- bốn-
Trại tập trung
Long Giao
*****
Sài Gòn đến Long Giao.
Cuối cùng đoàn xe Molotova già
nua cũng lăn bánh. Lúc ấy là giờ đầu tiên của ngày 16
tháng 6 năm 1975. Tôi phải ghi rõ như vậy, vì tôi muốn
lưu vào ký ức tất cả những sự kiện cũng như những thời
điểm diễn tiến trong cuộc sống trước mắt của "những
người thua trận," để có thể tìm hiểu bản chất cộng
sản Việt Nam như thế nào. Ngay cái chuyện đóng tiền ăn
nói trên, cái chuyện hết sức nhỏ nhen như vậy mà tôi thấy
nó đã nằm trong ý nghĩa câu nói của Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu rồi: "Ðừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy
nhìn kỹ những gì cộng sản làm."
Cho dù có bí mật cách mấy
đi nữa, họ cũng hiểu rằng, thời hạn ấn định phải trình
diện trong các ngày 13, 14, và 15 tháng 6 năm 1975, mà ngày đầu
tiên họ bảo phải mang theo thức ăn, như vậy người trình
diện ngày 14 chỉ ăn có 1 ngày, người trình diện ngày 15
thì chẳng ăn bữa nào hết. Khi di chuyển thì tất cả cùng
đi một lượt, mà tiền ăn vẫn phải đóng y chang nhau. Chỉ
với sự kiện nho nhỏ của vài ngày đầu tiên "học tập
cải tạo" đã là không đúng với bản thông cáo rồi. Phải
chăng đây là hành động gian trá cướp đoạt dù trị giá
chưa bao nhiêu? Cướp nhà cướp của, nói chung là cướp tài
sản ngay sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa nói chung, và thủ
đô Sài Gòn nói riêng, bây giờ đến cái nhỏ nhoi chỉ mấy
đồng tiền ăn cũng gian trá để ăn cướp!
Ðoàn xe lớn bé khoảng 15 chiếc,
từ từ ra cổng đại học xá, quẹo trái theo đường Minh
Mạng đến Ngã Bảy. Rồi quẹo phải sang đường Lý Thái
Tổ. Ðến Công Trường Cộng Hòa quẹo trái sang đường Hồng
Thập Tự. Lại quẹo phải sang đường Công Lý, khi đến đại
lộ Thống Nhất quẹo trái. Ðến sát Thảo Cầm Viên, quẹo
trái sang đường Cường Ðể. Ðến đường Phan Thanh Giản,
quẹo phải thẳng ra xa lộ Biên Hòa. Chẳng hiểu sao họ lại
chạy quanh co vòng vèo như vậy, vì nếu muốn ra xa lộ cứ
đường Minh Mạng đến Ngã Bảy, vẫn con đường đó trở
thành đường Phan Thanh Giản, và ra xa lộ. Ðơn giản quá.
Ðó là cách nghĩ của tôi,
nhưng có thể quân cộng sản muốn đánh lạc hướng với
"đoàn người trong những cái hộp đen" không biết họ chở
đi đâu chăng? Thật sự thì "đoàn người đó" quá quen thuộc
mọi hang cùng ngõ hẻm của thủ đô Sài Gòn, thì sá gì cái
mẹo vặt ấy che mắt được. Hoặc vì từ trong rừng mới
vào thủ đô Sài Gòn nên chưa thạo đường đi chăng? Ðiều
này nghe không ổn, vì cho dù đoàn quân từ rừng rú vào Sài
Gòn nhưng còn thành phần cộng sản nằm vùng dẫn đường
chớ. Tôi nói đoàn quân cộng sản từ rừng rú vào thủ đô
Sài Gòn, là bao gồm cả thành phần đảng viên cán bộ cộng
sản từ Hà Nội nữa, bởi sinh hoạt ở thủ đô Hà Nội
của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cũng không khác nghĩa
với sinh hoạt của họ trong rừng rú bao nhiêu. Với vài mẩu
chuyện về tiện nghi sinh hoạt thông thường của người Việt
Nam Cộng Hòa, mà người cộng sản từ người lính trong quân
đội cho đến người bác sĩ trong xã hội chủ nghĩa mà tôi
ghi lại ở Chương Hai, thật sự là họ quê mùa không thể
tưởng tượng được. Nói cho đúng là họ quá lạc hậu.
Do vậy mà tôi nhận xét về
cái câu "tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa
xã hội", mà họ nhai đi nhai lại không mệt mỏi không ngượng
ngùng trên các phương tiện truyền thông của họ, nên hiểu
như thế này: "tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc xuống
chủ nghĩa phong kiến" mới đúng. Thật sự là xã hội nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau 20 năm (từ năm 1955) là tiến
xuống chớ không phải tiến lên theo cách nhìn của tôi, và
tôi nghĩ cũng là nét nhìn của người Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta nữa.
Phong kiến là một chủ nghĩa
mà người đứng đầu quốc gia được xem là Vua (còn gọi
là Con Trời) với quyền lực tuyệt đối, muốn giết bất
cứ thần dân nào thì giết, thậm chí đến các quan trong triều
cũng vậy. Dưới chế độ phong kiến, người dân chỉ biết
vâng lời vua chúa. Dưới triều đại cộng sản, nhóm lãnh
đạo cộng sản nắm quyền cai trị, chẳng những rập khuôn
các triều đại vua quan phong kiến, mà còn lồng trong những
thủ đoạn gian trá tinh vi hơn nhiều, bao gồm gian trá tinh
vi trong những cách giết người dưới quyền cai trị của
họ: "Như Liên Bang Sô Viết đã giết hằng 70 triệu dân của
họ, Trung Hoa cộng sản đã giết hằng 50 triệu dân, các quốc
gia Ðông Âu dưới chế độ cộng sản cũng thế, và nhất
là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ít nhất trong 20 năm
xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc, cộng sản đã giết nhiều
trăm ngàn dân bằng những cách thật là man rợ, khi bị họ
ghép vào thành phần "trí, phú, địa, hào" từ đầu năm 1954
đến tháng 9 năm 1956! Họ đã tiêu diệt hàng ngũ nhà văn
nhà báo trong vụ án "Nhân Văn Giai Phẩm" trong năm 1957 theo
chính sách "trăm hoa đua nở" của Trung Hoa cộng sản! Và họ
đã thiêu đốt hằng chục triệu thanh niên vào cuộc chiến
xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa! Trong trận chiến Tết Mậu Thân
đầu năm 1968, "đám cháu ngoan của ông Hồ" đã giết hằng
mấy ngàn người tại Huế một cách dã man, rồi chôn trong
những ngôi mộ tập thể!
Ðoàn xe lầm lũi một cách
chậm chạp. Chốc chốc chúng tôi luân phiên nhau len lén hé
một khoảng nhỏ "tấm bạt" phía trước để quan sát những
nơi đi qua. Mờ sáng, qua khỏi Biên Hòa và đang trên quốc
lộ số 1 về phía bắc. Ðoàn xe dừng lại Xuân Lộc một
lúc, chắc là chờ cả đoàn tập trung đầy đủ chăng? Tôi
dùng lưỡi lam rạch một lằn ngắn trên "tấm bạt" phía bên
hông, trông thấy nhiều người dân áp sát xe nhưng bị lính
cộng sản chận lại. Rất có thể là người dân nghi ngờ
xe chở quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ đem đi đâu
đó, nên họ tìm cách đến sát hông xe để xem, nhưng không
được.
Khoảng 7 giờ 30 phút sáng,
đoàn xe chở gần 300 Ðại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
thua trận, từ từ vào một doanh trại. Ngừng hẳn. Hai lính
cộng sản mà họ gọi là "bộ đội" cầm súng nhảy xuống,
hạ tấm bửng và lớn giọng:
"Các anh mang tư trang xuống
xe. Không một ai được quan sát địa hình."
Chữ nghĩa của cộng sản sử
dụng không cùng chữ nghĩa mà người không cộng sản dùng.
Câu vừa rồi có nghĩa là "các anh mang đồ đạc xuống xe
và không một ai được tìm hiểu nơi đây là đâu.
Nhìn cổng trại, tôi nhận
ra nơi đây là doanh trại cũ của Trung Ðoàn 48 Bộ Binh mà
có lần tôi tháp tùng Trung Tướng Nguyễn Văn Là đến thăm.
Trung Ðoàn này, lúc ấy Trung Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Trần
Bá Thành. Bây giờ anh Thành cũng đang trong đoàn xe. Doanh trại
này trước kia do một Trung Ðoàn Kỵ Binh Hoa Kỳ trú đóng,
là một trong những căn cứ tạo thành vòng đai bảo vệ an
ninh cho căn cứ Long Bình. Tên địa phương nơi đây là Long
Giao, nằm trên đường liên tỉnh nối liền Xuân Lộc với
Bà Rịa, Vũng Tàu.
Một tên lính cộng sản hướng
dẫn B5 chúng tôi ngang qua các căn trại đã có các B đến
trước từ hôm nào rồi. Cứ mỗi lần ngang một căn trại
thì từ bên trong có tiếng:
"Bò tứ đây nghe. Bò
ngũ đây nghe. Bò tam đây nghe. Xin lỗi bò mấy đó?"
Một anh đi phía trước trả
lời: "Bò lục đây nghe."
"Xin lỗi có bò thất đó không?"
Các anh từ bên trong hỏi vọng ra.
"Không có bò thất. Có ở chung
nhưng không rõ bị chuyển đi đâu." Một anh trong số "bò lục"
đáp lời.
