- hai -
Trước ngày
vào trại tập trung.
*****
Những ngày đầu tiên trong
bước ngoặt của xã hội Miền Nam cũ nói chung và Sài Gòn
nói riêng, rất hỗn loạn! Ðường phố Sài Gòn vẫn ngổn
ngang các loại quân trang quân dụng của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Với hình ảnh tang thương đó, hầu như mọi người
dân Sài Gòn đều có nỗi sợ hãi riêng theo cách nhìn cách
nghĩ của mỗi người.
Trên đường phố, từng toán
thanh niên mặc đủ thứ áo quần, tay cầm súng AK47 của cộng
sản hoặc M16 lấy của quân đội chúng ta, trên cánh tay họ
có đeo băng đỏ, ngồi ngông nghênh trên những chiếc xe Jeep
chạy khắp phố phường, thỉnh thoảng bắn từng tràng đạn
lên khoảng không, càng làm tăng thêm nỗi sợ hãi của mọi
người, vì trong thời gian hỗn loạn này có luật pháp gì
đâu. Trường hợp như con trai anh Trung Tá hành chánh quân y
Giang Văn Trọng trong cư xá Bắc Hải, góc đường Lê Văn Duyệt
với Tô Hiến Thành, thuộc Quận 10, bị một phát đạn chết
tại chỗ. Anh Trọng, với trợ giúp của các bạn, lặng lẽ
mang xác con về chôn cất.
Những người cộng sản sống
trà trộn và hoạt động trong lòng Sài Gòn từ lúc nào đó
mà danh từ quân sự gọi là "cộng sản nằm vùng", cộng với
những toán thanh niên nói trên mà lúc ấy người dân gọi
là "cộng sản 30 tháng 4". Có nghĩa là họ làm như họ là
cộng sản từ rừng sâu hay từ đồng ruộng tiến vào Sài
Gòn vậy. Thật ra họ chỉ là những kẻ lợi dụng tình trạng
hỗn loạn của xã hội, để cùng với bọn cộng sản nằm
vùng lẫn cộng sản từ các cánh quân vào chiếm thủ đô,
tranh nhau vào những căn nhà trước đây cho người ngoại quốc
mướn, những nhà mà gia đình đã di tản ra ngoại quốc, các
cơ sở của chánh phủ, của quân đội, của ngoại giao đoàn,
để tranh đoạt tài sản bên trong. Họ tự tay khuân vác, họ
dùng cả xe để chở bất cứ thứ gì họ giành được. Những
hồ sơ giấy tờ họ vứt đầy đường, vì những thứ đó
không phải là những thứ mà họ cần tranh đoạt.
Theo lệnh của Ủy Ban Quân
Quản, cơ quan tạm thời điều hành Sài Gòn-Gia Ðịnh, cờ
đỏ sao vàng và hình ông Hồ Chí Minh bày bán khắp đường
phố. Trong tinh thần hoang mang sợ hãi, người dân Sài Gòn
treo đủ thứ cờ, cờ cộng sản miền Bắc, cờ cộng sản
miền Nam, người Việt gốc Hoa treo thêm cờ cộng sản Trung
Hoa nữa. Người Việt gốc Hoa có lý khi làm như vậy, vì Trung
Hoa cộng sản là đàn anh của Việt Nam cộng sản mà.
Sáng ngày 3 tháng 5 năm 1975,
vợ chồng tôi đi chợ An Ðông, nghe được mẫu đối thoại
giữa người mua tạm gọi là ông A (người miền Nam), và người
bán tạm gọi là bà B (người miền Bắc), như thế này:
Ông A: "Tấm hình ông Hồ bao
nhiêu vậy bà?"
Bà B: "Hai chục".
Ông A: "Mắc vậy. Miếng giấy
nhỏ xíu có tấm hình của ông già râu mà hai chục. Mười
đồng được hông?"
Bà B: "Mười thì mười. Ông
lấy đi. Tại thằng cha già này mà tôi bỏ làng bỏ xóm ngoài
Bắc chạy vào đây, bây giờ gặp lại thằng chả. Chán mớ
đời".
Hai ông bà này vừa liếc nhìn
chung quanh, vừa mua vừa bán.
Thôi thì tối ngày đài phát
thanh ra rả điều mà họ gọi là "bách chiến bách thắng",
là "cả nước tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên
chủ nghĩa xã hội", là "chính sách khoan hồng nhân đạo" đối
với quân nhân viên chức cán bộ của chánh phủ Việt Nam
Cộng Hòa cũ mà họ gọi là ngụy quân ngụy quyền. Trong khi
họ ra rả những điều nói trên thì lác đác họ đã lùng
bắt một số sĩ quan, như Ðại Tá Hồ Văn Hiền thuộc ngành
Quân Cụ ở đường Tô Hiến Thành (Quận 10, Sài Gòn), bị
bắt vào khám Chí Hòa vì trong nhà có vài người bạn đến
dùng cơm. Như Ðại Tá Nguyễn Văn Phiên thuộc Bộ Quốc Phòng,
trên đường từ Sài Gòn về Châu Ðốc thăm nhà đã bị bắt
giam tại Long Xuyên. Như Thiếu Úy Triệu Văn Lễ thuộc ngành
Quân Nhu, bị bắt đưa vào giam tại Vĩnh Long v..v..
Trong những tuần lễ kế tiếp,
hằng trăm quân nhân viên chức -kể cả viên chức cấp Xã-
đã bị những tổ chức địa phương gọi là "Ủy Ban Quân
Quản" bắt đưa ra tòa án, mà hầu hết là bị xử tử hình.
Những buổi nhóm họp mà cộng sản gọi là những phiên tòa,
không giống bất cứ phiên tòa nào tại các quốc gia văn minh
trên thế giới, vì chỗ nào ngồi được là mang bàn ghế
đến đó ngồi xử án, và bất cứ sĩ quan nào của cộng
sản mà không cần đến kiến thức của người hiểu biết
luật pháp, cũng có thể ngồi vào chiếc ghế chánh án mà
họ gọi là "chủ tọa". Những phiên tòa của năm 1975 không
có gì khác những phiên tòa thời "cải cách ruộng đất" những
năm 50 trên đất Bắc. Tuy không có hình thức đấu tố, nhưng
cách buộc tội dẫn đến bản án tử hình, về căn bản vẫn
thế. Những phiên tòa diễn ra ở hai khoảng không gian cách
nhau hằng ngàn dặm, với hai thời gian cách nhau trên dưới
20 năm, nhưng man rợ thì giống nhau. Những nạn nhân mà họ
gọi là "tội nhân" không được quyền biện minh cho mình,
cũng không ai được phép biện minh cho họ. Ðiển hình cho
những nạn nhân nói trên là Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh
Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện, một tỉnh lọt thỏm
giữa ranh các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), Kiên Giang (Rạch Giá),
Bạc Liêu, An Xuyên (Cà Mau), và Ba Xuyên (Sóc Trăng). Ðại Tá
Cẩn cùng lực lượng dưới quyền, đã chống trả quân cộng
sản đến khi bị chúng bắt chớ không đầu hàng theo lệnh
của Tổng Thống Dương Văn Minh.
Chỉ đôi nét về cảnh tượng
nói trên, cho ta nhận định về hành động của quân cộng
sản là hành động của kẻ cai trị tàn bạo, chẳng khác
thời thực dân Pháp cai trị, nếu không nói là tệ hơn nữa.
"Tệ hơn" vì thực dân Pháp là kẻ ngoại xâm, trong khi quân
cộng sản là kẻ nội xâm. Cả hai cùng là kẻ tàn bạo, nhưng
cộng sản là kẻ tàn bạo kiểu man rợ trong khi thực dân
Pháp là kẻ tàn bạo kiểu văn minh. Mới thoáng qua thời gian
ngắn ngủi với một số trường hợp xảy ra, đã làm cho
hằng triệu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ, thường
xuyên trong tình trạng sợ hãi, không biết rồi đây cộng
sản sẽ áp dụng biện pháp nào, nặng nhẹ ra sao, dù rằng
hằng ngày trên làn sóng phát thanh trên màn ảnh phát hình
của chúng tại Sài Gòn, cứ mang cái mảnh giấy "chính sách
10 điểm" mà chúng gọi là chính sách khoan hồng nhân đạo
ra rao giảng.
