cuộc tấn công của quân cộng
sản vào các tỉnh Cao Nguyên trong khi chúng tôi chưa hoàn tất
mức độ dự trữ các loại hàng tiếp liệu cho Plei Ku và
Kon Tum như lệnh của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên ban hành.
Trong lúc này, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ
Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận,
được phép của Tổng Thống đã đưa thân phụ của ông sang
Tokyo trị ung thư cổ, và Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục
Phó, xử lý thường vụ chức vụ Tổng Cục Trưởng.
Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi
vào đến văn phòng thì điện thoai reo liên hồi:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Lễ đây anh. Tôi mới nghe nói là
Ban Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến
từ giữa đêm qua. Ðâu anh xem lại có phải vậy không?
Ðó là Ðại Tá Trần Văn Lễ, Chỉ
Huy Trưởng Trường Tiếp Vận, đồn trú trong căn cứ Long
Bình, Biên Hòa.
Tôi gọi khắp các cơ quan phòng
sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên lạc được
với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả. Chợt
nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ của đơn vị Lôi Hổ
trên đó để hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt,
có thể còn giữ liên lạc được. Và đúng như vậy, Trung
Tá Trần Ðắc Trân, điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện
trực tiếp với nhân viên của Sở Liên Lạc trên đó. Trình
Ðại Tá Loan xong là tôi chạy sang anh Trân ngay. Tôi hỏi:
"Chào anh. Anh đang ở đâu đó?
"Em đang ẩn trú ở đầu phi trường
nhỏ trong thành phố Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng
nổ dữ lắm và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã
vào đến cuối sân bay rồi Ðại Tá ơi!
"Theo anh thì tụi nó đã vào trung
tâm thành phố chưa?
"Xe tăng của nó tấn công kho đạn
đêm qua, và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực Bộ
Tư Lệnh Sư Ðoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu
đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm, nhưng em nghĩ
là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ em phải rút ra ngoại
ô. Chào Ðại Tá".
"Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh
cùng các bạn vượt thoát bình an. Chào anh và các bạn".
Trở về Tổng Cục Tiếp Vận trình
lại Ðại Tá Loan. Ðại Tá Loan gọi ra Cam Ranh nói chuyện
với Ðại Tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, nhưng
không thu thập được tin tức gì khả quan cả. Bên hệ thống
Viba của Hành Chánh và Bưu Ðiện, cũng không liên lạc được
với Ban Mê Thuột.
Tôi gọi lên Quân Ðoàn II nói chuyện
với Ðại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn, được
biết Quân Ðoàn II đã cho phi cơ không thám trên không phận
ngoại ô Ban Mê Thuột chớ không vào sâu bên trong được vì
hỏa lực phòng không của quân cộng sản mạnh lắm, nên những
tin tức ghi nhận cũng không giúp được gì cho Quân Ðoàn khả
dĩ có đủ dữ kiện nhận định tình hình một cách rõ nét,
để có phản ứng thích nghi. Trong khi đó, Quân Ðoàn II sử
dụng phi cơ chiến đấu của Sư Ðoàn 2 Không Quân và Sư Ðoàn
6 Không Quân, oanh kích dữ dội vào quân cộng sản ven ngoại
ô Ban Mê Thuột, nhưng cũng không vào không phận trung tâm thành
phố để oanh kích các mục tiêu trong thành phố, do hỏa lực
phòng không của địch như những lưới lửa đan chéo cả
không phận Ban Mê Thuột.
Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung Ðoàn
hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Ðoàn giữ phi trường Phụng
Dực, nên sự chống trả yếu ớt của lực lượng phòng thủ
Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư Ðoàn
23 Bộ Binh, và các đơn vị Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân của
Tiểu Khu, trong khi lực lượng tăng viện của Quân Ðoàn trực
thăng vận xuống giải tỏa, nhưng bị hỏa lực phòng không
của cộng sản ngăn chận từ bên ngoài thành phố, không chống
nỗi quân cộng sản quá đông tràn ngập chiến trường! Những
trận đánh riêng lẻ -vì không có vị chỉ huy thống nhất-
chẳng thể nào đảo ngược được tình thế, để rồi đến
ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột và toàn tỉnh Darlac vào
tay quân cộng sản!
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, hai
tỉnh đã vào tay quân cộng sản!
****
3. Rút bỏ Cao Nguyên ngày 17 tháng
3 năm 1975.
Lúc bấy giờ các vị lãnh đạo
quốc gia, lãnh đạo quân đội, và vài cấp chỉ huy liên quan
đến những phản ứng sau đó, là:
- Tổng Thống: Nguyễn Văn Thiệu
(Trung Tướng).
- Thủ Tướng: Trần Thiện Khiêm
(Ðại Tướng).
- Tổng Tham Mưu Trưởng: Ðại Tướng
Cao Văn Viên.
- Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham
Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận: Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên. Ông được phép đưa thân phụ sang Tokyo
chữa bệnh ung thư, nên ông vắng mặt trong những ngày đầu
cuộc rút quân.
- Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Quân Khu
II: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú.
- Tư Lệnh hành quân triệt thoái:
Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất.
- Xử lý thường vụ Tổng Cục
Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận: Ðại Tá Phạm Kỳ Loan.
- Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2
Tiếp Vận (Qui Nhơn): Ðại Tá Bửu Khương.
- Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II,
Ðại Tá Lê Khắc Lý.
- Tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Ngày 14/3/1975, một buổi họp quan
trọng tại Cam Ranh dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống,
nhưng người bạn tôi ở Phủ Thủ Tướng không rõ nội dung
mà chỉ áng chừng là vạch kế hoạch phản công chiếm lại
Ban Mê Thuột. Rất tiếc là Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên chưa
về, nên tôi với Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó, không
biết gì hơn.
Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi
làm chiều, điện thoại reo:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Có ai ngồi gần anh không?
"Dạ không, thưa Ðại Tướng".
Ðó là Ðại Tướng Cao Văn Viên,
Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tiếp:
"Tuyệt đối là anh không cho ai biết
lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi hành".
"Vâng, tôi rõ thưa Ðại Tướng".
"Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu
phi cơ vận tải C.130 khả dụng?
"Thông thường thì sử dụng 2 hoặc
3 chiếc, nhưng trường hợp tối cần thiết có thể sử dụng
được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng tôi sẽ hỏi bên Không Quân và
sẽ trình lại Ðại Tướng con số chính xác hơn, thưa Ðại
Tướng".
"Thôi được. Ðiều cần thiết
là anh phải sử dụng tối đa vì đây là nhu cầu khẩn cấp.
Anh liên lạc ngay với Quân Ðoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc
thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào công tác gì thì tùy
họ. Nhiệm vụ kể từ ngày mai. Anh rõ chưa?
"Thưa Ðại Tướng, tôi rõ".
"Phần anh, anh chuyển các quân dụng
đắt tiền ra khỏi Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh".
"Vâng. Tôi thi hành, thưa Ðại Tướng".
Tôi thuật lại cho Ðại Tá Loan
nghe, và cả Ðại Tá Loan lẫn tôi, đều không ước tính được
là chuyện gì sắp xảy ra mà chúng tôi không được phép biết.
Nếu chuẩn bị đánh nhau với quân cộng sản thì tại sao
không để quân dụng lại thay thế số tổn thất? Nếu không
đánh nhau,..... mà không đánh nhau là thế nào? Thật không
hiểu nỗi!