Chữ "bò" dùng trong tiếng lóng
này là dựa theo con bài domino để chỉ cấp bậc. Theo đó
thì "bò tam" là Ðại Úy, "bò tứ" là Thiếu Tá, "bò ngũ" là
Trung Tá, "bò lục" là Ðại Tá, và "bò thất" là cấp Tướng.
Trong quân đội, tôi không rõ ở đơn vị tác chiến có dùng
tiếng lóng này hay không, chớ ở trung ương tôi chưa hề nghe.
Khi trình diện có gặp nhau đâu mà qui ước, thế nhưng khi
gặp nhau trong cùng cảnh ngộ, một bên lên tiếng thì bên
kia đáp lại cứ như đã qui ước với nhau từ lâu vậy.
Tổ chức và sinh hoạt.
Ðến trước một căn trại,
hắn mở cửa. Trời đất ơi! Mùi ẩm mốc thoát ra muốn nghẹt
thở. Mọi người đều hắt xì liên tục. Nền xi măng nhưng
chẳng thấy xi măng đâu cả vì bụi phủ kín mít. Nhện giăng
tứ tung, đến mức mỗi bước đi phải đưa tay vẹt mạng
nhện. Tên lính cộng sản nói:
"Ðây là nơi ở của B5.
Các anh phải dọn dẹp sạch sẽ mà ở. Chốc nữa sẽ có
"anh nuôi" (tức lính nhà bếp)
đến hướng dẫn các
anh xuống bếp nấu ăn."
Lúc mở cửa còn kêu trời,
nhưng bây giờ đâu thể đứng đó mà kêu trời nữa. Vấn
đề trước mắt mà anh Phụng -B Trưởng- phải làm là phân
chia chỗ nằm. Anh Phụng nằm sát vách đầu nhà, tôi với
anh Nguyễn Hữu Có (cựu Ðại Tá, Phụ Tá Võ Phòng Phủ Thủ
Tướng) nằm cạnh nhau và đối chân với anh Phụng. Tôi nói
đối chân, vì đầu hướng vào vách và lối đi ở giữa căn
trại rộng khoảng một thước. Anh Có nhanh tay lẹ chân mà
mau miệng nữa:
"Anh Hoa, anh tạm thời dọn
dẹp, tôi đi kiếm miếng ván hay thứ gì đó lót cho đỡ lạnh
lưng. Quay về, tôi dọn tiếp với anh."
Nói xong là anh chạy ngay. Một
lúc sau, anh mang về tấm ván ép bể đầu này tét đầu kia,
ấy thế mà rất hữu ích, vì nhờ có nó mới tránh được
cái lạnh của nền xi măng ẩm ướt. Ngoài ra anh còn mang về
2 cái thùng đạn rỗng để đựng những thứ lặt vặt nữa:
"Anh tìm đâu ra cái thứ này
vậy anh Có?"
"Tôi chui xuống hầm đạn đó."
Tôi hết hồn:
"Sao anh liều mạng quá vậy.
Nó nổ là hổng kịp phủi chân lên bàn thờ nghe anh".
Anh Có tỉnh queo, còn cười
nữa chớ:
"Ðông nghẹt người trong hầm
đạn chớ đâu phải mình tôi. Thùng đạn còn nguyên xi, tôi
phải cạy cục một lúc mới tháo ra được đó. Bao nhiêu
thùng đạn các loại đều bị tháo tung hết, đạn súng cối
có, đạn đại bác có, đạn M79 có, mà chất nổ cũng có
nữa. Ðạn dược chất nổ văng tung tóe hết trơn. Ghê thì
ghê thiệt, nhưng ai sao mình vậy mà anh."
"Phải cẩn thận chớ anh, giỡn
mặt với đạn dược chất nổ là nguy hiểm vô cùng. Thôi,
từ nay có cần đến mấy cũng không xuống hầm đó nữa nghe
anh. Nhỡ có tai nạn gì tôi ăn nói làm sao với chị."
"Hổng sao đâu anh. Trời độ
tụi mình mà."
"Ðộ thì độ, nhưng mình hổng
độ mình trước thì trời cũng hổng độ nỗi mình đâu anh
ơi!"
Tôi trải 2/3 chiếc chiếu vì
bề ngang không đủ cho cả chiếc. Chiếu này gồm 3 miếng
xếp lại theo bề ngang mà tôi mua tại Singapore hồi tháng 6
năm 1973, khi tôi là thành viên trong phái đoàn chánh phủ sang
đó nghiên cứu về xây dựng chiều cao và cảng dành riêng
cho loại tàu hàng chở container. Tôi moi từ trong cái ba-lô
ra miếng mousse nhỏ dùng tựa lưng khi lái xe để làm gối,
nhưng thấp quá phải ghép thêm hai bộ đồ bà-ba, quấn lại
trong cái khăn nhỏ mới vừa độ cao "cái gối".
Về bếp, họ chia bếp A cho
các B1, B2, B3, và B4. Bếp B do các B5, B6, B7, và B8 sử dụng.
Bữa ăn đầu tiên cho mỗi bếp, tức phần ăn của hơn 120
người gồm: "45 kí lô gạo + 100 gram bột ngọt + 1 tô muối
+ 2 kí lô rau muống. Trên bếp B của chúng tôi có sẵn cái
chảo nấu cơm và cái chảo nấu canh. Ðây là bữa ăn đầu
tiên trong "trại học tập cải tạo" Long Giao do "cải tạo
viên" tự nấu dưới sự hướng dẫn của lính nhà bếp cộng
sản mà họ gọi là "anh nuôi".Chữ "trại cải tạo với nhóm
chữ cải tạo viên" là do anh lính nhà bếp này nói. Anh ta
dùng cái xẻng lớn bằng xẻng xúc đất, vừa ngoáy vào chảo
cơm vừa nói:
"Hôm nay mấy anh ăn cơm với
canh thôi, chưa có món mặn."
Ngoáy cơm xong, hắn cho rổ
rau muống áng chừng hơn 1 kí lô (chớ không phải 2 kí lô
như hắn nói) vào cái chảo chứa 3 thùng nước (60 lít) đang
sôi. Kế tiếp, hắn cho vào 10 bịt mì gói, một tô muối,
và cái bịt 100 gram bột ngọt mà hắn gọi là "mì chính".
Không biết có cái gì thần kỳ trong đó mà anh ta dùng cái
xẻng ngoáy lia lịa vào cái gọi là "chảo canh". Thế là có
chảo canh rau muống với mì gói cho hơn 120 cựu Ðại Tá Việt
Nam Cộng Hòa ăn bữa đầu tiên tại trại cải tạo Long Giao!
Tôi không nhớ anh bạn nào đó trong B5 chúng tôi đã đặt
tên cho chảo canh rất ngộ nghĩnh là "canh đại dương". Nhưng
nghĩ cho cùng, cái tên đó rất đúng, vì một bó rau muống
với 10 bịt mì gói trong 60 lít nước, quí vị quí bạn nghĩ
xem có cái tên nào gọi đúng hơn cái tên "canh đại dương"!
Sau vài ngày hướng dẫn của
anh ta, từ đó các B tự nấu ăn. Vài tuần đầu họ cung cấp
gạo Mỹ do họ lấy trong các kho tồn trữ ở Sài Gòn, nhưng
sau đó là ăn toàn gạo "đại mễ" do Trung Hoa cộng sản viện
trợ. Chẳng biết họ cất giữ bao lâu trong các hầm hố mà
gạo vừa ẩm vừa mục, rất ư là khó nuốt, nhưng cũng phải
nuốt vì không nuốt thì chết là cái chắc!
Về phân chia nấu ăn. Mỗi
B (như Trung Ðội) phụ trách một ngày. Trong mỗi B có 30 người
phân công theo từng toán trong bếp. Nặng nhất là toán phụ
trách nước nên cần 10 "Ðại Tá" tương đối "lực lưỡng"
một chút để kéo nước. Cái giếng nước thật sâu, sâu
đến mức chỉ khi ánh nắng mặt trời chiếu thẳng đứng
trên miệng giếng mới trông thấy mực nước lấp lánh dưới
đáy giếng. Trên miệng giếng có cái rõ rẻ với sợi dây
thật dài, một anh đứng tại rõ rẻ hạ cái thùng xuống
và nắm đầu sợi dây, khi cảm thấy nặng tay có nghĩa là
nước đã vào đầy thùng, ra hiệu cho năm anh ở đầu dây
ra sức kéo thùng nước lên, bốn anh còn lại phụ trách khiêng
về nhà bếp. Toán nào xong phần việc của mình thì nghỉ,
"chờ ăn".
Gần như 12 ngày đầu tiên
mọi người đều cắn răng nhăn mặt mà ăn cơm vừa sống
vừa khét vừa nhão, vì mỗi toán nấu bếp phải đến lần
nấu thứ nhì mới có kinh nghiệm. Phần ăn chỉ có bữa trưa
và bữa chiều chớ không có ăn sáng. Cứ mỗi khẩu phần
là hai chén cơm ngang mặt chén. Anh nào muốn có chút ăn sáng
thì dành lại vài muỗng cơm.
Một hôm, anh lính cộng sản
phụ trách liên lạc với nhà bếp chúng tôi mang đến hai con
gà trống làm sẵn cho hai bếp, nhưng gà này thuộc loại không
có bộ lòng (cộng sản ăn rồi), và ra cái điều vui vẻ:
"Hôm nay các anh ăn thịt
gà kho, với canh rau muống. Các anh làm mà ăn."