Tôi nghĩ, câu nói đủ nghĩa
nhất trong thời gian này là "nước mất nhà tan, người loạn
lạc!".
Thưa quí vị quí bạn, cư xá
Bắc Hải, nơi có khoảng 750 gia Ðình sĩ quan cư trú mà hầu
hết đều phục vụ tại các cơ quan đơn vị trong phạm vi
Quân Trấn Sài Gòn. Trong những ngày đầu, hai cổng ra vào
chưa bị đóng nên anh em chúng tôi trong và ngoài cư xá thường
gặp nhau, hỏi thăm những tin tức trước mắt về nơi trình
diện. Trong khi chờ đợi lệnh rõ ràng của chúng, cứ chỗ
nào có thông cáo gọi trình diện là chúng tôi kéo nhau tới
đó. Ðến ngày 9 tháng 5 (1975), thông cáo chánh thức gọi tất
cả quân nhân viên chức cán bộ trình diện tại khu dự bị
đại học, số 91 đường Trần Hoàng Quân (gần ngã sáu Chợ
Lớn). Vợ tôi sợ lắm:
"Anh chở con gái (Tuyết Vân,
14 tuổi) theo, nếu có gì xảy ra Em còn biết tin tức của
Anh mà lo liệu".
"Anh nghĩ là tụi nó chưa bắt
tụi Anh một cách ồ ạt đâu, nhưng Anh chưa ước tính được
là tụi nó áp dụng biện pháp trừng phạt như thế nào. Theo
anh Ðặng Ðình Ðán -Ðại Tá ngành Chiến Tranh Chính Trị-
cầm chắc là tụi nó bắt tụi Anh đi cải tạo. Ðó mới
chỉ là ước tính trước mắt thôi Em".
Ngay sau ngày quân đội tan rã,
chúng tôi ra chợ mua 2 chiếc xe đạp người lớn và 2 chiếc
xe đạp nhỏ cho hai con lớn. Thường ngày chúng tôi đi chợ
An Ðông, trong khi vợ tôi vào chợ thì tôi mua một gói khoai
mì sượng (loại này ăn giòn giòn) ngồi trên yên xe dựa gốc
cây mà ăn. Ðúng là hình ảnh "người thất nghiệp!"
Ðến địa điểm trình diện,
con gái tôi đứng cạnh gốc cây bên ngoài rào coi chừng xe.
Tôi vào trong. Cái quang cảnh lúc ấy cho đến bây giờ vẫn
nguyên vẹn trong trí nhớ. Rất đông sĩ quan cấp Tá, mới
ngày nào quân phục thẳng nếp mà giờ đây mặc thường phục
nhăn nheo, đủ màu sắc, mặt mũi vóc dáng trông mất hẳn
phong độ quân nhân. Tuy vẫn trao nhau những nụ cười, nhưng
rõ ràng là không thể che giấu những lo âu đằng sau những
nụ cười đó! Ðông đảo gặp nhau tuy không hẹn, nhưng nhờ
đông như vậy nên ai nấy có vẻ vững dạ hơn, dù biết rằng
nó bắt là nó bắt chớ không phải đông mà chúng nó không
bắt. Mỗi sĩ quan trước khi ra khỏi nơi đây, phải nộp tất
cả giấy tờ tùy thân quân sự lẫn dân sự, rồi nhận lại
tờ giấy bé xíu có dòng chữ "Giấy Chứng Nhận Trình Diện".
Giấy trình diện của tôi số 116/13/AN, có chữ ký của tên
Cao Ðăng Chiếm, Ban An Ninh Nội Chính/Ủy Ban Quân Quản Sài
Gòn Gia Ðịnh.
Bị thẩm vấn tại Sài Gòn.
Lần thứ nhất.
Vài ngày sau đó, một người
mặc quân phục cộng sản có vẻ là sĩ quan, dừng xe Vespa
trước nhà tôi:
"Tôi muốn gặp Phạm Bá
Hoa".
"Tôi đây. Xin lỗi, anh là ai?"
Tôi vừa đáp vừa hỏi.
Anh ta không trả lời, mà nói:
"Tôi đến đưa anh thư mời.
Cấp trên của tôi mời anh đến cơ quan chúng tôi ở số 26
đường Lê Văn Hưu, để trao đổi một số vấn đề công
tác của anh trong quân ngụy".
Nghe giọng nói anh ta nhấn mạnh
âm thanh "quân ngụy" tôi cảm thấy nóng mặt. Tôi hỏi: "Ðường
Lê Văn Hưu ở đâu?"
"Là con đường nhỏ, ngắn,
gần Sở Thú. Anh biết Sở Thú không?"
"Biết".
Không biết anh ta thấy gì trong
câu trả lời cộc lốc của tôi, anh ta nói:
"Cơ quan chúng tôi chỉ mời
anh đến trao đổi công tác chứ không gì đâu".
"Anh thấy tôi thế nào mà anh
cho là tôi sợ?"
"Không. Tôi nghĩ thế thôi.
Anh đừng nóng".
"Anh không phải nghĩ gì
cả. Tôi đang đứng trước mặt anh có nghĩa là tôi chẳng
sợ gì cả, với lại có sợ cũng chẳng giải quyết được
gì".
Lúc ấy, vợ tôi từ trên lầu
xuống, anh ta đon đả:
"Chị an tâm. Chúng tôi chỉ
mời anh đến làm việc một lúc vào sáng mai thôi. Không việc
gì đâu chị".
Anh ta có vẻ tâm lý, chớ lúc
đó vợ tôi chẳng có vẻ gì lo âu, nhưng khi anh ta đi rồi
thì vợ tôi lo thật sự:
"Mai Anh nên cho con Trung (16 tuổi)
theo Anh nghe?"
"Nếu tụi nó có làm gì Anh
thì Em cũng chẳng kêu ca với ai được đâu, trong khi nó thấy
Anh đem người theo có thể tụi nó cho rằng Anh sợ chúng nó
bắt. Sợ thìï sợ nhưng đừng lộ ra cho tụi nó biết Em
à. Từ nay mình qui ước với nhau, nếu Anh đi đâu hết buổi
mà không về thì coi như Anh bị tụi nó bắt. Em cho các bạn
biết mà đề phòng. Ðến lúc nào đó thì Em cũng biết tin
Anh bị giam ở đâu thôi. Ngày mai, Anh sẽ đi một mình hà
Em".
"Dù sao thì Anh cũng không nên
liều lĩnh".
"Họ có kiêu hãnh của họ.
Mình cũng có kiêu hãnh của mình mà Em, cho dù mình thua trận".
Ngày hôm sau. Ðây là lần đầu
tiên tôi đến cơ quan của cộng sản mà không một bạn đồng
đội nào có mặt. Khóa xe đạp xong, vừa lúc một lính cộng
sản bước đến và lớn giọng:
"Anh là ai? Ðến đây làm
gì?"
Tôi im lặng trong khi đưa hắn
tờ giấy. Lật qua lật lại, hắn nhìn tôi:
"Anh theo tôi."
Ðây là ngôi biệt thự nhỏ,
xinh xắn. Vào gian phòng bên trong. Chiếc bàn con giữa bộ ghế
mới toanh, một bình trà, 4 cái tách, và gói thuốc lá đen
sản xuất ngoài Bắc. Khoảng 5 phút sau, một anh chàng khá
cao, mặc quân phục bộ đội cộng sản nhưng không đeo cấp
bậc, bước vào, ngồi xuống. Hắn mở gói thuốc đưa về
phía tôi:
"Mời anh."
"Cám ơn. Tôi không biết hút."