Tổ chức một quân đội, phải
có hai yếu tố chính, là "con người và quân dụng". Quân dụng
do ngành Tiếp Vận quản trị. Những gì trang bị cho mỗi quân
nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, từ dinh dưỡng
đến điều trị khi bị thương hay đau yếu, vấn đề mai
táng và nghĩa trang, rồi doanh trại, phương tiện di chuyển,
rồi súng đạn, xe tăng thiết giáp, đại bác hỏa tiễn,......
đều là nhiệm vụ của ngành Tiếp Vận. Ấy vậy mà Tiếp
Vận lại không được quyền biết đến kế hoạch hành quân,
ít nhất là đối với lệnh vừa rồi của Ðại Tướng Tổng
Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa !
Trong quân đội, chỉ có Trung Tướng
Ðỗ Cao Trí và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, là hai vị Tư
Lệnh đại đơn vị đặt Tiếp vận vào đúng vị trí của
ngành này mà thôi. Ðiển hình là Trung Tướng Ðỗ Cao Trí,
Tư Lệnh Quân Ðoàn III, đầu năm 1970 khi soạn kế hoạch hành
quân sang lãnh thổ Cambodia tấn công các kho dự trữ tiếp
vận của quân cộng sản sát biên giới Việt Nam, sau khi quyết
định ngày N, Trung Tướng Trí nêu câu hỏi với Trung Tá Trương
Bảy (sau này là Chuẩn Tướng Cảnh Sát) Chỉ Huy Trưởng Bộ
Chỉ Huy 3 Tiếp Vận:
"Theo kế hoạch hành quân đã trình
bày, Tiếp Vận có chuẩn bị kịp không? Nếu không, Quân Ðoàn
sẽ lùi ngày lại".
Khi vị Tư Lệnh hỏi như vậy, cho
dù chuẩn bị gấp rút cách mấy cũng phải thực hiện cho
xong chớ đâu thể xin lùi ngày được. Ðằng nào cũng phải
vất vả, nhưng vất vả mà được biết đến vẫn vui lòng
hơn.
Ðầu tháng 12 năm 1974, trước khi
lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II, Thiếu Tướng
Phạm Văn Phú điện thoại tôi:
"Anh Hoa à, tôi sắp sửa lên Quân
Ðoàn II, anh cho tôi mượn Trung Úy Thiêm một tuần để nó
lên đó chọn hướng đặt bàn giấy giùm tôi nghe anh".
"Vâng. Tôi sẽ nói với anh Thiêm
và Thiếu Tướng cứ liên lạc trực tiếp với anh ấy về
những chi tiết cần thiết".
Lúc bấy giờ tôi là Cục Trưởng
Cục Mãi Dịch (đồn trú ở Sài Gòn). Trong đơn vị tôi có
Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm được nhiều người cho là giỏi
tướng số, tử vi, và chữ ký. Và sau 5 ngày công tác riêng
cho Thiếu Tướng Phú ở Plei Ku trở về, Trung úy Thiêm nói
với tôi:
"Thưa Ðại Tá, tôi thấy vận số
của Thiếu Tướng Phú hết rồi, nhiều lắm cũng chỉ tính
bằng tháng chớ không tính bằng năm đâu".
"Anh có nói gì với Thiếu Tướng
Phú không?
"Dạ không. Vì sợ Thiếu Tướng
mất tinh thần. Với lại có nói ra cũng không có cách gì giải
được, thà không nói vẫn hơn".
"Nghĩ như anh cũng phải".
(Năm 2004, khi sang Sydney, Australia,
tôi có gặp cựu Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm, đang là Giám Ðốc
một Công Ty của Hoa Kỳ tại Sydney). Tôi với anh thường liên
lạc thăm hỏi nhau qua e-mail)
Tôi nhớ, có một hôm Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên nói với tôi rằng, "Thiếu Tướng Phú tuổi
con rắn, nên Tổng Thống cử lên Quân Ðoàn II vì rắn thích
hợp với núi rừng". Thật sự có thích hợp hay không, tôi
nghĩ, quí vị đã rõ.
Trở lại lệnh của Ðại Tướng
Tổng Tham Mưu Trưởng. Tôi gọi lên Plei Ku liên lạc với Ðại
Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II:
"Tôi Hoa đây anh Lý. Tôi được
lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết là Quân Ðoàn
sử dụng vào công tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để
tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh không?
Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng của chúng
tôi giới hạn lắm".
"Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn
sử dụng vào công tác gì thì không thể nói được đâu".
Lời của Ðại Tá Lý.
"Ðành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu
chiếc? Cần vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới đâu?
"Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa
lên tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai (16/3/1975). Không trình có
thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn".
"Sao lại là có thể mà không rõ
nơi đến?
"Tôi không thể cho anh biết đâu".
"Vậy thì như thế này. Sáng mai
tôi cho lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực
tại phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất cánh ngay,
vì một lúc anh đâu sử dụng được 4 chiếc. Ðược không?
"Ðược. 8 giờ sáng mai anh cho có
mặt tại phi trường Cù Hanh nghe".
"Xong. Mình thỏa thuận như vậy".
Tôi trình Ðại Tá Loan là vẫn không
biết được gì thêm ở Quân Ðoàn II. Tôi cũng nêu thắc mắc
với Ðại Tá Loan, là tại sao Ðại Tá Lý nói "không trình
có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sài Gòn, mà không
xác định điểm đến một cách rờ ràng". Ðiều này hẳn
có gì bí ẩn bên trong.
Ðại Tá Phạm Kỳ Loan điện thoại
hỏi Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng
Tham Mưu, Chuẩn Tướng Thọ cũng không tiết lộ điều gì.
Bên Không Quân xác nhận là có thể sử dụng tối đa 9 chiếc
C.130, nhưng sau khi sử dụng như vậy thì các nhu cầu tiếp
theo không thể thực hiện được ít nhất là một tuần vì
phải tu bổ lại. Bộ Chỉ Huy Không Chiến, cơ quan điều động
phi cơ, đồng ý về thỏa thuận giữa tôi với Ðại Tá Lê
Khắc Lý, nghĩa là 2 chiếc C130 cất cánh lên Pleiku thì 2 chiếc
kế tiếp túc trực tại căn cứ Tân Sơn Nhất.
Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại
reo:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Ðại
Tá. Trưởng phi cơ C.130 đang trên không phận phi trường Cù
Hanh (Plei Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi trường
được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nỗi.
Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không liên lạc được
dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh Ðại Tá".
"Anh chuyển đến Trưởng phi cơ
là hãy chờ tôi vài phút để tôi liên lạc với Quân Ðoàn
II xem tình hình ra sao".
Gọi Quân Ðoàn II, và tôi nói chuyện
với Ðại Tá Lý:
"Phi cơ tôi đang trên không phận
của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh muốn họ
đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay giùm đi. Nếu chậm
quá thì họ sẽ về lại Sài Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra
vậy Anh?
"Tại vì người ta tranh nhau chờ
lên phi cơ mới có chuyện tràn ngập đường băng như vậy.
Ðể tôi cho Quân Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống
cho tôi đi".
"Thì phi hành đoàn đang chờ đường
băng trống là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi.
Anh nhớ ưu tiên cho anh Liên Ðoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp Vận
của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng xuống
Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe".
Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không
Chiến chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó, phi cơ đáp
xuống được tuy rất khó khăn vì đông nghẹt người là người
hai bên đường băng. Ðể rồi một hình ảnh hỗn loạn chưa
từng thấy -theo lời thuật của Trưởng phi cơ- là cả một
rừng người chen lấn xô đẩy, thậm chí đạp lên nhau để
tranh lên phi cơ, và hết sức khó khăn đến độ nguy hiểm,
phi hành đoàn mới cho phi cơ cất cánh được.
Hóa ra là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn
II chuyển xuống Nha Trang. Tôi trình ngay cho Ðại Tá Loan vì
ước tính là sắp đánh nhau với quân cộng sản rồi. Ước
tính này không phải là vô căn cứ, bởi vì cộng sản đã
chiếm Ban Mê Thuột, thủ phủ Cao Nguyên, bây giờ chúng tấn
công vào Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II (ở Plei Ku) cũng là điều
xảy ra trong quân sự thôi. Nhưng chúng tôi nhầm ...
Vì sáng ngày 17/3/1975, trong lúc 2
chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì điện thoại nhà tôi
reo, hôm nay là chủ nhật nên tôi đi làm muộn:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Ðại
Tá. Trưởng phi cơ cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay
không có bóng một sinh vật nào cả, và bây giờ phi hành đoàn
xin phép về lại căn cứ".
"Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm
tôi, nếu sự thực hoàn toàn đúng như vậy thì tôi đồng
ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là trách nhiệm rất quan trọng
nghe anh".
Tôi điện thoại qua nhà Ðại Tá
Phạm Kỳ Loan, và ngay sau đó Ðại Tá Loan liên lạc Chuẩn
Tướng Trần Ðình Thọ (Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu)
nhưng Chuẩn Tướng Thọ vẫn không nhỏ được một giọt
thông tin nào về tình hình đó cả. Tôi và Ðại Tá Loan tức
lắm, nhưng chúng tôi không có cách nào khác vì Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên đi Tokyo chưa về. Có vẻ như chúng tôi bị
coi như là những sĩ quan không đáng tin cậy thì phải, ít
nhất cũng là không được tin cậy trong cuộc hành quân này,
dù rằng Ðại Tá Loan đang là cấp chỉ huy cao nhất của ngành
Tiếp Vận với gần 100.000 quân nhân công chức chuyên ngành,
và quản trị một khối lượng dụng cụ chiến tranh trên
dưới 7 tỉ mỹ kim!
Tất cả các hệ thống liên lạc
truyền tin bằng vô tuyến lẫn hữu tuyến của quân đội,
cũng như hệ thống liên lạc bên hành chánh, đều không liên
lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Plei Ku cả.
Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp
Vận ở Qui nhơn, cũng không có tin tức gì khá hơn trong khi
đoàn quân xa hơn 100 chiếc của Liên Ðoàn 2 Vận Tải (Qui
Nhơn) vẫn còn kẹt trên Plei Ku vì quốc lộ 19 nối liền Qui
Nhơn - Plei Ku bị quân cộng sản chiếm giữ nhiều chặng.
Một tình hình không thể hiểu nỗi ít nhất là đối với
ngành Tiếp Vận chúng tôi. Không biết tại sao lúc ấy chúng
tôi không nghĩ đến giả thuyết nào khác, chẳng hạn như
Quân Ðoàn II vờ rút quân ra ngoài để thành phố bỏ ngỏ
cho quân cộng sản tiến vào, rồi bất thình lình quật lại
tấn công chúng ngay trong thành phố. Còn về giả thuyết rút
bỏ Cao Nguyên thì nhất thiết không thể có trong tư tưởng
của bất cứ sĩ quan nào chớ chẳng riêng gì chúng tôi. Cho
dù một giả thuyết như vậy thôi cũng không có trong hàng
sĩ quan cấp dưới, nhưng nó lại là một kế hoạch thật
sự của vị lãnh đạo đất nước 20.000.000 dân, trong đó
có một quân đội hơn 1.000.000 người!
Cả hai chúng tôi -Ðại Tá Loan và
tôi- không thông báo tình hình tệ hại đó cho bộ tham mưu
Tổng Cục Tiếp Vận biết, trong khi chúng tôi hết sức lo
lắng cho tất cả quân nhân nói chung và số phận của anh
em trong ngành Tiếp Vận ở Plei Ku và Kon Tum nói riêng, vì chúng
tôi không có bất cứ một thông tin nào về tình hình đó,
kể cả nguồn cung cấp chính xác nhất là vị Tướng Trưởng
Phòng 3 ngang hàng với cơ quan chúng tôi, và vị Tổng Tham Mưu
Trưởng cấp trên của chúng tôi cũng vậy.
Chiều 18/3/1975, điện thoại reo:
"Ðại Tá Hoa tôi nghe".
"Khương đây anh Hoa". Ðó là Ðại
Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận,
đồn trú tại Qui Nhơn.
"Anh có tin gì về anh em mình trên
Plei Ku chưa?
"Liên Ðoàn 2 Vận Tải mới liên
lạc vô tuyến với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Ðoàn
xe này đang cùng với hằng ngàn quân xa và dân xa rút bỏ Plei
Ku và Kon Tum, đang di chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để
xuống Tuy Hòa. Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến
đấu, cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt
qua Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến
xa M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn thất
rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy
phản ứng của Quân Ðoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!
"Ðược rồi. Bảo vệ đoàn quân
và khi nào xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm
của Quân Ðoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức nhiều
toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy và
đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách một công tác, để
khi đoàn quân xuống đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất
cứ đơn vị nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông
thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ. Hàng mang
theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn 3 ngày, 1 bộ quần áo
trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy bánh và xe chạy xích.
Toán Quân Y thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và cấp
cứu đầu tiên. Anh thấy được không?
"Ðược anh. Ðể tôi lo".
"Anh nói Liên Ðoàn 2 Vận Tải ráng
giữ liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về đoàn quân
này thì anh cho tôi biết ngay nghe anh Khương".
Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc
bị kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển
tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên
liệu), loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ
cho 20.000 quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy
mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về giữa
Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn
lên Plei Ku.
Tôi sang văn phòng Ðại Tá Loan,
và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại lên văn phòng
Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng:
"Tôi Hoa đây anh Nguyện (Ðại Tá
Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho tôi trình vấn
đề gấp với Ðại Tướng".
"Anh chờ tôi một chút".
"Tôi đây".
"Thưa Ðại Tướng, tôi Hoa đây".
"Có việc gì vậy?
"Thưa Ðại Tướng, cách đây vài
phút, Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2
Tiếp Vận, cho tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku và Kon
Tum đang bị sa lầy ... (tôi thuật lại chi tiết mà tôi với
Ðại Tá Khương đã nói với nhau).
"Anh có chắc là đúng như vậy không?
"Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến
Ðại Tá Khương như thế nào thì tôi không dám chắc, nhưng
từ Ðại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn chính xác, thưa
Ðại Tướng".
"Thôi được. Anh đừng nói với
ai nữa nghe".
"Vâng".
Ðại Tá Loan và tôi đều ngẩn
ngơ về câu sau cùng của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Chúng tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao tình hình đến
như vậy mà vẫn muốn giấu kín chúng tôi nữa! Vài phút sau
đó, Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng
Tham Mưu, điện thoại tôi:
"Cưng ơi (Chuẩn Tướng Thọ thường
gọi tôi như vậy), cưng có liên lạc với đoàn xe trên đường
số 7 hả?