Thưa quí vị quí bạn, canh
đại dương thì ngày nào cũng giống ngày nào, cứ 60 lít nước
+ khoảng hơn một kí lô rau muống + một tô muối + 100 gram
bột ngọt. Hôm nay có món gà quả là đặc biệt. Nó càng
đặc biệt ở chỗ, được ăn thịt gà nhưng 120 Ðại Tá
thua trận mà chỉ có một con gà trống nhẵn nhụi khoảng
2 kí lô. Không thể nào chặt được 120 miếng cho mỗi bếp,
mà không chặt được ngần đó miếng thì làm sao chia cho 120
phần. Trong cái đặc biệt đó, anh Cao Văn Phước có sáng
kiến cũng không kém phần đặc biệt là băm nhỏ con gà ra,
có thể gọi là băm nát như tương, rồi cho vào nhiều nước
nhiều muối mà "kho". Nếu gọi "thịt gà kho" thì tội nghiệp
cho văn chương chữ nghĩa nhà bếp! Nấu xong, một anh bèn đặt
tên thức ăn trong cái nồi đó là "xác gà kho", và được
các anh có mặt vui vẻ chấp nhận "món ăn mới" trong "thực
đơn" trại tập trung xã hội chủ nghĩa. Kể ra tên gọi này
có phần sát thực tế, vì đâu thể gọi là "thịt gà kho"
được. Thế là mỗi anh được chia một muỗng bầy nhầy
"xác gà kho".
Tôi với anh Có ăn chung. Cứ
mỗi chiều dành lại 1/3 chén gọi là phần điểm tâm sáng
mai. Chỉ sau vài tuần là tôi thèm chất béo và chất ngọt
vô cùng. Chất béo thì không đào đâu ra, nhưng chất ngọt
thì anh Nguyễn Gia Ngọc (Ðại Tá Quân Nhu) làm quen với nhà
thầu cung cấp thực phẩm cho khu C2, nhờ họ mua giúp từng
kí lô đậu nành hột và đường tán, để làm sữa uống
mỗi sáng. Ðậu nành hột đem phơi thật khô, cứ mỗi chiều
tôi cho một nắm vào cái nón sắt lượm ở đường mương
cạn, dùng khúc củi đâm hột đậu giập giập (chớ đâu
thể nát như bột được), cho vào cái ca nhựa cùng với nửa
tán đường. Nấu nước sôi bằng cái nón sắt kê trên ba
cục gạch, là có "ca sữa đậu nành" ngon lắm quí vị quí
bạn à!
Thỉnh thoảng anh Ngọc nhờ
mua giúp được vài gói "mì gói", tôi chế biến thành chè
bằng cách dùng mì cho vào cái nón sắt vừa nấu nước đường
tán, hòa cho đều rồi cho vào cái ca nhựa là có "ca chè mì"
ngay. Thật lòng mà nói, "ca chè mì" không giống bất cứ loại
chè nào có tên gọi, nhưng phải công nhận là rất hữu ích
cho nhu cầu bổ sung chất ngọt cho cơ thể.
Về tắm giặt rất ư là khó.
Khó vì nước rất hiếm, phải vất vả lắm mới kéo được
một thùng nước nhỏ từ cái giếng sâu lên. Ðem được nước
về đựng trong cái thùng sắt mà "chức năng" của nó khi được
nhà sản xuất chế tạo là đựng đạn, nay thì nó thuộc
loại đa dụng đối với chúng tôi. Lượng nước đó dùng
rửa chén rửa mặt rửa tay và tắm giặt. Nếu như "nước
Cam Lồ" có tác dụng đem đến sự khoan khoái và tươi tỉnh
cho con người, thì quả thật chỉ vài lít nước đó dội
lên người, tôi cảm nhận tức thì tác dụng của nó chẳng
khác nước Cam Lồ.
Thế nhưng "trong cái khó nó
thò ra cái khôn", đó là anh Nguyễn Văn Nhu (Y sĩ Ðại Tá Quân
Y) "phát minh" cách tắm giặt đáng xếp vào loại "thần kỳ"
trong thế giới trại tập trung. Anh Nhu dùng cái lon guigoze bằng
nhôm cứng mà Hòa Lan sản xuất dùng đựng sữa bột, đục
hai cái lỗ bằng đầu cây tăm xỉa răng, nghĩa là nhỏ xíu
xìu xiu. Cho nước vào đầy lon guigoze, để lên cái bệ cũng
bé tí tương đương trên vách, và thong thả đứng tắm. Lúc
đầu tôi thấy hơi kỳ kỳ, nhưng sau mấy lần nhìn anh ấy
đứng tắm tôi thấy có lý. Có lý ở chỗ là chưa có cách
nào giải quyết vấn đề nước "thần kỳ" hơn "phát minh"
của anh Nhu cả. Rồi từ có lý đến bắt chước anh chỉ
một buổi chiều.
Hôm ấy tôi "hi sinh" cái lon
guigoze, cũng đục lỗ, cũng để lên bệ, và tắm. Quí vị
thử tưởng tượng như đang nóng nực, mồ hôi nhuễnhoại
sau khi kéo được thùng nước nhỏ từ dưới giếng sâu lên,
phải xách nó trên đoạn đường khoảng vài trăm thước về
căn trại, cho vào cái "vòi nước bông sen thần kỳ" do anh
Nhu phát minh, rồi từ từ xoay người cho nước ngấm dần
từ trên đầu xuống mặt, ưỡn ngực, khom lưng, đến thẳng
người cho nước ngấm xuống chân. Trong lúc đó, xát xà bông
lên đầu, lên toàn thân, và cả chiếc quần đùi đang mặc
nữa. Tắm và giặt đúng nghĩa mà.
Bây giờ bắt đầu gội sạch
trên đầu, lần lượt xuống toàn thân trong khi vẫn chầm
chậm xoay người trên "cái trục tưởng tượng", để dòng
nước nhỏ nhoi đó ướt khắp châu thân mà không một giọt
nước nào rơi ra ngoài. Mỗi giọt nước, sau khi gội sạch
đầu, lần lượt trôi xuống làm sạch xà bông trên toàn thân.
Xong, lau mình và thay áo quần. Ngay tức khắc phải giặt chiếc
quần đùi, vì nếu chậm sẽ mất lượng nước quí báu còn
lại trong cái "hồ nước guigoze" có một không hai trên thế
giới. Tắm giặt xong là vừa hết nước trong cái "hồ guigoze
bé xíu". Nói là bé xíu nhưng về ý nghĩa thì "cái hồ guigoze"
đó rất lớn và rất hữu dụng với chúng tôi. Dần dần
nhiều anh trong B5 và các B khác, cũng áp dụng cách tắm giặt
rất ư là "kỳ diệu" này.
Tôi nghĩ, tuy không biết vào
thời gian nào, nhưng thể nào cũng có lễ vinh danh những "phát
minh kỳ diệu" của các "cải tạo viên" vốn dĩ là quân nhân
viên chức Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tập trung của
cộng sản Việt Nam, giai đoạn 1975-1992. Với "phát minh" của
anh Bác sĩ Nguyễn Văn Nhu, chẳng những vinh danh anh mà còn
vinh danh nhà phát minh nào đã sản xuất cái lon guigoze nữa.
Quả thật, cái lon guigoze đã giúp chúng tôi trong các trại
tập trung về nhiều công dụng khác nhau. Chẳng hạn như:
- Chỉ một cái lon guigoze cắt
làm hai, phần trên làm cái bếp với năng lượng là cây đèn
cầy (đèn sáp) và phần dưới làm cái nồi nấu.
- Cái lo guigoze làm bình đựng
cơm, đựng canh, đựng nước lạnh, nước nóng, nước trà,
cà phê, nói chung là dùng đựng bất cứ thứ gì đựng được.
- Cái lon guigoze làm quai móc
hai bên, cho chút gạo và nước vào, đem máng bên cạnh cái
thùng nấu nước của mỗi B tại chỗ lao động (đốn cây
trong rừng, cuốc đất trồng lúa, trồng khoai, trồng bắp,
trồng rau, ..v..v.. ). Ðến trưa là có lon cơm hoặc lon cháo
đỡ lòng, vì cái loại chất bột "bo bo" dành cho ngựa ăn
nhưng cộng sản đem nuôi chúng tôi trong các trại tập trung
của họ, không ăn nỗi nhất là các anh bị đau bao tử (dạ
dày)!
Lao động.
Họ chỉ định anh Cao Văn Phước
(Ðại Tá Quân Vận) là C Trưởng C2. Bên khu Trung Tá họ gọi
là C1. Kế bên C1 là C3. Trách nhiệm của C Trưởng C2 là điều
hợp các B Trưởng. Cứ mỗi chiều, anh Phước đến văn phòng
trại để nhận lệnh. Trở về khu C2, anh chuyển các lệnh
đó cho các B Trưởng thi hành. Anh Cao Văn Phước, một thời
là Tổng Cuộc Bóng Tròn Quân Ðội, và anh đã từng là Trưởng
Phái Ðoàn bóng tròn Việt Nam Cộng Hòa tham dự nhiều giải
bóng tròn quốc tế.
Hằng ngày, họ bắt chúng tôi
ra những mảnh đất trống ở bìa rừng làm cỏ đánh vồng
trồng khoai mì mà họ nói "lao động là vinh quang". Một
hôm, anh lính cộng sản gốc miền Nam tập kết ra Bắc năm
1954, hướng dẫn đến cuốc nền bãi đáp trực thăng trồng
khoai mì. Bãi đáp này tráng nhựa, mà hắn bảo chúng tôi cuốc
từng hộc nhỏ mỗi cạnh khoảng một gang tay là mồ hôi ướt
cả người, mà nghe hắn giảng giải kỹ thuật mồ hôi càng
nhỏ giọt nhanh hơn. Hắn nói:
"Ðất của ta ưu việt lắm.
