-
sáu -
Trại
tập trung Yên Bái.
*****
Sau hai vòng lượn,
phi cơ đáp xuống một đường băng nào đó không bằng phẳng,
làm phi cơ nhảy tưng tưng. Phi cơ dừng hẳn. Ðộng cơ tắt.
Lại ra lệnh:
"Mọi người
ngồi yên tại chỗ chờ mở còng."
Ấy vậy mà khi
xuống phi cơ có một anh (tôi quên tên) vẫn còn cái còng trong
tay. Mãi khi những chiếc Molotova lệt bệt tới, họ mới tìm
được cái chìa khóa mở còng. Tôi lượm được sợi dây
ni-lông dùng cột lạp xưởng:
"Các anh ơi! Ðúng
là mình đến cùng địa điểm với các anh đi trước rồi,
sợi dây này đủ chứng minh điều đó."
"Trên đất Bắc,
nhất là ở cái phi trường đèo heo gió hú này làm gì có
lạp xưởng."
Tôi trông thấy
2 chiếc phản lực cơ Mig họ giấu trong rừng chồi bên ngoài
phi trường một khoảng cách, đúng là 2 chiếc này tôi đã
trông thấy trên một tấm không ảnh hồi cuối năm 1974 do
Phòng 2 Tổng Tham Mưu cho xem. Tôi quay sang các bạn:
"Các anh ơi! Chắc
chắn là chúng mình đang ở vùng núi trên đất Bắc rồi,
vì 2 chiếc Mig này tôi thấy trong không ảnh nhưng không nhớ
chính xác nơi đây."
Anh Luân nói:
"Tôi là dân Bắc
Kỳ chính cống mà cũng chịu. Không biết đây là đâu nữa,
vì mấy cây gồi này không nói lên được điều gì hết."
Trại tập trung
Yên Bái.
Mỗi xe 20 người
cùng với mớ hành lý ít ỏi. Tất cả ngồi trên "đống tài
sản" của mình vì chỉ có sàn xe chớ không có băng ngồi.
Tôi ngồi khoảng giữa xe. Ngoài tên lính cộng sản tài xế,
còn có một tên ngồi cạnh, và hai tên nữa ngồi trên tấm
bửng xe, một tay vịn mui xe một tay cầm súng hướng vào trong
xe. Mui và hai bên hông xe phủ kín mít bằng "tấm bạt", chỉ
còn thấy một mảng trời xanh nho nhỏ xa xa, qua khoảng trống
giữa hai tên lính cộng sản ngồi trên bửng sau. Tôi nhìn
qua nhìn lại trong cái khoảng không gian bé xíu đó, chỉ là
do tò mò chớ thật ra có biết đây là nơi nào đâu. Ấy vậy
mà bị một tên quát:
"Anh kia, không
được quan sát địa hình ."
"Tôi nhìn ra trước
mặt tôi mà."
"Anh không được
lý luận."
Tôi vừa cười
vừa nhìn sang anhLuân, cũng bị quát:
"Tại sao anh
cười?"
"Anh đâu có cấm
tôi cười."
Hắn quát to:
"Im."
Nghĩ sao không
biết, hắn xoay vào tôi như nói trống không:
"Bọn ngoan cố."
Gần như đám
cộng sản này từ cấp lớn xuống đến cấp bé, khi thấy
đuối lý thì phun ra hai chữ "ngoan cố" để bịt miệng kẻ
thù trước mặt.
Anh Luân nói khẽ:
"Nói với mấy
thằng chó đẻ này làm mẹ gì cho thêm tức."
Ðoàn xe dừng
lại. Từng hai người một, chúng tôi xuống xe. Bên tay phải
là thị xã Yên Bái, nhưng phút chốc bị che khuất bởi một
đám đàn bà và đám "oắt tì" (con nít) kéo đến với thái
độ sừng sỏ. Miệng hét tay xỉa xói vào nhóm chúng tôi đang
chầm chậm xuống bờ sông để lên phà. Họ đứng cách chúng
tôi khoảng chục thước, cùng lúc đến mấy chục cái miệng
oan oác:
"Ðồ bán nước.
Giết hết chúng nó đi."
"Ðồ ăn thịt
con nít. Ðem bắn hết đi."
"Bọn giặc
lái giết người. Cho nó rục xương trong rừng đi."
Ðám lính cộng
sản áp tải chúng tôi có vẻ hài lòng với nụ cười của
tụi nó khi thấy đám phụ nữ và trẻ con sỉ vả chúng tôi.
Chúng tôi im lặng. Lên phà. Cho dẫu mỗi chúng tôi có suy nghĩ
gì đi nữa, tôi nghĩ, cũng đều ngỡ ngàng qua "cú sốc" đầu
tiên kể từ ngày thua trận! Nhưng ngay bước đầu trên đất
xã hội chủ nghĩa 20 năm, sự kiện vừa qua chứng tỏ là
cộng sản đã nhồi nhét trong đầu người dân từ bé đến
lớn một lòng căm thù chúng tôi không thể nào tưởng tượng
đến như vậy. Họ nói chúng tôi ăn thịt con nít! Ðiều này
làm tôi nhớ lại câu hỏi của một tên cộng sản mà anh
Nguyễn Kim Sơn giới thiệu là cán bộ, khi anh hướng dẫn
đến nhà tôi phỏng vấn có thu hình vào những ngày đầu
tháng 5 năm 1975. Hắn hỏi tôi:
"Anh là Ðại
Tá, chắc anh giết nhiều con nít lắm mới được quân hàm
đó phải không?"