"Tôi không trực tiếp liên lạc
nhưng Liên Ðoàn 2 Vận Tải của chúng tôi đã liên lạc được
với đoàn xe chở tiếp liệu lên Plei Ku và bị kẹt trên đó,
nay thì cùng trong đoàn quân sa lầy mà vừa rồi tôi đã trình
Ðại Tướng".
"Có. Ðại Tướng mới gọi anh đây.
Cưng cứ biết vậy thôi nghe".
Cũng lại giấu nhau!
Tôi có biết chút ít về đường
liên tỉnh số 7 này, từ đoạn Plei Ku vào đến Cheo Reo và
xuống đến Cung Sơn. Vì cuối năm 1955 -lúc bấy giờ tôi là
Thiếu Úy, Ðại Ðội Trưởng thuộc Tiểu Ðoàn Khinh Quân
510- toàn bộ Tiểu Ðoàn chúng tôi từ Vĩnh Long, cùng với
Tiểu Ðoàn Khinh Quân 507, và Tiểu Ðoàn Khinh Quân 527 từ Trà
Vinh, di chuyển lên Cao Nguyên và đồn trú tại Cheo Reo, để
thành lập Trung Ðoàn 35 Bộ Binh trong hệ thống tổ chức Sư
Ðoàn Khinh Chiến 12. Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đồn trú tại Plei
Ku. Các Tiểu Ðoàn được cấp phiên hiệu như sau: Tiểu Ðoàn
507 thành Tiểu Ðoàn 1/35, Tiểu Ðoàn 510 chúng tôi thành Tiểu
Ðoàn 2/35, và Tiểu Ðoàn 527 thành Tiểu Ðoàn 3/35.
Vì các đơn vị yểm trợ tiếp
liệu và hành chánh tài chánh đồn trú ở Plei Ku, nên chúng
tôi thường xuyên đi lại giữa Cheo Reo với Plei Ku bằng đường
liên tỉnh số 7 và một đoạn quốc lộ 14. Sở dĩ đoạn
đường từ ngã ba quốc lộ 14 với liên tỉnh lộ 7 -tên địa
phương là Mỹ Thạch- vào đến Cheo Reo còn sử dụng được,
là vì trong chiến tranh giữa thực dân Pháp với cộng sản
1946-1954 (lúc đó Cộng sản núp dưới tên Việt Minh), Cheo
Reo là cứ điểm quân sự của Pháp, nên đường này được
tu bổ vì nó là "con đường huyết mạch" của cứ điểm.
Còn đoạn từ Cheo Reo xuống Cung Sơn và Tuy Hòa, quân đội
Pháp không sử dụng nên không tu bổ gì cả. Khi Trung Ðoàn
chúng tôi đến Cheo Reo, xác những chiếc thiết giáp của Pháp
còn ngổn ngang tại đó, còn chiếc cầu bắc ngang Sông Ba thì
tồi tệ hơn bất cứ chiếc cầu tồi tệ nào. Thuở ấy "rất
là hòa bình", nên chúng tôi thường đi săn trên đường từ
Cheo Reo xuống đến Cung Sơn, chỉ cần thận trọng một chút
thì xe jeep vẫn bò qua chiếc cầu tồi tệ ấy được. Trên
đoạn đường này, chiếc xe jeep của chúng tôi chỉ gọi là
"bò" chớ không thể gọi là chạy được vì mặt đường
giữa vùng rừng già heo hút này hầu như không còn gì để
gọi là con đường nữa.
Giữa năm 1969, lúc ấy tôi là Ðại
Tá, tháp tùng Trung Tướng Nguyễn Văn Là, đến thăm các đơn
vị tại Cheo Reo và các quận lân cận, con đường bên kia
Sông Ba được tu bổ đôi chút. Và nếu đoạn đường tiếp
nối xuống Cung Sơn để ra Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên) không được
tu bổ thường xuyên, mà Quân Ðoàn II quyết định sử dụng
cho đoàn quân hơn 10.000 người cùng với trên dưới 2.000 quân
xa, dân xa, và chiến xa hạng nặng triệt thoái, quả là tạo
được bất ngờ đối với địch, nhưng phải nói là quá
liều lĩnh! Bất ngờ, nhưng con đường có sử dụng được
hay không, lại là vấn đề trước mặt của Quân Ðoàn II
nói chung, và của bộ chỉ huy hành quân cuộc hành quân lui
binh này nói riêng.
Chiều tối hôm sau thì Trung Tướng
Ðồng Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe
chúng tôi trình bày về tình hình từ ngày ông vắng mặt đến
nay, ông nói sáng mai sẽ trình diện Tổng Thống với Ðại
Tướng, chắc là sẽ có tin tức rõ ràng hơn.
Và đây là những tin tức đó. "...
Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực của quân cộng sản rất
mạnh. Tổng Thống nhận định là không đủ khả năng bảo
vệ toàn bộ Cao Nguyên trong khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn
là Plei ku với Kon Tum, vì vậy mà Tổng Thống trong buổi họp
tại Cam Ranh, đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn,
để đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột.
Tổng Thống giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân
Ðoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt thoái
khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa và bảo
vệ toàn vẹn lực lượng. Thiếu Tướng Phú trình kế hoạch
là rút theo đường liên tỉnh số 7, dù rằng con đường này
không sử dụng từ lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ
đối với lực lượng cộng sản. Với đề nghị của Thiếu
Tướng Phú, Tổng Thống thăng cấp Chuẩn Tướng cho Ðại
Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không đồng ý, nhưng
Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị, và sau cùng thì
Tổng Thống chấp thuận. Lúc bấy giờ, Ðại Tá Phạm Duy
Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Ðoàn II.
Khi mang cấp bậc Chuẩn Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm
Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh
cuộc hành quân lui binh.
Hết giờ buổi chiều khá lâu, bộ
tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận chỉ còn nhân viên trực hoạt
động. Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng (ông ngồi
ở văn phòng Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, trên tòa nhà
chánh), và ông đưa tôi xem một xấp không ảnh (ảnh chụp
từ trên phi cơ) đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ
xấp không ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình
dài mà là một hình gần như tròn, vì khi phần đi đầu bị
kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua bên trái hay bên phải
với hy vọng tìm được lối đi, nhưng càng lấn vào rừng
thì càng không lối thoát, và cứ như thế mà cả đoàn xe
quá nhiều đó đã tạo nên dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh
những khoanh tròn bằng ngòi bút của chuyên viên giải đoán
không ảnh, có gần 800 xe đã bị thiêu hủy. Nếu như giải
đoán viên không ảnh chính xác hay ít ra cũng gần như vậy,
thì chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh số 7
mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe các
loại, quả là rất nặng. Trong số tổn thất đó có Tiểu
Ðoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và Trung Ðoàn Chiến Xa hạng
nặng M48". Ðây là hai loại vũ khí mới được Hoa Kỳ viện
trợ năm 1973 bằng cách các đơn vị pháo binh và chiến xa
của họ chỉ rút người về nước và để toàn bộ chiến
cụ đó lại cho quân đội chúng ta. Với chiến xa M48, nó là
loại vũ khí đã cũ, thậm chí là quá cũ đối với Hoa Kỳ,
nhưng với chúng ta nó là loại mới!