Các anh chưa từng lao động nên không biết gì hết. Các anh
cứ cho một cọng hom xuống là các anh sẽ nhận được một
chùm củ".
Tôi hỏi:
"Anh bộ đội ơi! Ðá cứng
như thế này làm sao nó ra rễ được mà có chùm củ?"
"Ðảng đã nói đất của
ta ưu việt lắm, anh đừng có hỏi dài dòng." Hắn nói
tỉnh bơ, cứ như thiệt vậy quí vị quí bạn à!
Anh em chúng tôi mỉm cười.
Có vẻ như hắn tưởng chúng tôi vừa từ mặt trăng xuống
địa cầu nên chẳng hiểu gì ở cái cõi nhân gian này hay
sao ấy. Toàn đá với nhựa đường và xi măng, làm sao "cọng
hom khoai mì" sống được mà ưu việt với không ưu việt.
Có vẻ não bộ của quân lính cộng sản đặc sệt do bị
nhồi nhét những cái thứ mà lãnh đạo của họ gọi là ưu
việt, và họ không được phép hiểu khác hơn những gì họ
được nhồi nhét cái thứ ưu việt ấy.
Ngày cuối cùng trồng khoai
mì trên mảnh đất "ưu việt" đó, hắn cho biết "quân hàm"
(cấp bậc) của hắn là Thượng Sĩ, và hắn bưng cho một
nồi khoai mì vừa nấu xong:
"Các anh ăn đi, khoai này
là "thủ trưởng" tôi mới đem về đó."
Tôi hỏi: "Thủ trưởng của
anh là ai vậy?"
"Là "đồng chí" Ðại úy
Xê mà lúc nãy đứng đây nói chuyện với mấy anh đó."
"Ðại Úy Xê vô quân đội
mấy anh bao lâu rồi?" Anh Nguyễn Thành Chí hỏi.
"Tôi nghe thủ trưởng tôi
nói có tham gia chiến dịch Ðiện Biên Phủ (1954). Như vậy
là đi lâu lắm rồi."
Chỉ một lúc là nồi khoai
mì hết trơn. Có lẽ lúc nào cũng đói, cộng thêm khoai mì
là món mà mấy tháng nay mới được ăn nên rất ngon.
Sau đó, rẫy khoai mì trên bãi
đáp trực thăng, những mầm cũng vươn lên nhưng èo uột,
vàng úa, rồi tắt lịm. Cuối cùng không còn một dấu vết
gì của "rẫy khoai mì ưu việt" cả. Không thể hiểu được
là tại sao hắn nghe theo lời đảng của hắn dạy đến mức
không cần suy nghĩ xem lời dạy đó như thế nào trong thực
tế cuộc sống. Sao người cộng sản lại ngu muội đến như
vậy?
Học tập cải tạo.
Căn cứ theo thông báo của
Ủy Ban Quân Quản thì thời gian học tập 30 ngày. Tuần lễ
thứ nhất chưa thấy nói gì đến hai chữ "học tập", cũng
có thể chấp nhận được vì phải lo ổn định sinh hoạt
hằng ngày. Tuần lễ thứ hai cũng chưa có dấu hiệu gì, thôi
thì cũng chấp nhận được vì có thể chỉ cần một tuần
học tập chăng? Ðến tuần lễ thứ ba vẫn chưa nghe họ nói
gì về học tập, và từ lúc này anh em chúng tôi bàn ra tán
vào biết bao nhiêu là chuyện, như:
"Có thể họ thấy mình chẳng
những không chống đối họ mà còn ra sức lao động như vậy
là tốt rồi".
"Có lẽ khỏi học tập chính
trị, vì hòa bình rồi họ đâu còn sợ mình chống đối như
khi họ chiếm được miền Bắc".
"Có thể họ chỉ trừng phạt
mình tí thôi chớ thật sự là họ cần mình để khôi phục
đất nước, vì họ chỉ biết đánh nhau chớ có học hành
như anh em chúng mình đâu".
"Vân vân và ..v.. v… "
Ðến đây bỗng dưng tôi chợt
nhớ đến tập sách mỏng do Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa
phiên dịch sang Việt ngữ và ấn hành khoảng năm 1965 hay 1966
gì đó, với tựa "Bạn Có Thể Tin Người Cộng Sản, Nếu
..." Ðến ấn bản lần hai thì tựa dài thêm một chút "Bạn
Có Thể Nghe Cộng Sản Nói Nhưng Ðừng Bao giờ Tin Cộng Sản".
Nguyên tác Anh ngữ của Bác Sĩ Fred C. Schwarz (có thể tên lót
tôi nhớ không chính xác). Tác giả sinh ra và lớn lên ở thành
phố Brisbane, tiểu bang Queensland, Australia. Ông đã dành ra khoảng
20 năm để nghiên cứu chủ nghĩa cộng sản về lý thuyết
lẫn thực tế trong cuộc sống. Toàn bộ tập sách, tác giả
dẫn chứng cụ thể giúp người đọc nhận ra được người
cộng sản bày tỏ tư tưởng của họ hệt như tư tưởng
của người tự do nhưng hoàn toàn khác nghĩa. Chẳng hạn như
họ nói "chúng tôi tha thiết với hòa bình", đó là họ
nói thật nhưng nghĩa của nó thì không thật. Với người
tự do, khi quốc gia mình không có chiến tranh thì đó là hòa
bình, nhưng với người cộng sản thì khi nào toàn thế giới
dưới quyền thống trị của họ mới là hòa bình. Khi họ
nói đến dân chủ có nghĩa là người dân được phép góp
"ý kiến xuôi" theo đường lối của đảng cộng sản, đó
là dân chủ. Nếu góp "ý kiến ngược" (khác với đường
lối của đảng) lập tức bị ghép vào tội phản động,
và những biện pháp trừng trị xảy ra ngay sau đó.
Theo cách nói và hiểu như vậy,
liệu một tháng học tập nêu trong thông cáo của Ủy Ban Quân
Quản Sài Gòn Gia Ðịnh phải hiểu như thế nào đây? Tuần
lễ thứ ba trôi qua gần hết mà "học tập cải tạo" vẫn
trong sự yên ắng một cách mệt mỏi!
Ngày qua ngày, chúng tôi càng
có chung thắc mắc: Họ nói tụi mình đi học tập cải tạo
mà sao họ canh giữ mình kỷ quá. Ra bãi trồng khoai mì mà
có lính mang súng theo gác, và có cả máy vô tuyến nữa? Họ
sợ mình hay sợ ai bên ngoài mình? Rồi cấm liên lạc nhau
giữa các khu trại Trung Tá với Ðại Tá? Thắc mắc nhưng
đâu có ai giải đáp cho mình đâu. Anh Nguyễn Thành Chí:
"Trước khi trình diện, tôi
nghe tin các sĩ quan bị kẹt lại Huế với Ðà Nẳng hồi cuối
tháng 3 (1975) đều bị tước quyền công dân, mà mất quyền
công dân là ở tù rồi còn gì".
Hầu hết các anh trong B5 đều
nghe đến tin đó, nhưng không một ai -kể cả tôi- chấp nhận
mình là tù cả, dù rằng tất cả giấy tờ tùy thân bị họ
bắt giao nộp. Rõ ràng là đến lúc này (cuối tuần lễ thứ
ba của 30 ngày), sự suy nghĩ của anh em chúng tôi trong các
B đều dừng lại ở "vấn đề thời gian học tập 30 ngày
nhưng sao lại bị canh giữ chặt chẽ quá".
Ðầu tuần lễ thứ tư, không
chỉ B5 chúng tôi mà các bạn trong các B khác vẫn bàn ra tán
vào, nhưng nội dung chuyển sang hướng khác. Vì đề tài "học
tập và ra về" bàn mãi rồi cũng cạn, nên chuyển sang đề
tài "quần vợt". Hăng say với đề tài này là anh Nguyễn Thành
Chí (Ðại Tá Pháo Binh), anh Trần Văn Hào (Ðại Tá Pháo Binh),
anh Võ Thành Phú (Ðại Tá Công Binh), anh Nguyễn Hữu Có (Ðại
Tá Bộ Binh), liên tục "cáp độ" và cùng hẹn một ngày ngay
sau khi về đến Sài Gòn là vào sân "tranh tài". Người thua
(đánh đơn) hay cặp thua (đánh đôi), sẽ đãi bên thắng một
chầu không giới hạn.
Những mẩu chuyện như vậy,
cho thấy là một số trong số anh em chúng tôi trong B5 có vẻ
như không một chút ngờ vực về thời hạn 30 ngày "học tập
cải tạo" sắp hết. Trong bầu không khí ngờ vực thì ít
mà tin tưởng thì nhiều ấy, anh Trần Thanh Liêm (Ðại Tá
Quân Tiếp Vụ) trồng được một dây dưa leo nhỏ nhắn đang
có một trái đầu tiên, và hai vồng khoai lang dài độ 3 thước
đang xanh tươi. Khoai lang giống là tôi với anh Liêm lượm
từng cọng rễ khi chúng tôi làm cỏ gần giếng nước đem
về trồng. Việc làm âm thầm của anh Liêm, không hiểu có
phải do anh không tin ngày về trong cái hạn 30 ngày, hay do tính
cần cù kiên nhẫn vốn có của anh, nhưng nhiều anh trong B5
tuy nói vui nhưng cũng pha chút giễu cợt:
"Ông Liêm ơi! Ông ráng ở đó
mà ăn khoai lang với dưa leo nghe".
Anh Liêm cười cười:
"Biết đâu được. Còn ở
thì ăn, về thì thôi chớ có sao đâu. Làm cho đỡ buồn mà".