Rõ ràng là từ
trong quân ra đến dân và từ già đến trẻ trên cái đất
xã hội chủ nghĩa này, chỉ có một cách hiểu, một cách
nói mà thôi!
Tiếng anh bạn
bên cạnh kéo tôi lại thực tế:
"Ðây là phà Ô
Lâu trên thượng nguồn Sông Hồng. Ngày trước tôi có qua
phà này khi tham gia trận đánh Nghĩa Lộ. Vậy là tụi nó đưa
mình vô cánh rừng già phía Nam Yên Bái rồi."
Phà Ô Lâu, chỉ
là chiếc sà -lan có chiếc tàu kéo cặp bên hông đẩy đi.
Nó không giống bất cứ chiếc phà nào ở Mỹ Thuận hay Cần
Thơ cả. Cũ kỹ già nua mà lỗi thời nữa. Sông Hồng Hà mà
tôi học trong sách "Quốc Văn Giáo Khoa Thư" từ cuối những
năm 30, bây giờ mới trông thấy, nhưng là trông thấy trong
một tình cảnh hoàn toàn ngoài ý muốn.
Phà vừa cặp
bến, anh Vũ Tiến Phúc (Ðại Tá Pháo Binh) xin đi cầu (đại
tiện) vì đau bụng chịu không nỗi nữa. Tụi nó không cho.
Mãi đến khi thấy anh Phúc sắp … ra quần, chúng nó mới
cho anh chui vô rừng giải quyết.
Sang bên kia, đoàn
xe lại lăn bánh. Lại có một đám đàn bà con nít "dàn chào"
nữa. Họ đứng một bên đường, ném đá vào xe trúng tấm
bạt nghe lịch bịch. Khi xe qua khỏi, tôi thấy mấy cái miệng
nhóp nhép lia lịa. Họ chửi họ nghe luôn chớ chúng tôi có
nghe gì đâu. Nghĩ đến con người trong cái xã hội chủ nghĩa
này mà tức cười, nhưng không dám cười. Cười là bị quát
mà. Họ chẳng khác những cái máy cát-xét, thu thế nào phát
ra thế ấy!
Khoảng 12 giờ
trưa, đoàn xe dừng lại một ngã ba đường đất đá. Nhìn
thấy căn trại chỉ là mấy cái nhà ọp ẹp xa xa, có lẽ
cũng cả cây số chớ không ít. Ngay ngày đầu tiên trên đất
Bắc, chúng tôi phải đội cái nắng oi bức của mùa hè khắc
nghiệt so với cái nắng "hiền hòa" trong Nam. Mọi người tay
xách nách mang, mồ hôi nhuễ nhoại . Trông thấy mấy anh mập
quá trọng lượng, mang xách lỉnh kỉnh vừa đi vừa thở một
cách nặng nhọc mà áy náy, nhưng giờ phút này có ai tiếp
được ai đâu! Nhiều anh phải cả tiếng đồng hồ sau mới
lê thê lếch thếch đến trại!
Trại nhà ngói.
Ở đây gọi là
"trại nhà ngói". Trại này có một dãy nhà duy nhất lợp ngói.
Dài khoảng 20 thước và 6 thước ngang. Nối dài là một dãy
nhà tranh dài khoảng 10 thước. Xéo về bên trái là hai dãy
nhà tranh đâu lưng nhau, cũng dài khoảng ấy. Trước mặt dãy
phía sau là cái nhà bếp với 4 cái chảo lớn. Ngoài cổng
vào có cái chuồng bò cũ, đã có một số anh đến trước
ở trong đó. Hơn 300 Ðại Tá thua trận, chen chúc nhau trong
mấy dãy nhà này, thì liệu "cái cõi không gian bé tí" của
mỗi chúng tôi được bao nhiêu? Khoảng 20 anh em trong số chúng
tôi vừa đến -tôi trong số này- ở ngoài sân. Nói cho đúng
là ở ngoài rừng. Chúng tôi chọn ở cuối dãy nhà tranh, đạp
cỏ cho rạp xuống rồi để đồ đạc lên.
Anh Nguyễn Ngọc
Ðiệp đến đây trong chuyến trước. Anh cho tôi chén cơm độn
bắp. Anh nói là chén cơm này anh để dành từ hôm qua, sáng
một nửa chiều một nửa, để làm phần điểm tâm sáng hôm
nay. Khi nghe bọn nó nói là chúng tôi sắp đến, nên anh nhịn
ăn dành lại cho tôi! Thật lòng mà nói, bưng chén cơm mà nước
mắt rưng rưng, bởi … tôi đang đói!
Họ bảo chúng
tôi tập trung ra sân và tổ chức mà họ gọi là biên chế
thành từng Tổ. Mỗi Tổ 20 người, do một cán bộ làm "quản
giáo". Tên Trung Úy phó trại trưởng, sau khi tổ chức xong,
hắn phun ra bài học đầu tiên:
"Các anh là
những người theo chân đế quốc, bóc lột nhân dân, đó là
tội chết. Nhưng đảng với nhà nước khoan hồng, không giết,
lại cho các anh tập trung để chúng tôi dạy dỗ các anh biết
lao động, biết làm ăn lương thiện mà nuôi vợ nuôi con.
Chúng tôi được đảng với nhà nước giao trách nhiệm dạy
dỗ các anh. Chúng tôi là thầy của các anh, là cha mẹ của
các anh …"
Nghe đến đây
tôi cảm thấy lùng bùng lỗ tai. Cạnh tôi, anh Dương Hiếu
Nghĩa (Ðại Tá Thiết Giáp) nói khẽ:
"Thằng chó đẻ
này ngạo mạn quá!"