Anh ta vừa rót trà vừa hỏi:
"Có phải anh là Phạm Bá Hoa?"
"Ðúng. Tôi là Phạm Bá Hoa.
Anh có bắt buộc cách xưng hô không?"
"Không. Trước hết tôi muốn
biết trong gia đình anh có ai chạy ra nước ngoài không?"
"Em tôi thì có, vợ con
tôi thì không."
Hắn bắt đầu lên giọng:
"Anh chạy không được hay
không muốn chạy?"
"Tôi tính sai nên không chạy
được."
Hắn nhìn thẳng vào tôi:
"Nghĩa là anh có tìm cách
chạy?"
"Ðúng."
Ðôi mắt hắn cho tôi suy đoán
là hắn đang bực tôi với những câu trả lời khô khan gần
như thách thức, hay ít ra cũng chẳng kiêng nể hắn. Bỗng
hắn dịu giọng cùng lúc với nét mặt trở nên nhẹ nhàng:
"Thôi được. Bây giờ tôi
có một số vấn đề trao đổi với anh."
"Trong thư mời có nói
mục đích. Bây giờ tôi sẵn sàng."
"Ông Khuyên của anh còn ở
Sài Gòn không?"
"Tôi không biết."
Nét mặt hắn đanh lại:
"Tại sao anh không biết,
ông Khuyên là Thủ Trưởng của anh mà?"
"Ðúng. Trung Tướng Khuyên
là cấp chỉ huy của tôi, nhưng điều đó không có nghĩa là
tôi biết mọi hành động của ông ấy. Tôi chỉ biết Trung
Tướng Khuyên rời văn phòng trưa ngày 29 tháng 4 (1975), sau
đó tôi hoàn toàn không biết gì thêm."
Hắn lại dịu xuống và mời
tôi tách trà, nhưng hắn uống trà đắng quá nên tôi chỉ
hớp một hớp là để xuống. Hắn lại hỏi:
"Tướng Viên của anh chạy
hồi nào?"
"Tôi không biết." Tôi
vẫn cái lối cộc lốc với hắn.
"Tôi có vào bàn giấy của
anh. Bản tên của anh vẫn còn đó. Với cấp chức của anh
như vậy tại sao anh không biết gì hết."
Có vẻ như hắn nghĩ rằng
trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận là tôi
phải biết nhiều việc trong Bộ Tổng Tham Mưu nên hắn có
ý cho là tôi không nói sự thật. Nếu hắn nghĩ như vậy là
đúng. Thấy tôi im lặng, hắn tiếp:
"Tôi muốn anh cho biết trong
khu vực Bộ Tổng (Tham Mưu) của anh có hầm chứa vũ
khí khí tài gì không?"
"Trước khi trả lời anh, xin
anh giải thích khí tài là gì?"
"Nó có nghĩa như từ Quân
Cụ của anh vậy."
"Vậy là tôi hiểu. Trong khuôn
viên Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi rộng lắm, với nhiều cơ
quan khác nhau đồn trú trong đó. Riêng phạm vi Tổng Cục Tiếp
Vận chúng tôi không có hầm hố gì cả, còn các cơ quan khác
thì tôi không biết."
"Các anh có hầm bí mật
nào trong căn cứ Long Bình?"
"Chắc anh cũng biết là căn
cứ Long Bình rộng hằng mấy chục lần diện tích Bộ Tổng
Tham Mưu, trong đó rất nhiều đơn vị quân đội, rất nhiều
cơ quan kinh tế. Tại đó, chúng tôi có Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận
và một Tổng Kho. Cả hai cơ quan này không có hầm bí mật
nào cả, mà chỉ có hầm nửa nổi nửa chìm để tồn trữ
hàng cần nhiệt độ lạnh của máy vô tuyến thôi. Bản thân
tôi cũng chưa biết hết hai khu vực của cơ quan Tiếp Vận
thì những cơ quan khác làm sao tôi biết. Với lại trong tồn
trữ, quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí
mật chôn giấu bất cứ loại trang cụ nào cả."
"Tôi sang vấn đề khác.
Anh suy tư gì khi quân đội cách mạng chúng tôi vào giải phóng
hoàn toàn miền Nam?"
Tôi cầm tách trà và nhích
từng nhích một để có thời gian tập trung những điều mà
tôi ước tính khi bị chúng nó hỏi đến, và câu hỏi này
nằm trong ước tính đó. Tôi nhìn thẳng vào mắt hắn và
chậm rãi:
"Bây giờ nói gì thì nói, chúng
tôi đã thua các anh rồi, nhưng có điều tôi không hiểu là
tại sao chúng tôi thua và thua các anh như trong cơn ác mộng
vậy."
Hắn có vẻ bực: "Ðây chính
là câu tôi hỏi anh."
"Vậy thì anh xem như tôi vừa
trả lời anh."
"Ngắn gọn quá. Anh có thể
phát biểu cụ thể được không?"
"Như anh đã biết. Các đại
đơn vị của chúng tôi từ Quảng Trị, Tây Nguyên, vào đến
Biên Hòa, và thậm chí cả Sài Gòn nữa, đã rút lui trước
khi các anh đến, gọi là thua cũng được. Nhưng toàn bộ lực
lượng Quân Ðoàn 4 vùng đồng bằng sông Cửu Long sẵn sàng
tác chiến mà vẫn thua. Và rất có thể vì chúng tôi thua một
cách khó hiểu như vậy, mà quân đội chúng tôi có đến 5
vị Tướng cùng nhiều sĩ quan đã tự sát tại đơn vị. Chắc
anh có nghe tin này chớ? Tôi có giả thuyết rằng, phải chăng
chúng tôi thua vì vấn đề chiến lược của các nước lớn
là Hoa Kỳ, Nga Sô, và Trung Cộng chăng? Xin anh hiểu rằng,
câu trả lời của tôi chẳng qua là do câu tự hỏi của tôi
thôi."
Hắn nhìn ra ngoài cửa, im lặng
một lúc, hắn nhìn tôi với cái vẻ tâm lý:
"Ðược. Bây giờ cũng đến
giờ ăn trưa, anh về kẻo chị và mấy cháu trông."
Sau khi chào nhau, hắn tiễn
tôi ra … tận gốc cây vì xe đạp của tôi khóa ở đó. Anh
ta nói:
"Có thể một đồng chí
nữa của tôi sẽ mời anh sau."
"Tôi sẵn sàng."
Về nhà, tôi thuật lại cho
cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Chí (Bộ Quốc Phòng), cựu Ðại
Tá Lại Ðức Chuẩn (Bộ Tổng Tham Mưu), và cựu Ðại Tá
Phạm Văn Thường (Tổng Cục Tiếp Vận) nghe. Lúc ấy tôi
mới biết là cơ quan đó (chẳng biết cơ quan gì) đã mời
một số các bạn cấp Ðại Tá thua trận đến thẩm vấn
trước tôi.
Lần thứ hai.
Mấy hôm sau, vẫn anh chàng
đi xe Vespa lần trước, đến đưa thư mời và anh ta rời ngay
chớ không ra cái điều kiêu hãnh như trước. Vẫn tại số
26 đường Lê Văn Hưu. Qua lần trước, vợ con tôi có vẻ
an tâm phần nào nên chỉ nhắc tôi cẩn thận khi gặp họ
thôi.
Vừa khóa xong chiếc xe đạp
vào gốc cây, vẫn anh lính gác nhỏ nhắn quê mùa hôm trước
đến cạnh tôi. Sau khi xem thư mời, anh ta đưa tôi vào phòng
làm việc. Ðó là gian phòng nhỏ, không phải gian phòng lần
trước. Một bàn viết, một ghế bành ngay sau bàn dành cho
người "thắng trận", và hai ghế nhỏ trước bàn chắc là
dành cho người "thua trận". Ngồi một lúc, anh lính có lẽ
là lính tùy phái, cho tôi biết:
"Anh sẵn sàng. Thủ trưởng
tôi sắp gặp anh".