Thưa quí Anh cùng trong B5 trại
tập trung Long Giao năm 1975, thuật lại đoạn trên đây tôi
có ý nhấn mạnh đến sự hiểu biết của chúng ta lúc ấy
về chủ nghĩa cộng sản nói chung và cộng sản Việt Nam nói
riêng, là quá kém! Cũng xin thêm lời cho rõ nghĩa, chữ "chúng
ta" mà tôi dùng ở đây bao gồm cả tôi trong đó.
Thế nào là cơ động?
Và rồi như thường lệ, một
buổi chiều sau khi anh Cao Văn Phước "C Trưởng" đi họp ở
bộ chỉ huy trại về, liền gọi các tất cả 8 anh B Trưởng
đến họp gấp. Họp xong, B Trưởng chúng tôi là anh Nguyễn
Hữu Phụng thông báo cho cả B rằng:
"Sáng sớm mai, trừ những anh
đau yếu, các anh khác đều sẵn sàng cơ động ".
Chỉ ngắn gọn thế thôi mà
gần như cả 30 anh em chúng tôi có quá nhiều suy đoán, mà
lời suy đoán nào cũng quan trọng cũng tròn trịa như vừa
xem xong trên giấy trắng mực đen vậy. Sau đây là một số
suy đoán chỉ xoay quanh hai chữ "cơ động" mà ra:
"Cơ động" tức di chuyển,
mà di chuyển bằng xe chớ không phải đi bộ, và như vậy
là tụi mình về Sài Gòn chớ còn đi đâu nữa, vì chúng ta
đang ở tuần lễ cuối cùng của 30 ngày mà."
" Nếu vậy thì tụi mình về
lại đại học xá Minh Mạng là cái chắc, không chừng làm
lễ ở đó cũng nên, vì đó là địa điểm mình tập trung
đi học tập."
"Không đâu, tôi nghe loáng thoáng
là xe đưa mình về căn cứ Sóng Thần cũ (ở Dĩ An, Biên Hòa)
chớ hổng phải Sài Gòn đâu, vì nơi đây rộng lớn mới
chứa được nhiều ngàn người. Còn đại học xá bằng bụm
tay mà tổ chức lễ với lạc gì."
"Thôi các anh ơi! Chỉ cần
tụi mình được di chuyển bằng xe là chỉ dấu tốt rồi,
chớ suy đoán xa xôi tôi ngại lắm. Còn nữa, tại sao cơ động
đi về mà ngoại trừ những anh đau yếu là thế nào?"
"Anh ngại cái gì nào? Anh B
Trưởng thông báo chánh thức như vậy mà ngại với không
ngại. Hay là anh xin ở lại học thêm cho có bằng cấp rồi
về sau nhé! Còn mấy anh bệnh chắc là có xe đón tại chỗ,
mạnh như mình thì đi bộ đến chỗ xe đậu chớ có gì đâu
mà thắc mắc".
"Nghe cứ như thiệt vậy mấy
cha".
Chúng tôi suy đoán lung tung
như vậy đó quí vị quí bạn à! Trúng trật chẳng ai biết,
nhưng có khả năng làm giảm bớt mức căng thẳng trong não
bộ chúng tôi.
Thế rồi đêm đó trôi qua
như muôn thuở đã trôi qua mà tôi nghĩ không ai trọn giấc.
Từ mờ sáng, mạnh ai nấy lo thu vén chuẩn bị … cơ động.
Ðến khi gọi tập họp ra sân, tất cả chúng tôi mới vỡ
lẽ rằng, chữ của người cộng sản mà hiểu theo nghĩa của
người tự do là sai hoàn toàn. Bởi vì sĩ quan của họ dõng
dạc đọc bản qui định cho "đoàn quân cơ động" như thế
này:
"Sáng hôm nay, các anh "cơ
động đi lấy củi" ở một nơi cách đây 5 kí lô mét. Tất
cả phải đi hai hàng, không một ai tự ý ra khỏi hàng khi
chưa được phép. Cũng không được liên hệ với nhân dân
(cấm nói chuyện với dân). Khi đến khu vực chỉ định,
mỗi người phải tự kiếm và vác về một bó củi, hoặc
hai người cột củi chung một bó".
Quí vị quí bạn có tưởng
tượng nỗi sự thất vọng của anh em chúng tôi như thế nào
không? Tuy chưa phải là ghê gớm lắm, nhưng rõ ràng đủ để
thay đổi hẳn nét mặt tươi tắn với thái độ hăng hái
lúc ra sân như thế nào! Trông thảm hại lắm quí vị quí
bạn à! Thế nhưng vẫn phải cố gắng để "cơ động bằng
chân", vì nếu không sẽ rắc rối chớ không đùa đâu.
Nửa giờ sau đó. Trên dưới
300 Ðại Tá thua trận chúng tôi -kể cả số anh từ các tỉnh
miền Tây đến đây- ra khỏi cổng, quay lại nhìn thấy hàng
chữ "quân đội nhân dân Việt Nam". Rẽ phải theo đường
liên tỉnh hướng xuống Bà Rịa. Nhìn bên kia cổng trại,
người dân buôn gánh bán bưng từ trong những dãy nhà lụp
xụp ùa ra, đứng nhìn "đoàn người" ăn mặc khá tươm tất,
đang lặng lẽ đếm bước giữa những tên lính cộng sản
súng cầm tay chĩa vào đoàn người. Vài đứa trẻ ngập ngừng:
"Mấy ông ngụy đó".
Cũng may là đám trẻ này còn
gọi "ngụy" bằng ông! Người lớn thì đăm chiêu, im lặng.
Tôi không rõ những người dân nghĩ gì đằng sau thái độ
của họ, nhưng hiển nhiên không phải là hình ảnh của niềm
vui. Tôi nhìn người dân, nhìn vài chiếc xe đò nhỏ thoáng
qua, thật tình là chính tôi cũng không rõ mình đang nghĩ gì,
vì sự suy nghĩ dường như còn quá mong manh. Có thể là sau
2 tháng mất tự do, đây là lần đầu tiên trông thấy người
dân và xe cộ qua lại, nên cách nhìn và cách nghĩ chưa gom
góp đủ yếu tố để định hình được điều gì cả! Phải
chăng những suy nghĩ trên đây là lúc tôi đang đứng một
khoảng cách bên trên mặt đất?
Nơi tìm củi là khu rừng cạnh
đường liên tỉnh. Mạnh ai người ấy sục sạo tìm kiếm.
May quá, tôi gặp được cành cây khô khá lớn. Anh Có (Nguyễn
Hữu) cũng vậy. Chúng tôi đang đứng nói chuyện thì một
cậu bé chui ra từ trong bụi rậm, mang theo một cái "gùi" nặng
trĩu. Cậu ta nhìn quanh không thấy tên lính cộng sản nào,
bèn moi ra một nải chuối xiêm (cũng gọi là chuối sứ) tròn
trịa vừa chín. Tôi mua ngay nải chuối đó, và chỉ mấy phút
sau là tôi với anh Có ăn hết trơn. Mỗi đứa ăn 7 trái. Bây
giờ viết lại cảm thấy ngường ngượng làm sao á!
Tẩy não là vậy đó!
Lên lớp. Sau ngày cơ
động lấy củi là lệnh chuẩn bị học chính trị. Mỗi người
phải sẵn sàng giấy viết, và "cái gì đó" để lót mà ngồi.
Các khu "bò tam, bò tứ, bò ngũ, bò lục", nói rõ là từ cấp
Ðại Úy đến Ðại Tá, đều tập trung vào một khu căn trại
liền nhau không vách ngăn tạm gọi là hội trường để "lên
lớp". Chỗ ngồi là nền xi măng, ai có gì thì lót thứ ấy
mà ngồi đỡ "lạnh đít". Ngồi thật sát nhau vì mỗi lớp
học có đến hơn ngàn người lận. Bài số 1 là "Ðế quốc
Mỹ, kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam". Cán bộ cộng
sản đứng trên bục giảng gọi là "giáo viên", và cách gọi
là "học chính trị" như thế này: "Giáo viên đọc tài liệu
viết sẵn. Không một ai được quyền thắc mắc hay nêu câu
hỏi gì cả mà chỉ lo ghi chép, còn ghi chép gì thì tùy mỗi
anh. Nghe xong phần đọc tài liệu, giải tán về căn trại
của mình.
Từ buổi kế tiếp, mỗi B
ngồi tại chỗ nằm để vào phần gọi là "thảo luận". Với
bài số 1 này họ qui định thời gian là 2 ngày rưỡi. Trong
suốt thời gian đó, sĩ quan của họ ngồi bên cạnh theo dõi
thảo luận.
Thế nào là thảo luận?
"Thảo luận" là mỗi người phải theo câu hỏi của giáo viên
đưa ra, và thảo luận là mỗi người phải lặp đi lặp lại
nội dung đã được giáo viên đọc trong tài liệu, đồng
thời nói thêm những gì mình biết hoặc mình nghĩ, nhưng nhất
thiết phải nghĩ theo tài liệu chớ không được nói bất
cứ những gì mà tài liệu không nói đến. Ðiều quan trọng
mà họ bắt mọi người khi gọi là "thảo luận" phải khẳng
định những gì "giáo viên" đã giảng là hoàn toàn đúng,
chớ không được phủ nhận hay sửa đổi ý nào lời nào
cả. Họ nói rằng tài liệu đã được trung ương đảng của
họ duyệt, mà khi trung ương đảng đã duyệt thì không có
vấn đề sửa đổi. Cũng vì họ hướng dẫn như vậy nên
anh Bùi Quang Ðịnh (Ðại Tá bộ binh) phát biểu như để bớt
cơn tức giận:
"Vậy thì thảo luận gì nữa
mấy anh."