Tôi hỏi: "Anh
biết nó tên gì không?" Anh Nghĩa đến đây trong đợt trước.
"Không. Mà chi
vậy?"
"Trái đất tròn
mà anh."
Hắn lại phun
tiếp:
"Tất cả các
anh phải ký gởi cho trại tất cả tư trang quí như: Ðồng
hồ, dây chuyền, nhẫn , tiền. Còn quần áo tư (không do
trại phát) phải cột lại đem gởi vào kho. Ngay chiều nay,
các anh phải thực hiện điều này. Về cách xưng hô, các
anh gọi các chiến sĩ là bộ đội, còn sĩ quan phải gọi
là cán bộ. Khi muốn báo cáo điều gì, phải đứng xa 6 mét
(thước)."
Một anh đứng
lên nêu câu hỏi:
"Thưa cán bộ,
làm sao chúng tôi phân biệt được bộ đội với cán bộ?"
Ngưng một lúc,
hắn nói:
"Dần dần các
anh sẽ biết."
Áo quần của
tôi cho vào cái túi đeo lưng, cột chặt lại và đem bỏ vào
kho. Áo quần do trại phát thì quấn vào cái khăn rằn, kẹp
thêm cái gối nhỏ tôi mang theo từ nhà, làm gối nằm. Phần
gọi là ký gởi ở bộ chỉ huy trại là cái đồng hồ đeo
tay và 35 đồng. Trong số này có 10 đồng mà vợ tôi bảo
cứ mang theo, nhỡ họ có đưa ra Bắc có mà xài. Sự thể
đúng như "linh tính" của vợ tôi.
Bữa ăn chiều,
là một chén cơm độn bắp, thoạt trông cứ như cơm đậu
xanh cà, với một muỗng mắm xềnh xệch, giống như muỗng
nước vừa múc từ trong hũ mắm cá trèn hay cá sặc ra vậy.
Ðêm xuống. Tôi
nằm "trên thảm cỏ rừng dưới bầu trời sao, nhiều sương,
ít gió". Vừa nhìn bầu trời vừa nhớ lại lời lẽ của
tên cán bộ hồi chiều, dẫn tôi trở lại những ngày bị
thẩm vấn, gần như tôi đôi co cãi lý thẳng thừng với bọn
họ. Bây giờ nghĩ lại, thấy mình chưa hẳn như "người điếc
không sợ súng", nhưng quả tình là ngồi ngay miệng cọp mà
không biết sợ cọp. Có lẽ do lúc ấy họ chưa phân định
cách xưng hô, cũng chưa gạch hẳn một khoảng cách như cái
tên phó trại này vừa gạch hồi chiều, trong khi tôi chưa
cảm thấy mình là người tù chính trị, nên vừa trả lời
vừa có ý "phản công" lại họ. Nghĩ cho cùng, thế mà hay.
Hay ở chỗ là trong tư thế bị thẩm vấn, nhưng đôi lúc
cũng vùng lên "phản công" được. Giờ thì khẳng định mình
là tù chính trị trong tay họ rồi, "không như điếc không
sợ súng nữa, nhưng nhất định phải giữ cái thế của mình
dù chỉ là người tù chính trị". Miên man một lúc cũng thiếp
đi trong giấc ngủ!
Tiếng kẻng vang
dội giữa rừng già tây bắc Hà Nội, lôi mọi người ra khỏi
chỗ nằm. Chiếc chiếu tôi nằm, phía dưới ướt đẫm, thấm
cả lưng nữa. Tất cả tôi trải ra phơi tại chỗ, nếu không,
tối đến không thể nằm được.
Anh Ðiệp lại
cho tôi nửa chén cơm độn bắp với vài hột muối. Tất cả
chúng tôi bị lùa lên núi đốn cây đốn chổm về cất thêm
căn trại. Gỗ rừng làm cột, kèo, đòn tay, phần còn lại
đều dùng cây chổm làm lá lợp nhà, làm vách, làm vạt nằm.
"Cây chổm" giống như cây nứa miền Nam, nhưng thân dầy một
chút. Cưa từng khúc dài 1.20 thước, đập iập rồi chẻ ra
trải dài làm lá lợp nhà. Lợp xong, nằm nhìn lên thấy mây
bay gió thổi với trăng sao, nhưng nước mưa lọt xuống rất
ít. Kể cũng lạ. Cũng cây chổm làm vạt giường nằm, mỗi
cử động đầu này thì đầu kia nghe trọn vẹn âm thanh. Mãi
rồi cũng quen. Một tuần sau, 20 anh em chúng tôi dọn vào bên
trong dãy nhà vừa cất xong, không bị cái cảnh ban đêm nằm
ngắm sao trời bất đắc dĩ nữa.
Cơn bệnh tưởng
chết.
Ðúng một tháng
sau ngày đặt chân lên đất Bắc, tôi bị đau với cơn nóng
liên tục ngày đêm. Ngay trước đó tôi rất khỏe. Lên núi
đốn cây làm cột nhà, vác nó từ trên núi về trại trên
quãng đường dài hằng bảy tám cây số. Cất nhà xong họ
bắt đào giếng. Nền giếng là loại đất từa tựa như than
bùn, màu xám đậm, nhưng óng ánh dưới nắng trưa. Ðặc biệt
là khi đào sâu xuống thì mùi càng nồng nặc rất ư là ngột
ngạt bốc lên khá mạnh, giống như có sức đẩy từ bên
dưới vậy. Chẳng biết có phải vì cái mùi đó mà tôi bị
bệnh hay không, nhưng có điều là ngày hôm sau, các bạn trong
toán đào giếng với tôi lần lượt kẻ trước người sau
đều nằm la liệt, mà tôi là nặng nhất. Nặng đến mức
không thể tự mình đi tiểu được nữa mặc dầu cầu tiêu
chỉ cách nhà tranh đang ở khoảng 20 thước. Mỗi lần như
vậy, tôi nhờ hai bạn xốc nách dìu tôi đi, nhưng cũng phải
ngồi lại đến 2 lần mới đến nơi được. Anh Ðiệp và
anh Nghĩa (Dương Hiếu) cũng bệnh nhưng nhẹ hơn tôi nhiều,
hai anh luân phiên nấu cho tôi chén cháo bằng nhúm gạo với
nhúm bắp lén xin các bạn nhà bếp. Nhưng chỉ húp được
vài muỗng mỗi lần.