Những bài học chiến thuật trong
trường Võ Bị cũng như trường Ðại Học Quân Sự (hậu
thân của Viện Nghiên Cứu Quân Sự Ðông Dương của Pháp
và là tiền thân của trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp) đều
thừa nhận rằng, trong các cuộc hành quân thì hành quân rút
lui (hay triệt thoái, hay lui binh) là nhiều hiểm nguy hơn các
cuộc hành quân khác, vì đơn vị "đưa lưng" về phía địch.
Khi tấn công thì trước mặt là địch và sau lưng là hậu
tuyến, còn trong rút lui thì trước mặt lại là hậu tuyến
mà sau lưng trở thành tiền tuyến. Nguy hiểm là vậy. Nguyên
tắc căn bản của bài học "lui binh" là phải có một lực
lượng hành quân giao tiếp để bảo đảm an toàn phía trước
mặt (hậu tuyến), còn lực lượng lui binh thì tự bảo vệ
phía sau lưng (tiền tuyến), ngoài ra phải được Không Quân
quan sát và yểm trợ hỏa lực nữa.
Với cuộc hành quân giao tiếp chậm
chạp từ Tuy Hòa lên, đoàn quân triệt thoái ngày càng tan
tác trên đường lui binh vô cùng hỗn loạn vì bị quân cộng
sản liên tục phục kích, tập kích. Khi về đến Tuy Hòa thì
tổn thất đến nỗi không còn khả năng thực hiện kế hoạch
phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa. Số dân thường
bị chết dọc đường nhiều không kém số thương vong của
quân đội. Chết vì súng đạn, chết vì xe cộ tranh giành
lối đi mà gây tai nạn bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng
ăn nước uống, chết vì cướp giật, ..v.. v...
Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là Plei
Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn được lực
lượng gồm một phần của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, các Liên Ðoàn
Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh, Truyền Tin,
và các ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban
Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung bỗng dưng
rơi vào tay quân cộng sản một cách nhẹ nhàng. Tôi nói "bỗng
dưng", vì rút bỏ Plei Ku từ đêm thứ bảy 16 rạng ngày chủ
nhật 17 tháng 3 năm 1975, mà đến 3 giờ 15 phút chiều thứ
tư 20/3/75 tín hiệu của Truyền Tin tại Bộ Tư Lệnh Quân
Ðoàn II mới ngưng hoạt động. Ðại Tá Cục Trưởng Cục
Truyền Tin nói với tôi như vậy. Ðiều này có thể là lúc
đó quân cộng sản mới đến và phá hủy máy móc hoặc tắt
máy, cũng có thể là quân cộng sản chưa chiếm nhưng vì máy
phát điện hết nhiên liệu nên cả hệ thống đều ngưng
hoạt động. Cho dù ở vào trường hợp nào đi nữa, thì rõ
ràng là quân cộng sản mà mình tưởng nó bao vây hay sắp
sửa bao vây Plei Ku, nhưng thật ra chúng còn ở tận đâu đâu
nên mãi 4 ngày sau -đó là thời gian sớm nhất- chúng mới
vào chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn, trong khi những Sư Ðoàn
của chúng ở càng xa Plei Ku về hướng Nam và Ðông Nam thì
khoảng cách càng gần với đoàn quân triệt thoái hơn, do đó
mà thiệt hại của đoàn quân nặng nề chưa từng thấy trong
20 năm chiến tranh! Một thất bại vô cùng đau đớn cho những
người cầm súng, nhất là những người cầm súng dưới quyền
chỉ huy của vị Tư Lệnh đã từng xông pha trận mạc!
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, khi
còn là sĩ quan cấp Úy cấp Tá trong hàng ngũ quân đội Liên
Hiệp Pháp lẫn trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã có tiếng
là cấp chỉ huy can đảm, không lùi bước bất kể chiến
trận gay go nghiêng ngả như thế nào. Nay, với chức vụ Tư
Lệnh Quân Ðoàn II, liệu có phải là hơi quá tầm lãnh đạo
chỉ huy của ông không? Hay là quyền lực hoặc khả năng của
ông bị điều gì đó giới hạn?
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã
tự tử ngay ngày 30 tháng 4 năm 1975. Với chiếc xe đạp mới
toanh, tôi đến chùa Vĩnh Nghiêm (Sài Gòn) vào sáng sớm ngày
2 tháng 5 năm 1975, trước quan tài ông, đứng nghiêm khá lâu,
nhìn chung quanh trước khi đưa tay lên ngang trán chào ông đúng
tác phong một sĩ quan cấp dưới. Tôi chào tiễn biệt Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú, tiễn biệt Ông vào cõi vĩnh hằng giữa
hoàn cảnh đau thương của đất nước, dân tộc!
Năm 1960, trong thời gian tôi học
tại Trường Ðại Học Quân Sự, tôi đọc được một tập
tài liệu, có nhận định rằng: "Trong chiến tranh Việt Nam,
ai chiếm giữ được Cao Nguyên miền Trung, người đó sẽ
nắm phần chiến thắng". Chắc chắn rằng, những vị Tướng
của chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo quốc gia và lãnh đạo
quân đội đều biết tài liệu đó, nhưng có thể các vị
bị chính trị đẩy Cao Nguyên ra khỏi tầm tay chăng?
4. Việt Nam Cộng Hòa chúng ta
đã thu ngắn theo chiều Bắc Nam!
Ngược dòng thời gian, thượng tuần
tháng 5/1954, Ðiện Biên Phủ do 13.000 quân của Pháp trấn giữ,
đã thất thủ làm rúng động toàn bộ quân viễn chinh Pháp
tại Ðông Dương và rúng động cả nước Pháp. Và hiển nhiên
là sự thất trận này đã đưa nước Pháp đến tình trạng
phải rời khỏi Ðông Dương gồm Việt Nam, Cam Bốt, và Lào.
Hơn 20 năm sau -tháng 3/1975- toàn
bộ Cao Nguyên miền Trung vào tay quân cộng sản, làm rúng động
toàn quân và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa. Và liệu sự thất
bại này có phải là nguyên nhân dẫn đến toàn bộ Việt
Nam Cộng Hòa vào tay quân cộng sản từ ngày cuối tháng 4/1975
không? Dù gì đi nữa thì sự thể đã là như vậy rồi!
Tình trạng hỗn loạn bi đát trong
cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7, nếu
chưa phải là nguyên nhân chính, cũng là khởi đầu cho sự
hỗn loạn trong các cuộc hành quân lui binh của Quân Ðoàn
I, và các Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân
Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Hải Quân, Không Quân, dọc các
tỉnh duyên hải từ Quảng Trị , Huế, Ðà Nẳng, đến Quảng
Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa,
Cam Ranh.
Trước ngày cuối tháng 3/1975, từ
Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ. Tôi nói "bỏ ngỏ"
vì không có Tiểu Khu nào hay Trung Ðoàn, Sư Ðoàn nào, phòng
thủ chống lại quân cộng sản, hoặc nếu có chống trả
như Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại sườn Tây Ðà Nẳng cũng chỉ
trong thời gian ngắn ngủi là rút lui, còn lại là rút đi trước
khi quân cộng sản đến!