Anh Phụng -B Trưởng- nhỏ nhẹ:
"Xin anh cẩn thận, cách mạng
hướng dẫn như vậy thì mình phải thi hành, không nên thắc
mắc ngoài hướng dẫn đó."
Có vẻ như anh Phụng muốn
ngăn chận những ý kiến tương tự vì "cán bộ" cộng sản
ngồi cạnh đang cau mày tỏ vẻ khó chịu. Ða số anh em thông
cảm với anh Phụng, vì khi B5 bị mắng thì anh B Trưởng bị
mắng trước nếu như điều hợp thảo luận "không đạt yêu
cầu".
Vậy, đạt yêu cầu là gì?
Xin thưa rằng, khi mục đích của họ muốn những người thua
trận phải nói đúng như họ muốn. Nếu như mình nói đúng
sự thật mà sự thật đó không đúng theo mục đích của
họ, họ bảo là "chưa đạt yêu cầu". Thế là họ bắt phải
thảo luận lại, cho đến khi họ nghe mình nói đúng theo bài
học.
Tại sao mỗi người phải lặp
lại nội dung mà "giáo viên" đã đọc trong tài liệu? Tôi
nghĩ, họ bắt buộc như vậy cho thâm nhập vào não bộ của
"người học" tựa như thu vào băng từ, thậm chí giống như
con két nghe mãi nó sẽ thuộc lòng rồi phát ra vậy. Từ đó,
tôi khẳng định rằng: "người cộng sản nói theo tiếng nói
của người lãnh đạo họ chớ không phải họ nói từ cái
đầu của chính họ, và họ buộc mọi người khác cũng phải
hiểu và nói như họ". Chữ "tẩy não" hay "nhồi sọ" là đây
rồi.
Mỗi buổi thảo luận, B Trưởng
phải lập biên bản những ai nói gì hay có những thắc mắc
nào, đem nộp cho C Trưởng -tức anh Cao Văn Phước- để anh
C Trưởng gộp chung lại mang nộp cho Ban Chỉ Huy. Sau đó, tất
cả sẽ tập trung trở lại hội trường để nghe giáo viên
"giải đáp thắc mắc".
Thế nào là giải đáp thắc
mắc? Chẳng qua là "giáo viên" đọc tiếp phần kết luận
mà hắn đã viết sẵn cho phần này, để khẳng định đề
tài học tập là đúng (theo cách hiểu của người cộng sản).
Cho nên có thắc mắc hay không thắc mắc, giáo viên cứ bình
thản đọc phần mà hắn gọi là "giải đáp thắc mắc". Nói
cách khác, họ chỉ chấp nhận "thắc mắc xuôi" tức là vuốt
đuôi theo nội dung bài học, chớ họ không chấp nhận "thắc
mắc ngược" tức là không có trong bài học, thậm chí họ
hiểu những "thắc mắc ngược" như là chống đối họ.
Cứ trung bình một bài học
là 5 ngày, cộng 1 ngày cuốc đất, và 1 ngày nghỉ là hết
một tuần. Trong thời gian học chính trị, căn-tin của họ
mua về một số mặt hàng như đường cát, sữa hộp, mì gói
ăn liền, ..v..v.. để bán lại cho anh em chúng tôi mà họ gọi
là "bồi dưỡng trí óc"(!) Ðợt học tập kéo dài gần
hai tháng, qui vào 3 nội dung: "Chủ nghĩa tư bản là xấu xa,
chủ nghĩa cộng sản là ưu việt, Việt Nam dưới tài lãnh
đạo của đảng cộng sản là vĩnh viễn độc lập, vĩnh
viễn hòa bình, và tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc
lên chủ nghĩa xã hội". Trong bài học "chủ nghĩa cộng sản
là ưu việt", giáo viên Thượng Tá Bình (hắn tự xưng như
vậy) có nói rằng:
" ... Rồi đây, các anh sẽ
được đảng với nhà nước sử dụng lại để sang giúp
đỡ cách mạng Thái Lan giải phóng xứ sở họ...".
Sau buổi lên lớp đó, anh em
chúng tôi có đề tài bàn luận sôi nổi. Không phải bàn luận
về "sử dụng lại hay không sử dụng lại", mà vì từ trong
câu nói đó bao hàm một chiến lược xâm lăng toàn cõi Ðông
Nam Á Châu của cộng sản quốc tế sau khi chiếm được Việt
Nam Cộng Hòa. Trên bản đồ xâm lăng của cộng sản Nga với
cộng sản Trung Hoa, thì cộng sản Việt Nam là cánh tay nối
dài của chúng trong khu vực Ðông Nam Á Châu. Tôi nghĩ, "Phải
chăng chủ thuyết Domino của Hoa Kỳ hồi những năm 50-60 trong
mục đích ngăn chận chiến lược xâm lăng của cộng sản
quốc tế, giờ đây chúng sắp thực hiện sau khi chủ thuyết
này bị đứt mắt xích Việt Nam Cộng Hòa?" Nhưng tôi cũng
nghĩ lại, "Phải chăng khi Hoa Kỳ "bắt tay" được với cộng
sản Trung Hoa thì xóa bỏ mắt xích Việt Nam Cộng Hòa chăng?"
Chính trị mà! Nay là thù, mai là bạn, cũng có thể vừa bạn
lại vừa thù.
Cuối loạt học tập chính
trị gồm 10 bài, họ bắt mỗi người chúng tôi phải viết
"bản tự khai". Họ nói rằng:
"Các anh đã hiểu đường
lối chính sách của đảng với nhà nước, các anh phải tự
liên hệ với những lỗi lầm của bản thân và khai báo thành
thật với cách mạng. Cách mạng biết rõ những việc làm
của các anh, nhưng cách mạng muốn chính các anh tự mình khai
báo, vì cách mạng khoan hồng cho các anh là có điều kiện
chớ không phải khoan hồng chung chung..."
Theo hướng dẫn của họ, bản
tự khai gồm 3 đời lý lịch: Ðời thứ nhất là Ông Bà Nội
với tất cả Bác Chú Cô. Ðời thứ hai là Cha Mẹ với anh
chị em ruột. Và đời thứ ba là bản thân với vợ con. Về
bản thân -tức là chính mình- phải khai từ lúc cha mẹ sinh
ra, làm gì, ở đâu. Vào quân đội phải khai cấp bậc chức
vụ, đơn vị, nơi đóng quân, làm những công việc gì, đã
bắt hay giết bao nhiêu người cộng sản của họ, đã học
những trường nào, ở đâu, học về gì, đã có những huy
chương nào và tại sao có, … tất cả phải khai theo từng
năm một. Sơ khởi họ phát mỗi người 2 tờ giấy đôi, nếu
thiếu thì xin thêm.
Quí vị quí bạn biết không,
nghe họ hướng dẫn mà phát mệt rồi, vì làm sao nhớ nỗi
tên tuổi của cả dòng họ được. Nhưng khi ngồi trên chỗ
nằm hay dựa vào gốc cây, bất cứ thứ gì miễn tạo được
cái mặt bằng nho nhỏ để giấy lên viết, đều được gắn
cho cái tên là "bàn viết" cả. Còn nội dung thì cứ ngắn
gọn trong 4 trang giấy là xong. Có điều là tên tuổi của
đời thứ nhất đều do tưởng tượng rồi viết vào chớ
làm sao biết được. Thế là xong phần "học chính trị", các
Ðại Tá thua trận quay sang bàn luận trong khi cứ nghĩ là "chờ
đợi" về nhà. Chữ chờ đợi tôi để trong hai ngoặc kép,
vì tự mình chờ đợi chớ họ có nói gì liên quan đến chờ
đợi đâu. Mọi bàn luận vẫn xoay quanh ngày về với vợ
con. Tuy mỗi anh mỗi bạn có cách nhìn cách nghĩ không hoàn
toàn giống nhau, nhưng có điều giống nhau là đồng ý "đã
lao động rồi, đã học chính trị xong rồi", chỉ chờ về
thôi. Ðơn giản quá. Bây giờ nghĩ lại mới nhận ra là mình
không hiểu được chiều sâu nham hiểm thâm độc của cộng
sản nên đặt vấn đề quá ư là đơn giản". Tuy luận bàn
không ồn ào như hồi cuối tháng thứ nhất, nhưng cũng sôi
nổi đáng kể.
Bây giờ là năm 2006, rất nhiều
vị nhiều bạn tị nạn ở hải ngoại, kể cả những anh
sang Hoa Kỳ dưới tên gọi H.O. có vẻ như chưa thấm thía,
hoặc dễ dàng quên đi bài học đắng cay trong suốt 31 năm
qua, nên vẫn còn tin vào nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam
mà cộng tác với họ lãnh vực này lãnh vực khác, kể cả
về Việt Nam làm ăn dưới sự cai trị độc tài của họ!
Thật là buồn!
Nhân lúc thưởng thức những
củ khoai lang bé bỏng do vồng khoai cũng bé bỏng của anh Trần
Thanh Liêm đào được một thùng, tôi nhớ lại câu nói của
anh Hào có ý giễu cợt khi thấy anh Liêm chăm bón vồng khoai
lang và dây dưa leo:
"Anh Liêm ơi! Anh ráng ở lại
mà ăn dưa leo với khoai lang nghe."