Trong tình trạng
như vậy cho đến ngày thứ 10, anh Nguyễn Văn Hướng (Ðại
Tá, Quân Ðoàn 3) hỏi tôi:
"Anh Hoa. Anh có
thuốc Tifomycine không?"
"Có." Tôi trả
lời rất yếu, yếu đến mức anh Hướng phải kề tai sát
miệng tôi mới nghe được. Lúc ấy tôi không còn đủ lực
để đẩy âm thanh ra ngoài miệng nữa!
Anh Hướng kề
miệng sát tai tôi:
"Anh cứ uống
đại 10 viên trong một ngày xem sao. Tôi đã một lần liều
mạng uống như vậy, và tôi hết bệnh. Có thể là anh bị
bệnh thương hàn đó."
Tôi nhờ anh Nghĩa
đỡ đầu tôi dậy, anh Nguyễn Trọng Luật (Ðại Tá, Tỉnh
Trưởng Darlac ) kéo cái gọi là cái gối ra, mở bên trong tìm
giùm ống thuốc. Anh Ðiệp múc cho tôi chút nước cơm sôi
và cho tôi uống thuốc. Uống năm lần trong ngày, mỗi lần
2 viên. Trước khi cho tôi uống thuốc, anh Ðiệp cố ngăn tôi
đừng uống quá liều nguy hiểm lắm. Nhưng lúc ấy tôi không
nghĩ là tôi sống được, cứ thà liều may ra. Thế rồi đêm
đó tôi ngủ được.
Sáng ra, tôi cảm
thấy cơn nóng gần như không còn, trong người sảng khoái,
không mệt mỏi như những ngày trước. Tôi thử lần từng
bước sang nhà bếp, xin anh bạn cho chút nước cơm để uống
với miếng đường tán còn lại do vợ tôi gởi cho hồi Tết.
Trời đất ơi! Nếu như "nước cam lồ" trong kinh trong sách
có khả năng làm cho người uống trở nên tỉnh táo khỏe
mạnh lạ thường, thì quả thật chén nước cơm với đường
đã cho tôi cảm giác kỳ diệu đó. Trưa hôm ấy, tôi ăn chén
cơm độn bắp với những cọng măng cây chổm phơi khô luộc
chín, chấm vào muỗng mắm tôm quậy nát, nó ngon không thể
tưởng được. Tôi không nhớ rõ bạn nào vì có đến mấy
bạn góp chung lại cho tôi được gần chén cơm độn bắp
nữa, tôi ăn hết và ăn thật ngon. Ngày kế tiếp tôi uống
8 viên trong 4 lần. Ngày kế tiếp nữa, tôi uống 6 viên trong
3 lần. Và tôi bình phục.
Khi viết lại
những dòng này, vợ chồng tôi rất chân thành cám ơn các
bạn đã giúp tôi trong cơn kiệt sức ấy. Chính các bạn đã
góp phần giúp tôi tồn tại trong cuộc sống hôm nay.
Trở lại cơn
bệnh. Trong trại không có một bác sĩ hay một y tá nào của
cộng sản cả. Chúng tôi có đau thì tự mà lo lấy. Chết
thì họ đem chôn ở đâu đó cũng không ai biết! Lính của
họ cứ chết đâu chôn đó, thì tù chính trị chúng tôi có
nghĩa gì!
Anh Nghĩa nói với
tôi trong nụ cười:
"Tụi tôi không
tin là anh sống được. Con người có số mệnh, tụi nó bỏ
cho mình chết, nhưng tụi mình vẫn cứ sống. Anh không chết
trong trận đau này thì anh sẽ không bao giờ chết trong tù
đâu. Yên tâm."
Tôi siết tay anh
trong niềm vui vừa vượt qua cái chết:
"Chính tôi cũng
không tin là tôi sống được khi tôi cảm thấy tôi mất hết
sinh lực, thậm chí đến khả năng phát âm cũng không còn."
(Năm 2005, anh Dương
Hiếu Nghĩa vào chùa tu. Thời gian đầu ở Nam California , sau
đó chuyển sang Houston )
Vừa bình phục
là phải theo Tổ chúng tôi lên núi đốn cây đốn chổm.
Chuyển trại.
Tháng 9 năm 1976,
tất cả tù chính trị cấp Ðại Tá được lệnh chuyển từ
"trại nhà ngói" này đến một trại có tên là "Trại Cốc",
nằm sâu trong một thung lũng, cách trại này khoảng 4 cây số.
Thế là chúng tôi gồng gánh mang vác đi bộ thành một đoàn
dài ngoằng, và nhiều anh gần như chỉ nhấc nổi từng bước
chân! Trên đoạn đường đầy người gồng gánh đó, tôi
gặp anh Ðại Úy Nguyễn Ngọc Chươu cũng dọn trại nhưng
ngược chiều. Trong những năm 1956-1958, chúng tôi cùng phục
vụ ở Tiểu Ðoàn 2 Trung Ðoàn 35 Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 ở
Catecka , Pleiku , rồi chuyển lên Kontum . Chúng tôi chỉ ôm nhau
rồi chia tay ngay, để theo kịp các bạn!