Danh từ "thủ trưởng" của
cộng sản được hiểu là cấp chỉ huy đứng đầu cơ quan
hay đơn vị. Và xem chừng cái anh chàng thủ trưởng nào đó
có chức vụ cao hơn cái anh chàng lần trước chăng?
"Chào anh". Anh chàng này
có vóc dáng cao lớn, mặt mũi có phần thô kệch, vừa bước
ra lên tiếng như vậy. Trước khi ngồi vào ghế, anh ta chìa
tay ra bắt tay tôi.
"Chào anh". Tôi nhớm dậy
bắt tay anh ta.
Hắn rót nước trà vào hai
cái tách. Từ chiếc bình cao bên trên, dòng trà đậm tuôn
vào tách tạo nên âm thanh róc rách, bỗng dưng tôi liên tưởng
đến âm thanh của dòng suối Yaly trong vùng rừng núi Kon Tum,
nơi mà 20 năm trước đó tôi phụ trách theo dõi các đơn vị
của Trung Ðoàn 35 Bộ Binh huấn luyện. Chẳng hiểu sao trong
tình cảnh ấy mà tôi chợt có một thoáng lãng mạn như vậy
nữa.
"Anh xơi nước". Lời
của hắn kéo tôi trở lại thực tế.
"Mời anh". Tôi hớp vài
ngụm trà, đắng ơi là đắng. Tôi thầm nghĩ: "Vậy là họ
uống trà thật đặc. Rất có thể là họ quen dùng trà đặc
để chống đỡ khí lạnh khi họ lầm lũi trong rừng núi dọc
con đường sinh bắc tử nam mà họ gọi là đi giải phóng
đó chăng?"
Hắn bắt đầu với cái vẻ
chậm rãi:
"Tuần trước tôi bận công
tác nên một đồng chí của tôi tiếp anh. Tôi có biết qua
về những trao đổi đó. Hôm nay tôi mời anh đến đây trao
đổi tiếp vài vấn đề".
"Tôi sẵn sàng". Tôi đáp.
"Anh có chắc là ông Tướng
Khuyên của anh đã chạy sang Mỹ không?" Hắn hơi nhấn
mạnh mấy chữ cuối câu.
"Tôi chỉ biết là ông ấy
rời khỏi văn phòng trưa ngày 29 tháng 4 (1975), còn sau đó
tôi không biết gì thêm."
"Có một Ðại Tá của mấy
anh nói với chúng tôi là ông ta đi không được. Anh nghĩ sao?"
"Tôi biết chắc chắn là Trung
Tướng Khuyên đã vào Tân Sơn Nhất để di tản bằng trực
thăng, còn thật sự có đi được hay không thì tôi không thể
trả lời anh được. Với lại tôi nghĩ là anh nên hỏi thêm
tin tức ở anh nào đó đã nói với anh cho rõ. Phần tôi, tôi
chưa biết số phận của tôi và gia đình tôi ra sao, còn lòng
dạ nào tôi nghĩ đến cấp chỉ huy cũng như những đồng
đội của tôi đi được hay không đi được".
Hắn nhìn thẳng vào mặt tôi:
"Sao anh bi quan quá vậy?"
Không kém. Tôi cũng nhìn thẳng
vào hắn:
"Tôi không cho là bi quan, nhìn
nhận một sự thật không phải là bi quan."
Hắn dịu giọng với cái vẻ
tình cảm:
"Bây giờ mình sang vấn đề
khác."
"Tôi sẵn sàng". Tôi hay dùng
câu này để hắn hiểu là tôi chấp nhận đối phó những
gì hắn nêu ra.
"Cái hầm bí mật trong Bộ
Tổng (Tham Mưu) của mấy anh ở chỗ nào?"
"Lần trước tôi đã trả lời
rồi. Tôi xin lặp lại với anh là trong phạm vi cơ quan tôi
làm việc, không có hầm hố gì cả. Còn trong phạm vi các
cơ quan khác thì tôi không biết."
Thật ra thì trong Bộ Tổng
Tham Mưu có một cái hầm bí mật mà Trung Tướng Nguyễn Khánh
cho Công Binh (Chuẩn Tướng Nguyễn Chấn là Cục Trưởng) xây
dựng năm 1964, để các cấp lãnh đạo tránh bom trong khi vẫn
chỉ huy chiến đấu trong trường hợp quân cộng sản nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sử dụng đến Không Quân. Hầm
này có cầu thang xoáy ốc từ cuối phòng trước mặt vị
Tổng Tham Mưu Trưởng đi xuống. Cầu thang xuyên qua phòng họp
ở tầng trệt, nhưng nếu không để ý cũng không dễ gì nhận
ra tác dụng của cầu thang xoáy ốc này.
Hắn ra chiều tức tối và
bắt đầu gay gắt:
"Anh có biết là quân ngụy
của anh thua trận không?"
"Tôi biết. Có điều là tôi
không biết tại sao chúng tôi lại thua các anh, và vì thua trận
nên giờ này tôi ngồi trước mặt anh đây."
"Thua trận, lại được đảng
với nhà nước khoan hồng nhân đạo. Tại sao anh vẫn ngoan
cố không chịu hợp tác khai báo với chúng tôi?"
"Tại các cơ quan mà tôi đã
trình diện cũng như bây giờ, các anh hỏi điều gì tôi khai
báo điều đó. Vậy mà các anh cho là tôi ngoan cố, trong khi
tôi tự thấy tôi rất thành thật khi trả lời câu hỏi của
các anh. Tôi biết phải trả lời như thế nào anh mới cho
là không ngoan cố?"
Hắn lại dịu giọng nhưng
không còn chút lịch sự như lúc bắt đầu nữa:
"Tại Long Bình, các anh chôn
giấu vũ khí khí tài trong hầm bí mật rất lớn. Hầm đó
ở chỗ nào?"
"Anh hỏi những câu mà
tôi không biết, rồi anh nói tôi ngoan cố. Tôi không biết
phải trả lời anh như thế nào vì lần trước tôi đã trả
lời rồi. Riêng những cơ quan Tiếp Vận của chúng tôi trong
căn cứ Long Bình, không có hầm bí mật nào cả. Ðơn giản
vì trong tồn trữ, chúng tôi không có khái niệm về hầm bí
mật như các anh."
Im lặng một lúc, hắn lại
rót trà, nhưng là rót cho hắn chớ không mời tôi nữa. Hắn
nhìn ra sân, nốc một hơi hết chun trà chắc là cho hạ cơn
giận, rồi quay sang tôi:
"Anh cứ ngồi đây, trong
chốc lát trao đổi tiếp."
Hắn đứng lên, bước vội
vào phòng bên cạnh. Tôi nghĩ: Dường như hắn tự hưu chiến
để cơn giận hạ xuống rồi "oánh" tiếp, hoặc là lục lọi
tài liệu gì đó để nghiên cứu thêm, hoặc cũng có thể
tạo không khí im lặng khó thở để thần kinh tôi căng thẳng
dễ bị hắn "oánh" chăng?
Áng chừng 10 phút sau, hắn
ngồi vào ghế, giọng hắn mềm mại như lúc bắt đầu:
"Gia Ðình ta có mấy người
làm tay sai cho chế độ Thiệu? Và có ai theo cách mạng không?"
Chừng như hắn cho tôi là con
nít không bằng, khi hắn hỏi "gia đình ta có mấy người làm
tay sai cho chế độ Thiệu", nghe mà dễ giận:
"Trừ tôi ra, không một ai trong
thân quyến tôi làm việc trong chế độ của chúng tôi vừa
sụp đổ, và cũng không có người nào tham gia hoạt động
trong hàng ngũ các anh."
"Gia Ðình anh có cơ xưởng
hay nhà máy sản xuất gì không?"
"Không có gì cả."
Hắn ghìm đôi mắt vào trang
giấy xếp đôi nhưng tôi không rõ là có chữ nghĩa gì trong
đó. Ðoạn, hắn nhìn tôi:
"Anh trong sạch quá hả."