Trong số những vị Tướng Tư Lệnh
đại đơn vị thuộc Quân Ðoàn I và Quân Ðoàn II rút khỏi
vùng trách nhiệm của những vị đó, tôi luôn tự hỏi về
thái độ của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân
Ðoàn I/Quân khu I. Tôi được tiếp xúc với ông qua những
công tác "dự phòng chống đảo chánh" từ năm 1965 khi ông
là Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Nhẩy Dù. Chính vì hiểu ông mà tôi
tự hỏi như vậy. Bởi trong cuộc tấn công của quân cộng
sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, Huế và nhất là trong
khuôn viên thành nội, nơi có bản doanh cùng một số đơn
vị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh đồn trú, đã bị quân cộng sản
chiếm giữ trong 3 tuần lễ. Lúc bấy giờ, Chuẩn Tướng Ngô
Quang Trưởng (cấp bậc lúc ấy) là Tư Lệnh Sư Ðoàn này.
Cuộc phản công chiếm lại từng khu vực trong thành nội Huế
rất cam go với tổn thất khá nặng, Chuẩn Tướng Trưởng
đã chứng tỏ quyết tâm tiêu diệt quân cộng sản hay ít
nhất cũng phải đánh bật chúng ra khỏi Huế trong thời gian
ngắn nhất, khi ông đứng nghiêm chỉnh ở chân cột cờ với
lễ phục và huy chương biểu tượng cho các chiến công của
ông, Chuẩn Tướng Trưởng đã kêu gọi quyết tâm của quân
sĩ dưới quyền ông hãy vì danh dự và trách nhiệm đối với
tổ quốc dân tộc. Qua lời kêu gọi đầy trách nhiệm cùng
với nhiệt tâm của ông, chính là quyết tâm của vị Tư Lệnh
cùng quân sĩ chiến đấu, đã thúc đẩy cuộc phản công của
Sư Ðoàn đến chiến thắng vẻ vang. Ðành rằng trong cuộc
hành quân phản công này, có sự chiến đấu yểm trợ của
quân lực Hoa Kỳ, nhưng Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Việt Nam vẫn là
lực lượng chính.
"Mùa Hè Ðỏ Lửa" năm 1972, Trung
Tướng Ngô Quang Trưởng (đã thăng cấp) đang là Tư Lệnh
Quân Ðoàn IV/Quân khu IV vùng đồng bằng Cửu Long, được
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư Lệnh Quân
Ðoàn I/Quân Khu I và tức tốc lên phi cơ ra Ðà Nẳng nhận
chức. Một vị Tướng như thế, tôi nghĩ, ông không thể để
Ðà Nẳng vào tay quân cộng sản gần như êm thấm như vậy!
Xin nhớ, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng gốc là binh chủng Nhẩy
Dù, và binh chủng này là một trong những binh chủng rất lì
với chiến trận. Nhưng sự thể đã diễn ra như vậy, ắt
phải có điều gì đằng sau quyết định rút bỏ thành phố
cảng quan trọng của miền Trung. Và chỉ có Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng mới có thể hiểu đến tận cùng điều ấy
mà thôi.
Xin mở ngoặc. Tối ngày 6/9/2003,
khi vợ chồng tôi dự tiệc cưới tại Washington DC, chúng tôi
ngồi chung bàn với cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, và
cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tôi có ý định hỏi
Trung Tướng Trưởng về điều thắc mắc của tôi, nhưng vì
cựu Phó Ðề Ðốc Thoại lại đưa vấn đề cuộc đảo chánh
ngày 1/11/1963 hỏi tôi nên mãi nói chuyện với ông, để rồi
cuối cùng không còn thì giờ xin lời tâm sự từ cựu Trung
Tướng Ngô Quang Trưởng. Và đóng ngoặc.
Hai chục năm sau năm 1975. Ngày 14/1/1995,
tôi gặp anh Nguyễn Thành Trí trong chợ Hong Kong ở Houston,
bạn tôi. Anh là cựu Ðại Tá, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy
Quân Lục Chiến, và Sư Ðoàn này đặt dưới quyền sử dụng
dài hạn của Quân Ðoàn I từ sau trận chiến Mùa Hè Ðỏ
Lửa năm 1972. Xin mời quí vị lui lại 20 năm trước, và xin
quí vị cứ tưởng như chúng ta đang sống lại những ngày
cuối tháng 3 năm 1975 tại Ðà Nẳng, lúc ấy bộ chỉ huy hành
quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ở khu vực Non Nước,
để nghe anh kể lại một góc nhỏ trong cuộc triệt thoái
khỏi Ðà Nẳng:
''Khoảng 5 giờ chiều ngày 28 tháng
3 năm 1975, quân cộng sản tấn công vào Sư Ðoàn 3 Bộ Binh
ở sườn Tây Ðà Nẳng, và chỉ chống trả trong thời gian
ngắn là Sư Ðoàn 3 Bộ Binh rút lui, tạo khoảng trống bên
sườn của Thủy Quân Lục Chiến, và các đơn vị co về bản
doanh Sư Ðoàn (Thủy Quân Lục Chiến). Thiếu Tướng Bùi Thế
Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, đã rời khỏi
Sư Ðoàn và lên chiến hạm của Hải Quân (Việt Nam) từ lúc
chiều. Nhưng trước khi đi ông có đến gặp Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng xin quyết định vì tình hình rất nghiêm trọng,
nhưng Trung Tướng Trưởng không nói gì cả. Khi đến bộ chỉ
huy hành quân Sư Ðoàn, có cả ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại
Ðà Nẳng cùng đi với Thiếu Tướng Lân. Ông Tổng Lãnh Sự
có mang theo máy vô tuyến cầm tay loại nhỏ, chốc chốc ông
ta thông báo vị trí của ông với ai ở đâu đó mà tôi (tức
cựu Ðại Tá Trí) không rõ. Thiếu Tướng Bùi Thế Lân nói
với tôi rằng: Ông Tổng Lãnh Sự khuyên ổng (tức Thiếu
Tướng Lân) nên bảo toàn lực lượng, nhưng Thiếu Tướng
Lân không nói điều này với Trung Tướng Trưởng.
''Khoảng nửa đêm 28 rạng 29 tháng
3 năm 1975, có tiếng động cơ trực thăng xuống bãi đáp bên
cạnh, sĩ quan trực chạy ra đón và hướng dẫn phái đoàn
vào bộ chỉ huy hành quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến,
gồm các vị: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng
Khánh (tôi không biết họ) Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Không Quân (đồn
trú tại Ðà Nẳng), Ðại Tá Phước (cũng không biết họ)
Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 51/Sư Ðoàn 1 Không Quân, Ðại
Tá Nguyễn Hữu Duệ, Tỉnh/Thị Trưởng Thừa Thiên/Huế, và
Ðại Úy sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Trưởng. Tại bộ
chỉ huy hành quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, sau khi Trung
Tướng Trưởng liên lạc với các đơn vị và được biết
đã rút lui an toàn (tức bỏ Ðà Nẳng), Trung Tướng Trưởng
nói với các sĩ quan cùng đi theo ông:
"Bây giờ thì các anh hãy tự thoát,
còn tôi , tôi đi theo Thủy Quân Lục Chiến".
''Trung Tướng Trưởng vừa nói xong
thì gần như cùng một lúc, Chuẩn Tướng Khánh, Ðại Tá Phước,
Ðại Tá Duệ, cùng chào Trung Tướng Trưởng và lên trực
thăng cất cánh ngay.