"Trại Cốc", gồm
khu nhà của bộ chỉ huy trại trên sườn đồi bên kia dòng
suối nhỏ. Phần nhà cho hơn 300 Ðại Tá chỉ có hai gian nhà
tranh cấu trúc như chữ L, dưới chân đồi bên này dòng suối.
Dòng suối nhỏ này là nguồn cung cấp nước duy nhất cho chúng
tôi và đơn vị quân đội cộng sản canh giữ chúng tôi. Nếu
so sánh thì chúng tôi ở trại này chật hơn trại nhà ngói,
nhưng có phần sạch và thoáng hơn trại nhà ngói, nhất là
có dòng nước thoạt xem là tốt.
Ðêm đầu tiên
tôi bị đau bụng dữ dội. Không thể nào chịu đựng được
tới sáng nên nửa đêm phải đi tiêu. Với cái đất Bắc
xã hội chủ nghĩa này không nói là đi tiêu hay đi cầu, mà
nói là "đi ỉa". Khổ nỗi là cái cầu tiêu họ làm bên kia
triền đồi, hoàn toàn vắng vẻ. Vừa ôm bụng vừa bấm bụng
mà lần mò trong đêm tối. Vừa bước ra khỏi nhà trại là
báo cáo theo nội qui của họ:
"Báo cáo bộ đội,
tôi đi ỉa."
Tối thui tối
mịt. Chẳng cần thấy ai nhưng vẫn cứ báo cáo như vậy.
Cứ từng bước khập khễnh theo sự thúc giục của "tào tháo"
trong khi trống ngực đánh liên hồi vì rừng vắng giữa đêm
khuya. Ngồi lên hai thanh gỗ làm cái việc "sản xuất phân
bón ưu việt xã hội chủ nghĩa", trong khi mắt láo liên dù
chỉ thấy lờ mờ chung quanh, tai lắng nghe khu rừng bên kia
nhỡ có tiếng xào xạc nặng nề của cọp của beo còn chạy
cho kịp. Bỗng có tiếng bước chân chầm chậm, tôi lên tiếng
ngay:
"Có tôi đây."
Tôi nói khá lớn, vừa nói cho ai đó nghe, cũng vừa tự trấn
an do âm thanh dội lại từ đồi bên kia thật rõ ràng.
"Sao lâu thế?"
Tên bộ đội đứng đâu đó hỏi tôi.
"Báo cáo bộ đội,
tôi đau bụng."
"Tại anh không
quyết tâm chứ đau bụng gì lâu thế."
"Ði ỉa cũng có
quyết tâm nữa sao bộ đội?"
"Anh không có
quyết tâm làm sao nó ra. Khẩn trương lên. Không có lý sự
nữa."
Tôi mỉm cười
trong đêm tối, trong khi hắn càu nhàu:
"Các anh đừng
tưởng là qua mặt chúng tôi được nhé! Các anh không thoát
được chúng tôi đâu."
"Tôi thiếu quyết
tâm một chút mà bộ đội nói sang chuyện trốn trại làm
chi."
"Khẩn trương
lên, đừng có ở đó mà lý sự".
Dù sao thì lượt
vào tôi đi một cách "hiên ngang" vì có tên bộ đội "hộ
tống". Sáng sớm, tôi thuật cho anh Nghĩa với anh Phán nghe,
hai bạn cười ngất.
Ngạc nhiên
thứ nhất.
Hôm ấy chúng
nó dẫn chúng tôi đào lỗ trồng cột gỗ kéo dây điện thoại
dọc theo đường đá lởm chởm, từ bộ chỉ huy Liên Trại
1 đến Trại Cốc chúng tôi. Ngoài tên bộ đội cầm súng
canh giữ, còn có tên bộ đội hướng dẫn công tác. Hắn
tự xưng là cán bộ binh chủng thông tin. Anh ta áng chừng khoảng
25 tuổi, ăn nói tương đối dễ chịu chớ không quát tháo
mắng chửi như cái đám cán bộ gặp ngày đầu tiên. Nói
chuyện với hắn một lúc mới biết, các trại tập trung tù
chính trị thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn này có đến hằng mấy
chục trại lận. Chỉ huy tất cả các trại là Ðoàn 776, dưới
Ðoàn 776 có 6 Liên Trại, mà trại đang giam giữ cấp Ðại
Tá chúng tôi là Trại 2 thuộc Liên Trại 1. Các Liên Trại
kia nằm rải rác đến sát biên giới Trung Hoa cộng sản. Thế
là được biết thêm, tất cả tù chính trị chúng tôi bị
giữ ở vùng rừng núi này do Bộ Quốc Phòng của họ quản
trị, chớ không phải Công An.
Những vị trí
hắn chỉ chúng tôi đào lỗ hầu như toàn đá, nên khá vất
vả. Mọi người mồ hôi nhỏ giọt từ hai bên má. Tên cán
bộ thông tin đến cạnh nhóm chúng tôi nói nhỏ:
"Các anh chưa
quen lao động dưới cái nắng oi bức của mùa hè miền Bắc
nên mau mệt."
Nói xong, anh
ta hướng sang tên cầm súng và nói to:
"Các anh nghĩ giải
lao 10 phút."
Khi chúng tôi dừng
tay, đến cạnh bếp đang nấu chảo nước sôi với lá bàng.