"Không. Tôi biết là tôi
chẳng trong sạch gì, vì nhiều lần tôi đã dùng xăng của
quân đội đổ vào xe riêng."
"Anh có tin vào chính sách
khoan hồng nhân đạo của đảng với nhà nước đối với
sĩ quan ngụy các anh không?"
"Nói thiệt với anh, cho đến
lúc nào tôi còn sống bên cạnh vợ con tôi thì tôi biết là
tôi chưa chết."
"Sao anh bi quan vậy? Thời
gian học tập cải tạo là cần thiết để các anh có điều
kiện tiếp thu tư tưởng cách mạng."
"Tôi nghĩ là anh nói không đúng.
Tôi không bi quan, nhưng chỉ riêng một số trường hợp mà
các anh áp dụng trong cư xá chúng tôi, đã không cho chúng tôi
điều gì để gọi là lạc quan cả. Với lại tôi nghĩ là
tôi thực tế chớ không phải là bi quan. Nói cho cùng, anh em
chúng tôi trong tay các anh, hà tất phải bi quan."
"Anh làm tay sai trong quân
đội ngụy bao lâu?"
"Hơn 20 năm, hay nói 21 năm cũng
được."
"Trong cơ quan anh có bao nhiêu
Ðại Tá bỏ chạy?"
"Tôi không rõ, vì mạnh
ai nấy tìm đường thoát thân, và tàn cuộc chiến chưa ai
liên lạc với ai nên tôi chưa biết trong số bạn tôi, ai đi
ai còn."
"Chức vụ Tướng Khuyên
là gì?"
"Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng
Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận."
"Dưới ông Khuyên là ai?"
"Ðại Tá Phạm Kỳ Loan."
"Dưới ông Loan là ai?"
"Là tôi."
"Anh vẽ cho tôi tổ chức
của anh được không?"
"Ðược." Tôi ngồi vẽ tại
chỗ về tổ chức tổng quát của bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp
Vận. Tôi nghĩ, không chắc hắn cần sơ đồ này, mà có thể
hắn dò xem tôi có khai thật với hắn không, vì tất cả tài
liệu về tổ chức lẫn hoạt động của Tổng Cục Tiếp
Vận còn nguyên trong các tủ, thể nào hắn cũng có trong tay.
Cho nên có giấu cũng chẳng lợi gì, mà có khai cũng chẳng
có gì hại. Nghĩ vậy, tôi vẽ đúng sự thật.
Hắn xem một lúc rồi lật
qua lật lại, cuối cùng hắn để sang một bên rồi hỏi tiếp:
"Anh có thể vẽ lại tổ chức Bộ Tổng (Tham Mưu)
của mấy anh được không?"
"Không. Vì tôi không biết hết
các cơ quan của Tổng Tham Mưu."
Hắn nhìn tôi một lúc, chừng
như hắn quan sát xem tôi có thành thật hay không thì phải.
Hết nhìn tôi lại nhìn ra cửa, tôi tưởng là hết chuyện.
Nhưng không, hắn lại hỏi:
"Tôi trở lại câu mà đồng
chí của tôi đã hỏi anh hôm trước. Anh có biết tại sao
các anh thua nhanh như vậy không?"
Hóa ra là hắn suy nghĩ tìm
cách kéo tôi trở lại câu hỏi và có lẽ đó là câu hỏi
chánh thì phải. Tôi đáp:
"Vẫn là câu trả lời lần
trước vì tôi không thể có câu nào khác, nhưng tôi nói thêm
với anh rằng, nhiều anh em chúng tôi nhìn nhận sự sụp đổ
của Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi như cơn ác mộng mà trong
thực tại không thể chối bỏ, và thực tại đó chắc sẽ
còn dài lâu trong anh em chúng tôi."
"Anh có cho rằng, quân đội
mấy anh thua trận là do tan rã hàng ngũ không?"
Tôi hơi ngạc nhiên khi hắn
đặt câu hỏi như vậy, vì tôi cứ nghĩ là hắn sẽ huênh
hoang đề cao cái quân đội của hắn:
"Tôi chưa hiểu rõ chữ tan
rã mà anh vừa nói."
Hắn gằn giọng:
"Anh hiểu thế nào?"
"Có phải anh cho là chúng tôi
tan rã hàng ngũ mà thua các anh phải không?"
"Ðồng chí của tôi nói
đúng. Anh rất ngoan cố."
Tôi cố gắng giữ bình tĩnh
và thầm nghĩ, đã vào hang cọp thì nó muốn ăn thịt mình
lúc nào chẳng được, có sợ hãi cũng không giải quyết được
gì, cho nên cần giữ phong cách vững vàng cho hắn thấy tư
cách và nhận thức của người thua trận. Tôi từ tốn:
"Theo tôi, suy cho cùng, sự sụp
đổ của Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi vẫn là một vấn đề
chiến lược từ bên ngoài."
"Anh ám chỉ Hoa Kỳ phải
không?"
"Tôi không có ý như vậy."
"Anh ngoan cố. Anh đã nói
như vậy với đồng chí của tôi trong lần trước."
"Chắc là do hiểu lầm thôi,
vì đó chính là câu mà tôi tự đặt ra cho tôi để thay câu
trả lời, chớ không phải câu xác định. Sự nhầm lẫn trong
ngôn ngữ chính trị cho dẫu là vô tình, thường khi rất nguy
hại."
"Tôi trông đợi ở anh, vì
các bạn anh đều khai rằng, anh là người ở Bộ Tổng (Tham
Mưu) lâu năm, nhưng sau hai lần trao đổi, anh chẳng nói lên
được điều gì. Anh có thấy thế không?"
Bỗng dưng hắn dịu giọng
đến mức như tâm tình, ra cái điều như bè bạn vậy. Nếu
tôi thiếu thận trọng là dễ rơi vào bẫy của hắn. Tôi
đáp:
"Biết làm sao hơn khi mà tôi
chỉ biết có bấy nhiêu đối với những câu hỏi của anh.
Chúng tôi đã thua các anh rồi, còn gì mà giấu nữa. Với
lại nói là làm Chánh Văn Phòng cho ông này ông kia, nhưng tôi
chỉ lo những việc lặt vặt của các vị ấy, còn việc quan
trọng thì có các cơ quan phòng sở nhận lệnh và trực tiếp
thi hành rồi."
Hắn đưa tay lên xem đồng
hồ, chắc là mới "chia chác" đâu đó nên có cái đồng hồ
mới toanh, màu vàng óng ánh. Hắn mỉm cười:
"Anh có thể về dùng cơm.
Chúng tôi sẽ mời anh sau."
"Chào anh."
Sau lần phỏng vấn trước,
cộng với lời của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại phiên
họp của Quốc Hội lưỡng viện trong trận chiến Tết Mậu
Thân đầu năm 1968, luôn ám ảnh tôi: "Ðừng nghe những gì
cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm". Nhờ
sự ám ảnh đó đã giúp tôi khai báo theo quan niệm: "Ðiều
gì có hại không khai". Với chút kinh nghiệm khi đối diện
với kẻ thắng trận, nên suy nghĩ của tôi vừa giữ những
bí mật cần thiết dù chưa biết lợi ích ra sao, vừa giữ
phong cách của người sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Và tôi đã "xung trận" với họ trong sự suy nghĩ đó.
Từ sau ngày có lệnh trình
diện chánh thức (9/5/1975) thì cổng ra vào của cư xá Bắc
Hải bị khép chặt, các anh em sĩ quan chúng tôi không một
ai được ra khỏi cổng, cũng không một ai từ bên ngoài được
vào. Chúng tôi thường gặp nhau bên trong cư xá để bàn những
chuyện xoay quanh những biện pháp mà chúng nó có thể áp dụng
với mình mà chúng nó gọi là "quân ngụy". Thật ra chỉ là
bàn chuyện theo cách suy nghĩ của người tự do chớ có ai
hiểu gì về phía cộng sản đâu, ngoại trừ anh Ðặng Ðình
Ðán (Tổng Cục Chiến Thanh Chính trị) là có chút kinh nghiệm.