''Khoảng 6 giờ sáng ngày 29 tháng
3 năm 1975, sĩ quan trực vào trình tôi là chiến hạm đang tiến
vào để đón các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đến
trình Trung Tướng Trưởng:
"Thưa Trung Tướng, tôi không biết
do lệnh từ đâu mà chiến hạm đang chờ đón tôi và các
đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Vậy Trung Tướng nên đi với
chúng tôi ngay bây giờ, thưa Trung Tướng".
''Sau một lúc chần chừ như có
ý không muốn rời Ðà Nẳng, ông đứng dậy cùng đi với
tôi. Nhưng vì chiến hạm không vào sát bờ được, cũng không
có tàu nhỏ để từ bờ ra chiến hạm, nên tất cả đều
lội nước, và khi mực nước lên đến ngực cũng là lúc
trèo lên tàu. Sau khi mọi người lên chiến hạm, lúc ấy tôi
trông thấy Ðại Tá Hường (Nguyễn Xuân Hường), Tư Lệnh
Lữ Ðoàn 1 Kỵ Binh đã có mặt trên tàu. Chiến hạm lui ra
khơi nhưng chưa chạy, có vẻ như chờ lệnh hay chờ ai đó.
''Vài tiếng đồng hồ sau, chiếc
trực thăng chở các sĩ quan rời khỏi bộ chỉ huy hành quân
Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến lúc nửa đêm qua, đã quay trở
lại, không rõ là do thời tiết xấu hay vì lý do gì đó, cả
ba vị là Chuẩn Tướng Khánh, Ðại Tá Phước, với Ðại
Tá Duệ, cùng lội nước ra chiến hạm. Vẫn là chiến hạm
đang có Trung Tướng Trưởng trên đó. Tôi thấy sự chia tay
đêm qua sao mà thản nhiên quá, thản nhiên đến mức không
có vẻ gì có chút tình cảm đọng lại trong giây phút chia
tay đó làm tôi cảm thấy khó chịu. (lời của Phạm Bá Hoa:
Thuật chuyện đến đây đôi mắt anh Trí đỏ hoe, chực phát
khóc! Rõ ràng là anh đang xúc động!)
Sau phút im lặng vì xúc động, cựu
Ðại Tá Nguyễn Thành Trí kể tiếp:
''Tôi nhờ ông Hạm Trưởng để
3 sĩ quan này ở phía trước hầu tránh cho Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng trông thấy e không đẹp lòng nhau. Mãi đến quá
trưa, chiến hạm mới rời vùng biển Ðà Nẳng và trực chỉ
Cam Ranh. Giữa chiến hạm với Bộ Tư Lệnh Hải Quân giữ
liên lạc vô tuyến chặt chẽ, nên khi chiến hạm vừa đến
vịnh Cam Ranh thì nhận được công điện của Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu. Theo đó, Tổng Thống ra lệnh cho tất cả
lên bờ, chỉ riêng Trung Tướng Trưởng vẫn ở trên chiến
hạm và về Sài Gòn ngay. Tôi thắc mắc nếu muốn Trung Tướng
Trưởng về Sài Gòn ngay thì tại sao Tổng Thống hay Bộ Tổng
Tham Mưu không cho phi cơ ra Cam Ranh đón mà lại bảo đi bằng
tàu? Lúc đó Trung Tướng Trưởng nói là ông đi theo Thủy
Quân Lục Chiến chớ không về Sài Gòn. Ðến khi Thiếu Tướng
Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II, từ Nha Trang vào Cam Ranh
khuyên Trung Tướng Trưởng nên về Sài Gòn theo lệnh Tổng
Thống. Sau đó, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân
Ðoàn I đã theo chiến hạm về Sài Gòn''.
Ðến đây là hết lời kể của
cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy
Quân Lục Chiến.
Với lời thuật trên đây của cựu
Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, tôi nghĩ rằng: rất có thể là
các vị Tư Lệnh đại đơn vị tại Quân Ðoàn I, từ binh
chủng Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, đến quân
chủng Hải Quân, Không Quân, và cũng có thể ngay cả Trung
Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I nữa, đã nhận
được lời khuyên "bảo toàn lực lượng" như Thiếu Tướng
Bùi Thế Lân đã nhận của ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại
Ðà Nẳng cũng nên? Và không chừng chiến hạm vào gần bờ
để đón Thủy Quân Lục Chiến cũng từ "lời khuyên" của
ông Tổng Lãnh Sự nữa chăng! Vì rõ ràng là cựu Ðại Tá
Trí không hề biết lệnh xuất phát từ đâu mà. Và phải
chăng với "lời khuyên" đó đã dẫn đến các vị Tư Lệnh
có quân có quyền trong tay lần lượt rời khỏi đơn vị hoặc
chỉ huy đơn vị triệt thoái? Ðiều này tôi không rõ, nhưng
có điều quí vị đều rờ là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I và
Ðà Nẳng đã vào tay quân cộng sản quá dễ như khi vào Bộ
Tư Lệnh Quân Ðoàn II ở Plei Ku vậy!
Bây giờ xin mời quí vị nhìn vào
đoàn người đông đảo đã "bỏ của chạy lấy người" được
các loại tàu quân sự lẫn tàu hàng hải, tàu của Việt Nam
lẫn thương thuyền ngoại quốc thuê mướn, vận chuyển đồng
bào từ Huế, Ðà Nẳng, và các tỉnh dọc duyên hải xuôi
Nam, và đưa ra đảo Phú Quốc tạm trú. Phú Quốc thuộc tỉnh
Kiên Giang mà tỉnh lỵ là Rạch Giá, nằm ngay cửa ngỏ vịnh
Thái Lan. Số đồng bào chạy loạn này do Bộ Xã Hội phụ
trách nuôi ăn trong khi chờ biện pháp giải quyết chung. Bộ
Xã Hội yêu cầu Tổng Cục Tiếp Vận giúp họ tiếp tế mỗi
ngày 20.000 phần cơm vắt và phi cơ đưa ra Phú Quốc cung cấp
cho đồng bào. Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên bảo tôi lo giúp
Bộ Xã Hội. Tôi điện thoại lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang
Trung, xin tiếp chuyện với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Chỉ
Huy Trưởng Trung Tâm này:
"Hoa đây Anh. Có việc này xin nhờ
Anh và hi vọng Anh tiếp tay được". Xin lỗi quí vị, tôi xưng
hô như vậy với Thiếu Tướng Trần Bá Di, vì chúng tôi thân
nhau từ lâu.
"Việc gì mà coi bộ quan trọng vậy
anh?
"Tại Phú Quốc hiện có khoảng
20.000 đồng bào của các tỉnh miền Trung chạy vào tạm trú,
bên Bộ Xã Hội nhờ quân đội nấu cơm, vắt lại từng vắt,
và dùng phi cơ quân sự đưa ra Phú Quốc cho đồng bào. Chuyện
này là chuyện hằng ngày nghe Anh. Gạo thì Bộ Xã Hội cung
cấp. Anh liệu Trung Tâm có thể giúp bằng cách nấu cơm, vắt
lại, cho vô thùng và đưa ra phi trường được không? Dĩ nhiên
là chúng tôi lo phi cơ".
"Ðược chớ. Chuyện chung mà. Nhưng
chừng nào tụi tui nấu?
"Ngay hôm nay, để mai là chuyến
tiếp tế đầu tiên do quân đội nhận giúp. Vậy Anh cho mượn
gạo hôm nay nghe, ngày mai chúng tôi chở gạo đến Anh đủ
một tuần, sau đó mình tính tiếp".