Thế nhưng sau 3 tháng, dường
như anh Hào không nhớ câu mà anh giễu cợt anh Liêm, nên anh
cùng các bạn ăn những củ khoai lang nhỏ nhắn một cách ngon
lành. Thật sự là khoai lang rất ngon, có điều là phẩm chất
của nó chẳng phải là do giống khoai hảo hạng gì cả, chỉ
vì
trong cái xã hội chật hẹp lại bị cấm mọi thứ, nên
những củ khoai lang cỡ ngón tay ngón chân trở thành "món ăn
tuyệt diệu" đó thôi.
Ðang ngồi ăn khoai, một trong
số các anh đến sau là anh Nguyễn Ngọc Ðiệp (Ðại Tá, Tỉnh
Trưởng Bạc Liêu) bị bắt từ các tỉnh đồng bằng Cửu
Long chuyển đến Long Giao nhập vào "học chính trị". Anh kể
chuyện về bản thân anh trong ngày "gọi là bàn giao" tỉnh
Bạc Liêu. Thi hành lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, anh
ngồi chờ bàn giao. Gọi là "bàn giao" xong, anh mời tên cộng
sản vừa "nhận bàn giao" ra chợ ăn trưa. Vừa trả tiền xong
thì tên "tân Tỉnh Trưởng cộng sản" đưa anh Ðiệp vào nhà
giam Bạc Liêu luôn. Hắn nói:
"Anh ngồi đó chờ ngày đi
học tập cải tạo để thông suốt đường lối của đảng,
theo chính sách khoan hồng."
Nói xong là hắn ra lệnh khóa
cửa đánh rầm một cái. Anh Ðiệp nói sự kiện diễn biến
nhanh đến mức anh không kịp suy nghĩ gì hết. Anh ngồi bó
gối trong nhà tù cho đến chiều mới tỉnh hồn lại để
biết là anh đang trong nhà tù. Cùng lúc anh nhận ra "cái đểu"
lồng trong chính sách nhân đạo của cộng sản Việt Nam.
Anh Ðiệp cùng với hơn chục
bạn Ðại Tá nữa, bị bắt hoặc trình diện ở các tỉnh
đồng bằng Cửu Long, chuyển đến trại Long Giao nhập vào
đúng lúc chuẩn bị "học chính trị". Cũng vào thời gian này,
mọi người thua trận được phép viết thư về gia gia đình
theo hướng dẫn của họ:
"Ðây là chính sách nhân
đạo của đảng và nhà nước cho các anh đi học tập cải
tạo để các anh trở thành người dân lương thiện, và cũng
giúp các anh tránh sự trả thù của nhân dân. Nhưng đảng
với nhà nước vẫn cho các anh "liên hệ" với gia đình. Nội
dung thư, các anh chỉ được nói về sức khỏe tốt và tình
cảm gia đình mà thôi. Hoàn toàn không được nói mấy anh
đang ở đâu, làm gì. Nói chung là các anh không được nói
những gì không được phép. Thư viết xong, nộp cho cán bộ
duyệt, còn có chuyển đi hay không là tùy nội dung các anh
viết trong thư".
Với đoạn ngắn trên đây
có 3 vế: (1) Họ nói là học tập cải tạo để trở thành
người dân lương thiện. (2) Họ bắt nhốt để tránh bị
dân giết. (3) Họ dạy cách viết thư.
Tôi thấy cần giải thích cho
rõ nghĩa theo cách hiểu của tôi:
"(1) Cộng sản là thứ cướp
đoạt công khai, cướp nhà cửa cơ sở kinh doanh thương mại,
nói chung là cướp mọi thứ tài sản của người dân Việt
Nam Cộng Hòa cũ, nhưng họ gắn cho sĩ quan viên chức Việt
Nam Cộng Hòa cái tội trấn lột tài sản của dân rồi họ
giành quyền dạy dỗ để thành người lương thiện.
(2) Do lòng thù hận, họ không
cần đến luật pháp mà ngang nhiên bắt nhốt hằng trăm ngàn
công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ (năm 2004 mới biết được
con số bị chúng bắt giam là 222.809 người), mà họ nói là
giúp chúng tôi không bị dân giết.
(3) Họ nói xã hội chủ nghĩa
của họ là dân chủ gấp ngàn lần dân chủ phương Tây, mà
đến viết thư họ cũng bắt buộc phải viết theo ý họ,
kể cả đói sắp chết vẫn phải nói với gia đình là ấm
no mạnh khỏe."
Rõ ràng và chắc chắn là ngay
bước đầu, bản chất dối trá của chế độ đã phủ trùm
lên sự suy nghĩ của mọi người trong các trại tập trung.
Thuật đến đây tôi chợt nhớ đến sự kiện vào một tối,
Ðại Úy cộng sản, tên Xê, trại trưởng, bất chợt đến
nhà B5 của 30 "Ðại Tá" thua trận. Anh ta tự ngồi xuống và
vào chuyện có vẻ như "tâm tình", nhưng không hiểu là anh
ta đến tìm hiểu hay theo dõi điều gì thì không anh nào trong
B5 chúng tôi đoán được. Anh ta lên tiếng khi mọi người
ngồi dậy -vì chuẩn bị ngủ mà- để nói chuyện. Anh ta nói:
"Tôi đến để nói chuyện
chơi với các anh."
"Xin lỗi anh. Anh vào bộ đội
bao lâu rồi?" Một anh hỏi.
Thật ra mình gọi là quân đội,
nhưng nếu nói như vậy e là anh ta không hiểu nghĩa, rồi có
thể tưởng là mình ám chỉ điều gì chỉ thêm rắc rối.
Ðành phải dùng chữ mà anh ta sử dụng. Lần lượt các bạn
luân phiên nêu câu hỏi với hắn.
"Tôi đi từ trước khi có
trận Ðiện Biên Phủ, và tôi đã tham gia chiến trường đó
từ đầu".
"Trong bộ đội, mấy anh liên
lạc thư tín về gia đình như thế nào?"
"Ðối với chúng tôi không
có vấn đề gì cả, vì vào bộ đội chỉ biết có cách mạng
và chiến đấu thôi, còn gia đình thì có nhà nước lo. Trường
hợp có thư gia đình báo tin buồn cũng không đến tay chúng
tôi đâu, vì "chính ủy" (ủy viên chính trị của đơn vị)
cho là thư đó chỉ làm yếu tinh thần chiến đấu chớ không
có lợi trong khi thân nhân cũng chết rồi. Hồi "tiếp quản
Hà Nội", tôi về thăm nhà thấy bàn thờ tôi ở giữa nhà,
có tấm ảnh thuở tôi còn thanh niên trên đó. Lúc ấy cả
nhà nhìn tôi như muốn bỏ chạy vì không thể tin tôi còn
sống. Tính ra đến lúc ấy thì tôi vào bộ đội gần 9 năm,
mà hoàn toàn không có tin tức gì giữa tôi với gia đình hết.
Rồi lần chiến đấu này lâu hơn, vì tôi vào chiến trường
miền Nam đã hơn chục năm cũng không một tin tức gia đình.
Ðó là chính sách của đảng với nhà nước, không có vấn
đề thắc mắc gì cả vì có thắc mắc (cấp) trên cũng chẳng
giải quyết".
"Vậy mấy tháng nay anh cũng
không liên lạc về gia đình à?"
"Tôi thì không liên lạc,
nhưng vừa rồi có người đồng hương thăm quê trở vô cho
biết là có tìm được gia đình tôi, nhờ đó tôi mới biết
có vài thân nhân đã chết, con tôi thì học lớp 8. Nói chung
thì chuyện chiến đấu với chuyện gia đình của anh em chúng
tôi ngoài Bắc, không như các anh, mà cũng chẳng có gì vui
cả."
"Xin lỗi anh nghe. Theo anh thì
lý tưởng mà anh chiến đấu không bao gồm gia đình trong đó
sao?"
"Có chứ. Nhưng nhà nước
lo rồi."
"Nhà nước là dĩ nhiên, vì
đó là trách nhiệm của nhà nước phải lo cho dân. Thế nhưng
sự trao đổi tin tức giữa người "bộ đội" với gia đình
là phần riêng tư của mình chớ. Cái ý nghĩa cao quí của
cuộc sống gia đình chính là đấy, và cái ý nghĩa đó càng
được trân trọng trong thời chiến tranh mới phải chớ anh."
"Anh em chúng tôi đi chiến
đấu không có tin tức gia đình và ngược lại, là chuyện
bình thường, trong khi các anh trong Nam lại cho là quan trọng.
Mới vắng nhà mấy tháng mà anh nào anh nấy cũng kêu nhớ.
Lâu dần các anh phải quen như chúng tôi thôi."
"Nói thiệt với anh nghe, riêng
cái khoản ấy thì anh em chúng tôi không thể xem thường như
các anh đâu. Chúng tôi quí trọng tình cảm gia đình lắm,
nó là cốt lõi của cuộc sống mà. Gia đình là tế bào của
xã hội, xã hội mà không gồm gia đình thì nó có nghĩa gì
đâu, phải không anh?"
"Thôi, tôi vắn tắt để
các anh hiểu: Với cách mạng, các anh không nên thắc mắc
bất cứ điều gì. Bây giờ khuya rồi, tôi về."
Nói xong là anh ta đứng dậy
ra cửa luôn, chừng như có vẻ khó chịu với những câu hỏi
tới tấp của chúng tôi thì phải. Sở dĩ tôi với các bạn
dám hỏi anh ta và là hỏi khá hóc búa nữa, vì cho đến lúc
này chưa ai nghĩ rằng mình là "tù của cộng sản" cả, dù
rằng giấy tờ tùy thân bị họ tịch thu hết trơn, nên mới
vặn vẹo anh ta cũng là cách bày tỏ quan điểm của mình một
cách tự nhiên, giống như "người điếc không sợ súng" vậy.