Một buổi sáng, hai chúng tôi ngồi trên xích đu trong sân nhà
tôi, anh nói:
"à Bác Hoa này, bác nhớ là
khi bị chúng nó thẩm vấn chỉ trả lời càng ngắn càng tốt,
không nên giải thích dài dòng, vì càng dài dòng chúng càng
moi được những sơ hở rất thành thật của mình, để rồi
chúng nó qui trách tội này tội khác..."
Anh Ðán giải thích thêm rằng:
"… Khi cộng sản muốn kết tội thì chúng hỏi mình thật
nhiều lần về một nội dung, dĩ nhiên là cách hỏi có thể
khác nhau đôi chút. Phương cách đó dễ làm cho người bị
tra hỏi trở nên bực mình, để rồi rơi vào áp lực tâm
lý càng lúc càng nặng mà trả lời bừa bãi. Hoặc nếu mình
nói dối, thì trong nhiều lần trả lời thể nào cũng có những
điểm không giống nhau, thế là chúng nó căn cứ vào đó để
kết tội, một cái tội nghe rất kỳ cục là "phản cách mạng".
Kỳ cục ở chỗ là người bị kết tội có bao giờ tham gia
hàng ngũ của chúng đâu mà chúng gọi là "phản cách mạng."
Phỏng vấn thu hình.
Một buổi sáng, anh Nguyễn
Kim Sơn dẫn một nhóm người đến gõ cửa. Thấy anh kỹ sư
Sơn trong cùng cư xá nên tôi mở cửa:
"Chào anh Sơn. Có việc gì vậy?"
"Ðây là các anh ở đài
truyền hình đến xin phỏng vấn anh."
Rồi anh giới thiệu:
"Ðây là Cán bộ. Ðây là
anh Tổ trưởng. Và đây là chuyên viên quay phim."
Sau khi ngồi vào ghế, anh chàng
được giới thiệu là Tổ Trưởng tự giới thiệu:
"Tôi là bác sĩ, nhưng tôi
không thích nghề đó mà theo đuổi ngành truyền hình lâu nay."
Nghe hắn tự giới thiệu là
tôi mỉm cười, vì tôi tin là anh ta "xạo". Bởi vì cái xã
hội xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa trên đất Bắc, làm quái gì có hệ thống truyền hình
mà hắn theo đuổi từ lâu. Từ cái xạo đó, tôi nghĩ, không
chừng cái danh xưng "bác sĩ" cũng là "xạo" luôn nữa chăng?
Chẳng qua là mới tập tễnh trong ngành này từ khi Việt Nam
Cộng Hòa sụp đổ chớ bao lâu đâu. Trong khi "Tổ trưởng
truyền hình xạo" tự giới thiệu, anh chuyên viên chuẩn bị
thu hình, còn anh chàng được giới thiệu là cán bộ thì ngồi
viết lia lịa, chẳng hiểu là anh ta viết cái thứ gì trong
ấy.
Trước khi thu hình, "Tổ Trưởng
xạo" hỏi tôi:
"Anh có cần viết trước
không?"
"Không."
"Khi chúng tôi mở đèn anh cố
giữ tự nhiên nhé!" Có lẽ hắn nhà quê nên tưởng ai cũng
quê như hắn chăng?
"Anh không cần nhắc điều
này." Tôi bắt đầu tưng tức.
"Vậy thì thuận lợi đấy."
Tôi hỏi: "Tại sao là thuận
lợi?"
Với một thoáng nhìn biểu
lộ vẻ ngạc nhiên:
"Anh hiểu sao cũng được."
Bắt đầu phỏng vấn. Lúc
ấy có cả vợ và các con tôi ngồi cạnh. Anh ta hỏi:
"Trong gia Ðình anh có ai chạy
ra nước ngoài không?"
"Không."
"Những ngày cuối cùng, gia
đình anh có ai thiệt hại gì không?"
"Không."
Hắn mở tờ thông cáo ra và
hướng sang tôi:
"Anh suy nghĩ gì về chính
sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng đối với ngụy
quân ngụy quyền?"
"Tôi có đọc thông cáo đó
rồi, và anh bộ đội gác cổng cư xá chúng tôi cũng đã xé
bỏ nó khi tôi đưa anh ta xem để xin ra cổng, đưa con tôi
đi băng bó cánh tay bị sai khớp xương do trượt chân trên
nền gạch. Anh ta nhất định không cho, và nói rằng tờ giấy
đó có giá trị gì mà đưa anh ta. Hành động đó làm tôi
cảm thấy nóng mặt, và tôi quay vào. Vậy là giữa lời nói
với việc làm của Ủy Ban Quân Quản không đúng. Nhưng tôi
nhìn nhận cho đến bây giờ, tôi và gia đình tôi vẫn an toàn.
Còn từ bây giờ về sau tôi chưa rõ."
Hắn khựng một lúc:
"Cách mạng nói là làm, anh
hãy tin vào cách mạng."
Tôi chờ hắn hỏi thêm để
trả lời nhưng hắn nói đến đây là hết phần thu hình.
Bấy giờ anh chàng "cán bộ" hỏi tôi:
"Anh là Ðại Tá, chắc anh
giết nhiều con nít lắm mới được quân hàm đó phải không?"
Có thể lúc ấy mặt tôi đỏ
lên, và tôi phải trấn tĩnh lại mới trả lời hắn:
"Quân đội nhân dân của anh
thăng cấp như vậy sao?"
"Tôi hỏi anh sao anh hỏi
lại tôi?"
"Vì đây là lần đầu tiên
tôi nghe câu hỏi như vậy. Tôi nghĩ là anh nên hỏi bất cứ
người dân nào ở Sài Gòn này và cả miền Nam chúng tôi nữa,
anh sẽ có câu trả lời, vì câu trả lời của tôi có chắc
gì anh tin tôi".
Nhóm thu hình ra về. Tôi trở
lại chuyện anh Nguyễn Kim Sơn, đang là Chủ Tịch Ủy Ban Nhân
Dân Cách Mạng cư xá Bắc Hải. Năm 1973, bà con trong cư xá
bầu ra một Ủy Ban Xây Dựng ngôi chùa An Quốc trong khuôn
viên cư xá. Bác sĩ Hoàng Gia Hợp trách nhiệm Trưởng Ban,
tôi trách nhiệm Tổng Thư Ký, anh Nguyễn Kim Sơn -kỹ sư điện-
trách nhiệm kỹ thuật, dường như anh Lê Kim Ngô -Ðại Tá
Công Binh- trách nhiệm xây dựng thì phải, và một số vị
khác nữa. Ngôi chùa đã cử hành lễ an vị Tượng Phật ngày
8 tháng chạp âm lịch (đầu năm 1975).
Ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,
anh Sơn tự thành lập Ủy Ban nói trên trước sự ngỡ ngàng
của bà con trong cư xá, nhất là tôi và các vị trong Ủy Ban
Xây Dựng chùa An Quốc. Lúc bấy giờ anh Sơn cho tôi biết,
anh thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và "nằm vùng" từ
khi anh là nhân viên của hãng thầu Hoa Kỳ RMK-BRJ ở Qui Nhơn.
Trong những ngày đầu tiên
này phải công nhận anh Nguyễn Kim Sơn rất sốt sắng giúp
đỡ các sĩ quan trong cư xá, nhất là khi hai cửa ra vào cư
xá bị đóng lại dưới sự canh gác của lính cộng sản,
anh Sơn đã vào nhà tướng cộng sản Trần Văn Danh -chiếm
nhà của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần- ngay sau lưng nhà tôi,
để can thiệp cho các sĩ quan được tự do ra vào cư xá trong
khi chờ ngày học tập cải tạo. Tướng cộng sản đã mắng
chửi anh Sơn là nuông chiều bọn ngụy trong khi anh Sơn quì
dưới chân ông ta.