Lá bàng là loại lá lớn bằng bàn tay xòe, mùa này nó rụng
quanh gốc cây. Khi nấu nước, tên cầm súng bảo chúng tôi:
"Các anh lượm
những lá bàng chuyển màu nâu (sắp khô) bỏ vào chảo
mà uống như uống chè (trà) cho đỡ khát".
Khi tên cầm súng
đến gốc cây bàng xa xa đằng kia ngồi, tên cán bộ thông
tin từng bước đến cạnh tôi với anh Trần Ngọc Thống (Ðại
Tá, Bộ Tổng Tham Mưu), anh ta nói thật nhỏ, có lẽ sợ tên
cầm súng nghe:
"Các anh có
thiên đường mà các anh không biết giữ."
Tôi nhìn anh Thống,
anh Thống nhìn tôi. Tuy không nói ra, nhưng chúng tôi ngầm hiểu
với nhau là không rõ tên này muốn bẫy mình hay sao đây, nên
hai đứa làm thinh. Chừng như hắn nhận ra điều đó, hắn
nói tiếp:
"Tôi đã vào
Sài Gòn và tôi đã hiểu các anh." Nói xong là anh ta bước
đi ngay.
Quí vị quí bạn
thấy không, qua thái độ của anh chàng gọi là cán bộ thông
tin vừa rồi, cho thấy giữa những người cộng sản với
nhau, họ cũng canh chừng nhau nữa, huống gì là với chúng
tôi.
Chúng tôi đến
ngồi quây quần với các bạn cạnh chảo nước lá bàng như
là cùng nhau giải khát, rồi thuật lại hai câu nói của anh
ta cho các bạn nghe. Anh Thống nói:
"Tôi thấy thằng
này tuy trẻ nhưng câu nói của nó đáng cho mình để ý lắm."
Tôi góp thêm:
"Hoặc nó nói
thật, hoặc nó xỏ mình. Nhưng quan sát thái độ của nó nhìn
trước nhìn sau, và khi nói xong là vội vàng đi ngay, tôi nghĩ
là hắn nói thật. Vì hắn nói hắn đã vào Sài Gòn, được
hiểu là hắn đã nghe tại chỗ về mình, được thấy tận
mắt về cuộc sống của người miền Nam mình rồi."
"Nhưng liệu trên
đất xã hội chủ nghĩa 20 năm này có một thằng bộ đội
trẻ dám nhận xét ngược với đảng của nó không?" Anh Lê
Minh Luân (Ðại Tá Không Quân) nêu câu hỏi.
"Chính tôi cũng
tự hỏi như anh."
Anh Thống tiếp
lời:
"Tôi vẫn tin,
không phải mọi người trên đất Bắc này đều là cộng
sản đâu. Riêng trường hợp thằng bộ đội này, tôi tin
là hắn nói thật."
"Từ nay, anh em
mình nên lắng nghe những mẩu chuyện của người dân quanh
vùng mà mình gặp, tôi chắc là mình có thể xét đoán được
ý thức chính trị của người dân đất Bắc xã hội chủ
nghĩa này ra sao. Biết đâu là mình sẽ ghi nhận được nhiều
điều mà mình không ngờ như trường hợp thằng nhóc này
cũng nên." Tôi tiếp lời anh Thống.
Xì xầm nhỏ to
đến đây thì thằng cầm súng gọi là "tên võ trang" từ xa
quát lớn:
"Ði làm đi.
Thông tin cái gì đó?"
Chúng tôi không
ai trả lời. Mạnh ai người ấy vác dụng cụ đào lỗ trồng
cột tiếp. Anh bộ đội thông tin quay lại sát chúng tôi:
"Các anh cẩn
thận trong mọi tình huống."
Nói xong là anh
ta đến với tên võ trang. Có lẽ nãy giờ anh ta theo dõi chúng
tôi to nhỏ với nhau nên anh ta sợ đến tai tên võ trang chăng?
Thêm một câu nói giúp chúng tôi tin hắn không phải là người
cộng sản cuồng nhiệt, nhưng nhất thiết vẫn giữ một khoảng
cách nhất định khi tiếp xúc với bất cứ tên cộng sản
nào.
Lên rừng lấy
củi.
Tuần sau đó,
Tổ chúng tôi chuyển sang công tác lấy củi. Củi là loại
cây bồ đề (không phải loại bồ đề trồng ở sân chùa
trong miền Nam) trên các đỉnh núi. Cây này trồng chớ không
phải mọc tự nhiên, họ giải thích cây bồ đề là nguyên
liệu làm giấy. Lúc trồng phải trồng với mật độ dày,
khi lớn lên ngành lâm nghiệp đốn bớt những cây không đủ
tiêu chuẩn phát triển, và đó là những cây chúng tôi tìm
vác về trại làm củi. Cứ sáng sớm, sau khi lót dạ bằng
nửa chén cơm độn bắp dành lại từ chiều qua, xuống nhà
bếp xin lon gô nước nấu chín, cả Tổ kéo nhau lên núi. Ngày
nào cũng vậy, tên quản giáo và tên võ trang dắt chúng tôi
đến chân núi ở khoảng cách thường là từ 6 cây số trở
lên, rồi ra lệnh:
"Các anh mỗi
người vác một bó ít nhất là 6 cây, mỗi cây dài ít nhất
là 5 mét. Nếu buổi sáng vác đủ chỉ tiêu thì buổi chiều
nghỉ. Nếu không thì chiều đi nữa."
Chúng nó thả
chúng tôi lên núi nhưng đâu sợ chúng tôi trốn, vì rừng
núi này ở mạn nam sông Hồng khoảng 10 cây số, mênh mông
trùng trùng điệp điệp và hoàn toàn xa lạ với chúng tôi,
biết đường đâu mà trốn. Với lại nghe chúng nó nói là
người dân quanh vùng này được lệnh bắt nếu chúng tôi
trốn trại hay họ nghi ngờ chúng tôi có ý trốn trại.