Nhưng sau cuộc nói chuyện khá
dài với con người cộng sản có tên là Xê, đang là Trưởng
Trại chúng tôi, anh em chúng tôi rút ra vài điểm căn bản
sau đây:
Một. Cái chính sách cắt
đứt liên lạc giữa người lính của họ với gia đình, là
một thứ chính sách hoàn toàn vì đảng cộng sản của họ
mà không hề có tình người trong đó. Ðây là biểu hiện
rõ nét về "bản chất vô gia đình" của lãnh đạo cộng sản
Việt Nam.
Hai. Tình cảm gia đình
bị thui chột đến mức người lính cộng sản không còn ý
thức gia đình nữa mà chỉ biết có đảng với nhà nước.
Ðây là chính sách thâm độc của nhóm lãnh đạo, khi sử
dụng con người như một loại phương tiện để phục vụ
tham vọng của họ. Vì vậy mà "con người" trong xã hội xã
hội chủ nghĩa, chỉ là một thứ phương tiện đa dụng được
lồng trong chính sách giáo dục "trăm năm trồng người" mà
ông Hồ luôn miệng rêu rao.
Ba. Lãnh đạo của họ
nói như thế nào thì người lính chỉ được hiểu như thế
đó, mà không có quyền thắc mắc. Sự ngu muội của người
lính cộng sản dù là đảng viên hay chưa là đảng viên, còn
tệ hơn người dân và quan chức thời phong kiến hằng trăm
hằng ngàn năm trước.
Sau tuần lễ gởi thư đi, chúng
tôi nhận được thư nhà. Tuy nội dung thư viết theo hướng
dẫn, theo bắt buộc, nhưng cũng có một số bạn nhờ "méo
mó chữ nghĩa" nên thân nhân cũng đoán được chỗ ở. Ðây
là đoạn thư "méo mó" đó:
"... Trước khi đi học tập,
vì buồn quá nên Anh đi đánh bài. Thua và thiếu nợ chút ít.
Cũng may có tía thằng Long, Ông Nội thằng Long là anh
Giao già lọm khọm đó, cho Anh mượn trả cho chủ sòng
bài. Nếu Em có tiền, ráng mang trả ảnh giùm Anh 100 đồng
nghe Em. Anh hứa là khi học tập về, sẽ không bao giờ hành
động như vậy nữa …"
Thế là cấp "Ðại Tá học
tập" ở Long Giao được loan truyền từ gia đình này sang gia
đình khác
trong vùng Sài Gòn Gia Ðịnh. Vài tuần sau đó, anh
Nguyễn Văn Ðương (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân) được vợ
đến thăm nhưng không được gặp, mà cộng sản bằng lòng
nhận giỏ thức ăn đưa vào trại cho anh Ðương.
Ðược thư vợ tôi. Nhìn dòng
chữ thân thương trên bao thư, tôi xúc động vô cùng! Tôi
biết là vợ tôi và các con chúng tôi mong tin lắm. Thông thường
chỉ một ngày vắng nhau về tin tức đã đủ tạo nên không
khí âu lo trong gia đình, huống hồ từ hôm tôi rời nhà đến
nay đã hơn 3 tháng rồi! Thời gian đó đối với cuộc sống
chẳng có nghĩa gì hết, nhưng với vợ chồng tôi trong tình
cảnh này quả là nỗi lo nặng trĩu biết bao! Cũng vì sợ
cách biệt nhau mà vợ tôi đã khước từ di tản trong đêm
24 và 25 tháng 4 năm 1975, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy miễn
được sống bên nhau. Do đó, tôi mới xoay sang giải pháp đi
Australia ngang qua Singapore ngay sau khi Tổng Thống Dương Văn
Minh tuyên bố "trung lập". Vậy mà..., chúng tôi vẫn xa nhau
trong mịt mù tin tức!
Xem xong thư, tất cả anh em
chúng tôi hiểu ngay rằng, các bà vợ chúng tôi cũng phải
"học tập" cách viết thư cho những ông chồng trong trại tập
trung, vì nội dung thư chúng tôi gởi về với thư nhận được
từ gia đình, y chang nhau. Xã hội xã hội chủ nghĩa có vẻ
như "một cái hang", mọi người từ trong cái hang đó đều
suy nghĩ và hành động như vậy đó quí vị quí bạn à!
Cơm trưa hôm ấy, trong khi trao
đổi những mẩu chuyện ngăn ngắn xoay quanh "đợt thư đầu
tiên", thì những tiếng nói vội vã từ ngoài cửa:
"Có tin vui. Có tin vui."
"Tin gì mà vui?"
"Anh C Trưởng hội ý bất thường
-tức nhận lệnh của Trại- về đến, anh ấy đang gọi các
anh B Trưởng họp gấp. Chốc lát sẽ rõ. Ðừng có hỏi nữa
được không?"
Mỗi lần có bất cứ tin tức
gì miễn là cứ ỡm ờ làm cho mọi người xôn xao, thì mạnh
ai người ấy tự hỏi hoặc nêu câu hỏi bâng quơ, cho nên
không thể nào nhớ nỗi ai hỏi câu gì mặc dù nhiều người
hỏi nhưng chẳng ai trả lời.
Một lúc sau, anh B Trưởng về
đến căn trại mà không cần gọi tập họp gì cả, vì mọi
người trong B bao quanh anh rồi. Anh Phụng vẫn từ tốn như
thuở nào:
"Lệnh cho anh em mình chuẩn
bị "cơ động". Lát nữa có Trại Trưởng xuống nói chuyện
với anh em mình."
Thế là quá đủ để mọi
người trong B nhao nhao lên với những âm thanh rất ư là lộn
xộn. Có tiếng anh Bùi Quang Ðịnh càu nhàu:
"Lại cơ động! Một lần cơ
động lấy củi gần ẹo xương sống rồi, bây giờ cơ động
gì nữa đây?"
Anh Phụng kéo tôi ra bên ngoài:
"Anh Phước -C Trưởng- cho biết
là mình chuẩn bị "go home". Anh phải giữ kín nghe chưa vì
anh em đồn ầm lên là phiền lắm."
"Mong là như vậy." Tôi đáp,
nhưng vẫn có chút e dè ..
Toàn bộ khu C2 cấp Ðại Tá
tập họp nghe Trại Trưởng -Ðại Úy Xê- thuộc Ðoàn 263 đến.
Anh ta nói đại ý rằng:
"Các anh sẽ cơ động ngay
tối nay đến một trại khác có tiện nghi hơn, vì về lâu
về dài thì trại này không đủ điều kiện sinh hoạt cho
các anh. Chúc các anh có sức khỏe để học tập tốt mà sớm
về với gia đình."
Thôi thì mọi người vừa thu
dọn vừa mạnh ai người ấy nói, nói cho mình và nói cho cả
những anh im lặng suy nghĩ. Một số câu nói kiểu ấy tôi
ghi lại như sau:
"Chắc chắn là tụi mình về
rồi."
"Nếu về, sao họ nói là trại
kia có tiện nghi hơn?"
"Thì họ sợ mình xôn xao nên
họ nói vậy chớ có gì đâu."
Chính họ nói vậy mới làm
mình xôn xao đó mấy anh ơi!"
"Việt cộng nói hơi nào mà
nghe. Ba chục ngày mà bây giờ mấy lần ba chục rồi, vậy
mà các cha cứ nghe chúng nó hoài, có mà chết đó."
"Nó còn nhốt mình dài dài
cho coi. Tôi "đếch" tin tụi nó nữa."
"Thôi các bạn ơi! Mệt lắm!
Chẳng có ai xác nhận lời nào đúng lời nào sai đâu. Cứ
mặc kệ, tới đâu thì tới!"
"Nói vậy thì còn gì nói nữa.
Chuyện có ảnh hưởng đến mình thì mình phải nói phải
bàn, may ra có câu trả lời hợp lý chớ. Mà nói cho cùng,
bàn chuyện với nhau dù trúng hay không trúng cũng góp phần
nâng đỡ tinh thần anh em chớ bạn."
"Nghĩ gì thì nghĩ, nói gì thì
nói, nhưng đừng cãi cọ nhau chẳng đẹp đẽ gì đâu."
"Ai cãi ai mà ông nói?"
"Không cãi thì thôi, có gì
đâu mà quạu thế!"
"Thực tế chút đi các bạn
ơi! Thu dọn mọi thứ cần thiết để có mà dùng nếu như
cái số của tụi mình vẫn long đong!"
"Cha nào nói nghe xui xẻo không
hà!"
Ðại loại những câu chuyện
râm ran như vậy, tuy có vẻ bâng quơ nhưng tự nó đã biểu
lộ tâm trạng của những người vừa hụt hẫng với thời
gian 30 ngày nêu trong cái thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Sài
Gòn - Gia Ðịnh.
Một đêm hạ tuần tháng 10
năm 1975, hoàng hôn phủ xuống, đoàn xe Molotova già nua cũ kỹ
từ từ vào cổng trại. Anh em chúng tôi dưới sự thúc hướng
dẫn lẫn thúc giục của quân cộng sản, lần lượt lên xe
với mớ hành trang lỉnh kỉnh. Lên xong, chung quanh bị phủ
kín như lần "cơ động" từ đại học xá Minh Mạng Sài Gòn
đến Long Giao này vậy. Khoảng 8 giờ đêm, đoàn xe chầm chậm
ra cổng. Vào quốc lộ 1 và hướng về Sài Gòn. Sự kiện
nhỏ nhoi này làm tăng thêm niềm hi vọng "go home" của anh em
chúng tôi ...
(Tiếp theo
Chương năm)
|