"Ðược. Tôi cho nấu ngay. Khi xong,
tôi cho anh hay".
"Cám ơn Anh rất nhiều".
"Cái gì mà cám ơn. Mỗi người
mỗi đơn vị góp một chút vào trách nhiệm chung chớ!
Xin mời quí vị trở lại với
chiến trường đang thu ngắn từ Bắc xuống Nam!
Trong khi vịnh Cam Ranh bỏ ngỏ, thì
tại Biên Hòa, nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn
III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn gấp
rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn
Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh
này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Ðoàn III di
chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ Sư Ðoàn
6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn (Phan Rang hay là Ninh Thuận),
với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy tuyến phòng thủ tại
đây. Phải nhận rằng, sự kiện Trung Tướng Nguyễn Vĩnh
Nghi nhận chức vụ này trong một tình hình hết sức nguy hiểm,
vì Phan Rang phút chốc trở thành tuyến đầu trước áp lực
của quân cộng sản đang trên đà thắng thế, là một hành
động xứng đáng được tuyên dương. Trung Tướng Nghi ngang
hàng với Trung Tướng Toàn, mà ông chấp nhận dưới quyền
Trung Tướng Toàn, quả là ông hành động vì sự lâm nguy của
tổ quốc. Tôi nói "quân cộng sản đang trên đà thắng thế",
nhưng không phải chúng thắng thế do thắng trận, mà chúng
thắng thế vì các đại đơn vị của chúng ta lần lượt
rút bỏ tuyến phòng thủ trước khi quân cộng sản đến.
Còn tại sao các đại đơn vị rút bỏ như vậy, tôi nghĩ,
chỉ có quí vị Tư Lệnh các đại đơn vị đó mới giải
thích được. Nhưng có lẽ không nên loại trừ giả thuyết
về nguyên nhân "bảo toàn lực lượng" tương tự như lời
của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân -Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân
Lục Chiến- nói với Ðại Tá Nguyễn Thành Trí -Tư Lệnh Phó
Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến- là ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ
tại Ðà Nẳng đã khuyên ông (tức Thiếu Tướng Lân) như
vậy.
Lực lượng dưới quyền Trung Tướng
Nguyễn Vĩnh Nghi thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại
của Sư Ðoàn 2 Bộ Binh, Sư Ðoàn Nhẩy Dù, và Sư Ðoàn Thủy
Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi tái trang bị cũng như
những nhu cầu tiếp liệu khác chưa hoàn chỉnh. Ðiển hình
là Sư Ðoàn 2 Bộ Binh từ Quảng Ngãi, và Sư Ðoàn 22 Bộ Binh
từ Qui Nhơn, triệt thoái về Vũng Tàu- Bà Rịa, Tổng Cục
Tiếp Vận đưa quân trang quân dụng từ Sài Gòn ra tái trang
bị theo tiêu chuẩn: "Mỗi Sư Ðoàn tổ chức 2 Trung Ðoàn (thay
vì 3), mỗi Trung Ðoàn tổ chức 2 Tiểu Ðoàn (thay vì 3), Pháo
Binh Sư Ðoàn tổ chức 2 Tiểu Ðoàn (thay vì 3), mỗi Tiểu
Ðoàn Pháo Binh tổ chức 2 Pháo Ðội (thay vì 3), mỗi Thiết
Ðoàn Kỵ Binh tổ chức 2 Chi Ðoàn (thay vì 3)". Tất cả chỉ
vì không đủ quân số, cũng không đủ quân trang quân dụng,
vì số lượng quân trang quân dụng tồn trữ là dành cho nhu
cầu thay thế chớ không dự trù để trang bị cấp đại đơn
vị. Chỉ có các đơn vị của Thủy Quân Lục Chiến là được
Sư Ðoàn này bổ sung quân số tương đối đầy đủ bằng
số tân binh vừa huấn luyện xong. Sau khi tái tổ chức, tuy
vẫn còn danh hiệu Tiểu Ðoàn, Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, nhưng
tổ chức đơn vị, trang bị, cộng với tinh thần, phải công
nhận là sức chiến đấu các đơn vị chắc chắn sẽ sút
giảm nghiêm trọng! Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn Tướng
Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển
quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư
Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4 xuống
trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh
đồng bằng Cửu Long.
Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất
thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường,
và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không
Quân, cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh.
Tiếp đó là Ðà Lạt, Lâm Ðồng, Bình thuận (tức Phan Thiết),
và Bình Tuy (tức Hàm Tân), đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu
và thủ đô Sài Gòn. Sư Ðoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng
Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ Củ Chi, sát nách
Sài Gòn.
Ngay trước ngày rút bỏ Nha Trang,
Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham
Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, chỉ thị
tôi gấp rút nghiên cứu tái tổ chức toàn ngành Tiếp Vận
và phối trí từ vĩ tuyến 13 (trên địa thế là Phan Rang)
trở xuống. Với lệnh này, tôi hiểu là lãnh thổ Việt Nam
Cộng Hòa chỉ còn lại từ Phan Rang xuống đến Cà Mau, ra
Phú Quốc và Côn Sơn! Tôi chỉ kịp trình bản phác thảo kế
hoạch thì Phan Rang thất thủ, và nhiệm vụ nghiên cứu chấm
dứt từ đó. Xin nhắc lại là lúc bấy giờ có dư luận về
một áp lực từ phía ngoại quốc, buộc Việt Nam Cộng Hòa
cắt phần trên vĩ tuyến 13 đến vĩ tuyến 17 giao cho tổ chức
gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam do luật sư
Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch. Mặt Trận này là tổ chức
ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam và khai sinh vào cuối
năm 1960 trong khu rừng già biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Như
vậy, dư luận đó không phải là không có cơ sở.
Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại
đây, Sư Ðoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo giữ
chức Tư Lệnh, ước tính khoảng 2 Sư Ðoàn quân cộng sản
mở cuộc tấn công vào Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc,
tỉnh Long Khánh. Rất có thể là chúng cứ tưởng "chẻ tre"
như từ sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) xuống đến đây, nhưng
chẳng may cho chúng là sức kháng cự mãnh liệt của Sư Ðoàn
18 Bộ Binh, cộng với quyết định sử dụng bom CBU -loại
bom hút hết dưỡng khí trong một đường kính nhất định
và những ai trong khu vực đó đều không có dưỡng khí để
thở- và loại bom 10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng
giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân cộng
sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục tiêu Sư Ðoàn
18 Bộ Binh để vòng xuống tấn công Biên Hòa. Sau đó, Sư
Ðoàn 18 Bộ Binh được lệnh Quân Ðoàn III rút về trấn giữ
căn cứ Long Bình.
Về phía Tiếp Vận. Từ sau ngày
mất Cao Nguyên đến lúc này, toàn bộ các kho của toàn ngành
Tiếp Vận từ Huế vào đến Cam Ranh, hầu như nguyên vẹn
khi những đoàn quân triệt thoái, vì Tổng Cục Tiếp Vận
không nhận được bất cứ một mệnh lệnh nào phải phá
hủy các kho tồn trữ trước khi các đại đơn vị rút lui
cả. Mà thật ra nếu có lệnh cũng không chắc là các đơn
vị trách nhiệm có đủ thì giờ để phá, vi hầu hết là
rút lui trong hỗn loạn chớ có kế hoạch gì đâu mà phá hủy!
(Tiếp
theo Chương chín)
|