Những vùng núi
trồng cầy bồ đề do các Lâm Trường quản trị, và có thể
do sự thỏa thuận giữa trại với bên Lâm Trường, nên bọn
quản giáo bảo chúng tôi leo lên các ngọn núi bồ đề, cứ
thấy cây nào đã bị đốn ngã và khô thì vác về. Thông
thường thì những cây này dài từ 5 thước trở lên, đường
kính ở gốc cũng bằng cổ chân. Những cây bồ đề nằm
rải rác đó đây trên đỉnh núi, sườn núi, và cả dưới
thung lũng nữa. Trong thời gian lên núi lấy củi bồ đề,
trung bình mỗi ngày đi bộ trên dưới 15 cây số kể cả khoảng
4 cây số trên núi. Những anh bị tim như anh Cao Văn Ủy (Ðại
Tá Biệt Ðộng Quân), anh Võ Hữu Hạnh (Ðại Tá Bộ Binh),
không thể vác bó củi theo chỉ tiêu bọn họ bắt buộc. Anh
em tiếp tay bằng cách mỗi người cố gắng nhận giúp 1 cây,
dù rằng anh nào cũng ướt đẫm mồ hôi, mặt vừa xanh vừa
đỏ vì mệt dưới cái nắng oi bức của mùa hè đầu tiên
trên đất Bắc khắc nghiệt! Trên núi cao, khi cơn nắng "nổ
đom đóm mắt" thì cơn khát bắt đầu hành hạ ghê gớm lắm.
Trong gô nước phải cho vào một ít muối để giữ mồ hôi,
vì lượng mồ hôi ra nhiều quá có thể ngất xỉu. Những
lúc khát quá, anh em chúng tôi cứ lội ra giữa dòng suối,
úp mặt xuống dòng nước màu nâu sậm của lá rừng ngập
dầy bên dưới mà uống, dù biết rằng nước suối giữa
rừng già là mầm bệnh kiết lỵ và sốt rét. Từ trại Tam
Hiệp, Biên Hòa, tôi mang theo 50 viên Vitamine C, tôi đã ngậm
hết từ vài tuần nay. Thuốc ngừa sốt rét do vợ tôi gởi
trong gói quà hồi Tết, vẫn còn nên tôi uống hằng tuần.
Ngạc nhiên
thứ hai.
Một buổi chiếu,
khi về ngang dòng suối cạn còn cách trại hơn cây số, anh
em chúng tôi dừng lại giữa suối rửa tay chân mặt mũi. Cùng
đứng giữa dòng suối cạn với chúng tôi là hai ông già rửa
xe đạp, trong khi tiếng loa phóng thanh từ khu cư xá Lâm Trường
trên sườn đồi, oang oang tiếng người xướng ngôn loan tin
về "vụ mùa thắng lợi" ở Hà Nam Ninh. Một trong hai ông già,
vừa rửa xe vừa chửi đổng:
"Bố tiên sư
nó, vụ nào cũng thắng lợi mà năm nào dân cũng đói. Nói
khoét mãi mà không ngượng!"
Tôi ngẩng lên
nhìn ông ta để đánh giá câu chửi của ông có phải là thật
không. Ông ta cũng nhìn tôi kèm theo nụ cười héo hắt. Thấy
thế tôi hỏi ông:
"Có thật vậy
không ông?"
Ông ta đáp ngay:
"Các anh sống
trong Nam, các anh chưa hiểu được họ đâu. Tôi khuyên các
anh hãy hiểu ngược lại lời họ nói thì đúng sự thật."
Cả hai ông đẩy
xe đạp lên bờ, đạp tiếp. Tôi khều anh Thống:
"Anh có đồng
ý với tôi là hai ông già này là người dân dưới chế độ
cộng sản nhưng không phải cộng sản, giống như thằng bộ
đội thông tin không?"
"Ðúng. Tôi càng
tin chắc là trong dân chúng cũng nhiều người như vậy chứ
không ít đâu."
"Tôi nghe nói vùng
này là vùng họ chỉ định cư trú số anh em quân nhân viên
chức bị kẹt lại hồi năm 1954, có thể do vậy mà họ có
cảm tình với mình, nên mình chưa thể đánh giá người dân
ở vùng khác cũng như người dân vùng này đâu anh."
Lại giọng quát
của thằng võ trang:
"Các anh khẩn
trương lên."
Bạn tôi trốn
trại.
Trong thời gian
chúng tôi lên núi tìm củi, có 4 anh trốn trại. Chuyện như
thế này: Hôm ấy có 2 Tổ đi đốn cây chổm cách trại khoảng
8 cây số, về một hướng khác với hướng chúng tôi. Ðến
chiều trở về thì thiếu 4 anh là: Nguyễn Phương Thành (Ðại
Tá, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh). Anh Võ Quế (Ðại Tá Không Quân).
Anh Ðỗ Trọng Huề (Ðại Tá Hành Chánh Tài Chánh). Và anh
Nguyễn Văn Thi (Ðại Tá Pháo Binh).
Tối đến, bọn
cộng sản chia nhau rình rập các dãy nhà xem tù chính trị
bàn tán những gì may ra từ đó chúng nó có thể tìm ra manh
mối các anh ấy. Nghĩ vậy nên anh em chúng tôi rất thận trọng.