Anh Sơn nói với tôi:
"Anh Hoa ơi! Dường như lý
tưởng của tôi đặt không đúng chỗ."
Tôi im lặng. Suy nghĩ... Vì
điều mà anh gọi là lý tưởng, đối nghịch với lý tưởng
mà tôi theo đuổi.
Nhưng rồi anh được lệnh
(chẳng biết từ đâu) tịch thu tất cả nhà không có chủ
hợp pháp để giao cho cán bộ chúng nó vào ở. Anh Sơn nhờ
cựu Ðại Tá Ðàm Quang Yêu làm Trưởng Toán Kiểm Kê, một
nhân viên của Phường xuống làm Phó Toán. Anh Ðàm Quang Yêu
nhờ tôi tiếp tay làm Thư Ký. Tôi với anh Yêu -cùng trong cư
xá- bàn với nhau là hãy làm hết sức mình để thân nhân
của những bạn đã di tản, đem ra khỏi nhà những gì có
thể đem ra được mà không bị tên Phó Toán ngăn chận, vì
hắn là cộng sản của Phường. Có tất cả 174 nhà trong danh
sách kiểm kê có lẽ do anh Sơn thiết lập. Sau cuộc gọi là
kiểm kê này, hầu như những đồ dùng như: tủ lạnh, tivi,
đàn piano, xe xấu để lại xe mới đem ra, đến bàn ghế cũng
vậy, cái nào bán được giá thì đem ra. Không phải là dễ
dàng, nhưng vì tên Phó Toán là cộng sản từ rừng núi vào
thành phố nên hắn không hiểu hết giá trị của những đồ
dùng trong nhà, nhờ vậy mà mạnh dạn cãi lý với hắn là
hắn làm thinh. Hễ hắn làm thinh thì người trong nhà dọn
ra ngay, sau đó đem gởi hàng xóm để khi nào cho đem ra khỏi
cổng thìï đem. Công việc cũng kịp lúc, vì tuần lễ sau
đó là cái bọn rừng rú thắng trận ào ào vào chia nhau chiếm
nhà.
Nói cho thật đúng, anh Nguyễn
Kim Sơn cũng đồng ý với anh Ðàm Quang yêu và tôi, cố gắng
giải quyết vấn đề như vậy.
Khi tôi vào trại tập trung,
cựu Thiếu Tá Trương Nguyên Thảo (anh vợ của anh Sơn) cho
biết là anh Nguyễn Kim Sơn bị bắt vào tù với tội "dùng
vũ khí bất hợp pháp". Bị ngồi tù ở khám Chí Hòa. Tôi
nghĩ, đó là chính sách "vắt chanh bỏ võ" như chúng đã bỏ
hẳn cái võ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau khi chiếm được
Việt Nam Cộng Hòa vậy. Sau khi ra tù, anh Nguyễn Kim Sơn và
gia đình vượt biển sang định cư ở Cộng Hòa Liên Bang Ðức.
(Mùa hè năm 2003, khi hay tin vợ chồng tôi du lịch Âu Châu,
vợ chồng anh có đến thăm chúng tôi tại nhà thông gia chúng
tôi ở thành phố Langen, ngoại ô thành phố Frankfurt)
Ðôi nét phản ảnh sinh hoạt
miền Bắc.
Tôi không chứng kiến những
gì xảy ra ngoài phố, vì từ giữa tháng 5 (1975) họ đã quản
thúc tất cả sĩ quan trong cư xá, tuy không có lệnh nào như
vậy nhưng đóng chặt hai cổng ra vào thì có khác gì quản
thúc đâu. Cũng vì quanh quẩn trong cư xá nên thu nhặt được
vài mẩu tin vặt đã xảy ra trong cư xá hoặc do các bà từ
bên ngoài cư xá vào thuật lại, nhưng từ đó cho phép suy
đoán sinh hoạt của người dân xã hội chủ nghĩa nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc).
Mẩu chuyện thứ nhất. Toán
quân cộng sản vào chiếm căn nhà X10 (cách nhà tôi 1 căn)
của Trung Tá Lương Phúc Xinh, phục vụ Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn
25 Bộ Binh đã bị bắt, trong khi gia Ðình anh đã di tản. Trong
toán này có một đứa thỉnh thoảng lén sang nhà tôi xem tivi.
Anh ta sinh ra và lớn lên trên đất Bắc. Một hôm, anh ta thuật
chuyện ra cơ quan lãnh gạo (trước đó là cơ sở Cục Quân
Tiếp Vụ, đường Tô Hiến Thành), thấy nhiều người đang
nhốn nháo chỗ phòng vệ sinh. Và chuyện như thế này:
"Toán nấu ăn mà anh ta gọi
là "anh nuôi" thả vô "cái chậu" 2 con cá lóc để chiều ăn,
nhưng phút chốc 2 con cá biến mất. Thế là trong toán nghi
ngờ lẫn nhau, vì thế mà cãi nhau to tiếng nặng lời. Cũng
may là lúc ấy có người nhà là dân Sài Gòn (di cư năm 1954),
đến tìm bà con là lính trong toán này. Sau khi thuật câu chuyện
và dẫn bà ta vào xem "cái chậu", bà cười lớn và giải thích
rằng:
"Cái mà mấy anh gọi là "cái
chậu" là cái cầu tiêu đó. Vậy là 2 con cá lóc xuống hầm
cầu tiêu mất rồi".
Câu chuyện chấm dứt ở đó,
và anh ta nêu thắc mắc:
"Chúng tôi thấy trong (Nam)
này làm cầu ỉa trong nhà, lượng phân thải ra không thu lại
để chăm bón rau xanh, thật là phí. Còn chỗ ngồi ỉa cần
gì phải làm đẹp như đồ sành đồ sứ trang trí trong nhà,
phí phạm tài sản nhà nước quá".
Người cộng sản xã hội chủ
nghĩa trên đất Bắc không dùng chữ "đại tiện" hay "đi cầu"
mà họ dùng chữ "ỉa". (Năm 1979 tôi bị giam tại trại tập
trung Nam Hà A, khi chúng tôi quét dọn nhà của tên Trung Tá
Trại Trưởng, thấy ghi chữ "ỉa nam" và "ỉa nữ". Ðiều
này xác nhận nền giáo dục nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa đào tạo nên những thế hệ với ngôn ngữ như vậy đó).
Anh ta nêu thắc mắc một cách
tỉnh bơ làm tôi liên tưởng như suốt ngần ấy tuổi đầu,
anh ta chỉ sống trong rừng sâu mới vào thành phố, hoặc anh
ta ở thành phố nhưng sinh hoạt trong thành phố xã hội chủ
nghĩa miền Bắc chẳng khác người sống trong rừng sâu bao
nhiêu.
Tôi hỏi: "Vậy ngoài Bắc các
anh làm cầu tiêu ở đâu?"
"Nhà nước hướng dẫn làm
cầu 2 hầm và làm bên ngoài nhà. Khi hầm bên này đầy thì
đậy nắp lại rồi dùng hầm bên kia. Ðộ 3 tháng thì phân
hoai (được hiểu là khô lại và ít mùi hôi), lúc đó xúc
vào thùng làm phân bón rau xanh."
Tôi thấy hứng thú về tìm
hiểu xã hội miền Bắc, nên hỏi tiếp:
"Ðó là vùng ngoại ô. Vậy
trong thành phố làm sao có đất như ở làng quê mà làm cầu
2 hầm?"
Anh ta đáp:
"Ở nội thành thì làm trong
nhà, mỗi sáng có xe thùng đến từng nhà lấy phân ngay dưới
chỗ cầu ỉa đổ vào xe, và đem bán cho các hợp tác xã nông
nghiệp ngoại thành. Tôi thấy trong Nam mấy anh phí phạm nguồn
phân này quá."
"Trời đất ơi! Làm cầu trong
nhà theo cái kiểu ấy thì mùi hôi chịu gì nỗi. Rồi ruồi
nhặng ô nhiễm nữa. Ghê quá vậy! Tôi chưa biết đất Bắc
của anh ra sao, nhưng nghe anh nói tôi có cảm tưởng miền Bắc
của mấy anh lạc hậu quá, đi sau xã hội miền Nam chúng tôi
ít ra cũng 30 năm."
Ngồi một lúc, chừng như hiểu
được lời chê bai của tôi nên anh ta ngượng ngùng và lặng
lẽ ra về. Từ đó, anh ta không lén sang nhà tôi xem nhờ tivi
nữa.
Mẩu chuyện vặt thứ hai. Chuyện
xảy ra ngay trong cư xá chúng tôi, ở căn thứ 3 dãy V, đối
diện dãy X của tôi. Cũng là nhà đã di tản nên một toán
quân cộng sản vào chiếm giữ. Một buổi sáng, một tên hối
hả vào nhà bên cạnh nhờ sang xem giùm cái máy không biết
để làm gì mà phát ra gió lạnh quá, toán anh ta phải ra ngủ
ngoài hiên. Chuyện rất đơn giản, vì họ không biết đó
là cái máy điều hòa không khí, tay chân táy máy thế nào
lại vặn đúng cái nút ON. Thế là máy chạy, ban đầu thìï
mát, đến nửa đêm quá lạnh mà họ không có mền.
Mẩu chuyện vặt thứ ba xảy
ra ở cư xá Ðô Thành, đường Phan Thanh Giản (sau này cộng
sản đổi lại là đường Ðiện Biên Phủ). Một nữ bác
sĩ cộng sản từ Bắc trở về Nam sau hơn 20 năm theo cha tập
kết ra Bắc, cô ta tìm đến gia đình người chú là Trung Tá
Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Dù mới gặp nhau lần đầu,
nhưng chú cháu tỏ ra vui vẻ, cho dẫu trong lòng hai chú cháu
nghĩ như thế nào thì chỉ có họ mới biết thôi. Sáng dậy:
"Thím ơi! Ði ỉa ở đâu
Thím?" Bà Thím là người miền Nam.
"Cháu đẩy cửa đó mà
vào."
"Sao lại cầu ỉa trong nhà?
Ở trên lầu thì làm sao người ta mang đi đổ được?"
"Cháu nói đổ cái gì?"
"Ðổ phân chứ đổ gì."
"Vậy chớ ngoài Bắc không
làm cầu tiêu trong nhà thì làm ở đâu?"
"Cầu ỉa phải làm ở ngoài
chứ ai làm trong nhà, để xe đến lấy phân bón rau xanh chứ
thím. Ðảng với nhà nước nói bỏ là phí phạm tài nguyên
mà."
"Ở Sài Gòn, nói chung là cả
miền Nam này đều làm cầu trong nhà, và là loại cầu tự
hủy, chớ ai mà khiêng đổ. Ghê lắm!"
Cô ta vào phòng vệ sinh, lại
thò đầu ra:
"Cái nào là cầu ỉa hả Thím?"
Báo hại bà Thím "ngụy" phải
vào phòng vệ sinh chỉ cho cô cháu bác sĩ "cộng sản" biết,
cái nào là cầu tiêu, cách ngồi như thế nào, dùng giấy ra
sao, dùng rồi phải bỏ vào đâu, cách giật nước, ..v.. v..
Bà Thím chỉ dẫn rồi, phải nhắc lại cho cô cháu "lạc hậu"
biết cách sử dụng loại giấy sản xuất cho nhu cầu này,
chớ các thứ giấy khác sẽ làm nghẹt cầu. Bà Thím phải
giải thích như vậy, vì cô cháu chồng là bác sĩ xã hội
chủ nghĩa trên đất Bắc, nên rất xa lạ với những tiện
nghi sinh hoạt của người dân bình thường trong xã hội tự
do trên đất Nam. Nghe giải thích đến đâu, cô cháu bác sĩ
cộng sản thè lưỡi đến đó.
Tôi chưa biết miền Bắc, mà
chỉ biết qua sách báo. Theo đó thì Hà Nội trong những năm
40-50, được xem là thanh lịch nhất, nhưng sau 30 năm dưới
chế độ xã hội chủ nghĩa, người Hà Nội thụt lùi quá
xa so với người dân Sài Gòn, xa đến mức không thể tưởng
tượng được.
Chỉ vài ba mẩu chuyện vặt
về tiện nghi sinh hoạt trong gia đình của người dân miền
Nam mà họ gọi là "ngụy", đã vượt quá xa mức sống của
người dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa, kể cả tầng lớp
bác sĩ kỹ sư. Từ đó suy đoán là dưới sự cai trị của
chế độ cộng sản, người dân không thể nào tiến lên mức
văn minh được. Thế mà họ cứ hô hào tiến lên xã hội
chủ nghĩa. Tôi nghĩ:
"Vậy là xã hội chủ nghĩa
nằm sâu dưới đáy vực của văn minh?"
Thưa quí vị quí bạn, tiếp
đây cũng là chuyện vặt nhưng dính dáng tí ti về chính trị.
Chuyện xảy ra tại chợ Mỹ Tho sau khi quân cộng sản vào
chiếm thành phố này, do cựu Trung Tá Trần Kinh Ðiển -bạn
cùng khóa 5 Thủ Ðức với tôi- kể lại khi gặp nhau trước
ngày vào trại tập trung. Cũng như những nơi khác, sau ngày
vào Mỹ Tho, chúng sử dụng mọi phương tiện kể cả những
toán cán bộ đến các đường phố để tuyên truyền về
điều mà chúng gọi là bách chiến bách thắng của xã hội
chủ nghĩa. Một buổi sáng trong tuần lễ đầu tiên của tháng
5 năm 1975, một cán bộ cộng sản đi phỏng vấn có thu hình
một bà trung niên, trang phục của bà cho thấy bà là người
thành thị, tay xách giỏ đầy thức ăn. Hắn bước nhanh tới
trước mặt bà:
"Chào bà. Tôi là cán bộ
đài truyền hình cách mạng. Bà đi chợ xong rồi chứ?"
"Ừa. Tôi chỉ mua vài món thôi,
ở nhà có cá rồi." Trả lời xong là bà ta bước đi.
Anh chàng tự xưng cán bộ bước nhanh theo:
"Nhà bà cách đây xa không?"
Bà sồn sồn vừa đi vừa trả
lời:
"Gần đây nè." Vừa trả lời
bà ta vừa bước nhanh hơn, cứ như tránh họ thì phải. Một
tên vác máy thu hình một cầm theo cái micro chạy theo. Với
giọng như đứt quãng:
"Xin bà cho biết, bà có vui
mừng khi thấy cách mạng vào thành phố không?"
"Có chớ. Vì cách mạng vô
mấy ông giải phóng không còn bắn hỏa tiễn vô thành phố
nữa. Chớ trước đây họ bắn chết dân nhiều quá. Ghê lắm
ông ơi!"
Câu trả lời của bà có khả
năng làm cho họ đứng lại sững sờ, giống như vừa "sụp
đường mương" vậy. Anh bạn tôi vui lắm nhưng không dám cười,
sợ hai tên cộng sản này "thua me gỡ bài cào" thì phiền lắm.
Ðúng là bà sồn sồn được phỏng vấn đó không biết cách
mạng hay giải phóng là gì cả, mà chỉ biết rằng giải phóng
thường pháo kích bắn giết đồng bào, cho nên bà nói có
cách mạng vào thì hết quân giải phóng. Nhưng suy cho cùng,
thế mà hay. Hay ở điểm, bà ấy chửi xéo quân cộng sản
mà chính bà không biết, trong khi hai tên cộng sản bị chửi
cũng không thể có biện pháp gì vì bà ta nói sự thật theo
như hiểu biết của bà.
(Tiếp theo
Chương ba)
|