Tôi chui sang nằm sát cạnh anh Nghĩa và anh Nguyễn Xuân Dung
(Ðại Tá Thiết Giáp) để bàn luận chung quanh việc các anh
trốn trại. Tôi hỏi:
"Anh Nghĩa. Anh
có nghĩ là các anh ấy có thật sự trốn trại hay bị tai
nạn như rắn cắn, trăn quấn, lọt hố sâu, hay bị cọp tha
không?"
"Tôi cho là mấy
ảnh trốn thật, vì trong nhóm đó có anh Huề giỏi tướng
số tử vi lắm. Mấy tuần nay mấy ảnh đẩy xe cải tiến
ra Sông Hồng lấy cát, rất có thể mấy ảnh móc nối được
với dân ngoài đó để tổ chức trốn trại. Chớ tai nạn
thì đâu đến nỗi một lúc bị đến bốn anh."
"Cầu xin các anh
ấy trốn thoát để có được tiếng nói của mình ra bên
ngoài, chớ cái kiểu họ giấu tụi mình trong tận cánh rừng
già heo hút này chỉ có Trời mới biết thôi."
Anh Nguyễn Văn
Của (Ðại Tá Thiết Giáp, bạn cùng khóa với tôi) chen vào:
"Trong nhóm có
thằng Thành ngon lắm. Nó rất xông xáo. Mấy ảnh thoát được."
"Anh Nghĩa. Anh
có biết là trong toán lấy cát có anh Lại Ðức Chuẩn (Ðại
Tá, Bộ Tổng Tham Mưu) đã lén tiếp xúc được với bà con
của ảnh không?" Tôi hỏi.
"Có. Tôi có nghe."
"Nếu được giúp
đỡ của người địa phương thì mức độ hy vọng trốn
thoát cao hơn anh à! Biết đâu người mà anh nghĩ có thể đã
móc nối là đây chăng?"
"Không đoán nỗi."
Và rồi 4 ngày
sau. Trong lúc Tổ chúng tôi đang ngồi trên mái nhà của bộ
chỉ huy trại để kéo vĩ tre lên giằng mái tranh. Tôi chợt
thấy từ xa và khều nhẹ anh Luân:
"Trời ơi! Anh
đi đầu giống anh Võ Quế quá Luân ơi!"
Anh Quế với anh
Luân cùng phục vụ trong quân chủng Không Quân, nhưng anh Luân
biệt phái sang Tổng Cục Tiếp Vận, phụ trách chuyển vận
hàng không quân sự.
"Ðúng. Vậy là
mấy anh em mình bị bắt rồi."
"Sao có ba anh hà.
Còn một anh nữa đâu?"
"Chúng nó nhìn
mình kìa. Làm đi."
Một lúc sau, bọn
chúng dắt cả ba anh vào trong sân căn nhà bộ chỉ huy trại,
trong khi Tổ chúng tôi làm xong trên mái nhà. Tất cả tuột
xuống và đem vật dụng còn lại vào kho. Tôi cố ý đi sát
lại anh Võ Quế:
"Anh Thành đâu
anh Quế?"
"Nó bị nhốt
riêng rồi."
Ðến tối, chúng
nó dắt ba anh lên Liên Trại, chắc là nhốt các anh trên đó.
Sáng hôm sau, thay vì đưa Tổ chúng tôi lên núi, bọn họ dắt
chúng tôi vòng ra triền núi bên kia dãy nhà ngói, để đào
đất:
"Các anh đào
3 cái hầm sâu vào trong núi theo kích thước sau đây: Mỗi
hầm ngang 1 mét, sâu vào 2 mét. Cách 1 mét thì đào hầm thứ
hai, rồi hầm thứ ba cũng khoảng cách đó. Lòng hầm ngang
1 mét, dành 0.6 mét làm chỗ nằm, còn 0.4 mét kia tiếp tục
đào xuống 0.5 mét là thành cái giường nằm."
Chúng ra lệnh,
nhưng lúc nào cũng đứng bên cạnh thúc hối đào cho nhanh.
Ðào xong, bọn họ dắt chúng tôi lên núi đốn cây lót làm
trần bên trên, rồi đổ đất lên như triền núi lúc chưa
đào. Cánh cửa làm bằng cây chổm, có khóa. Cái gọi là "giường
nằm", chỉ là đất sét ướt, ngang 0.6 mét x dài 2.0 mét x
cao 0.5 mét. Tôi không rõ là chúng nó có cho các anh trải chiếu
hay lót cái gì đó để tránh lưng bị lạnh không, chỉ biết
là khi làm xong vào lúc hoàng hôn thì bọn họ dắt ba anh vào
nhốt trong hầm này! Rồi mùa Ðông, liệu các anh có chịu
nổi không? Tuy tôi chưa biết mùa Ðông nơi đây ra sao, nhưng
nghe người dân vùng này mô tả hãi hùng lắm.
Ðêm nằm nghĩ
lại, nó mỉa mai quá! Mình đào hầm để nhốt bạn mình!
Nhưng nghĩ cho cùng, không đào cũng không được với chúng
nó. Và qua đó, chúng tôi nhận thức rõ thêm về cách của
chúng đối xử với tù chính trị chúng tôi!
"Liệu quốc tế
làm cách nào để hiểu được mức độ tàn bạo nghiệt ngã
của cộng sản Việt Nam?"
Vài hôm sau, chúng
tôi nghe mấy thằng võ trang nói với nhau là anh Nguyễn Phương
Thành đã tự tử trong hầm giam ở Liên Trại. Lại mấy ngày
sau nữa, chúng tôi mới biết là anh Thành đã chết thật sự,
nhưng không rõ là anh ấy bị chúng nó giết hay là anh tự
tử. Anh Nguyễn Phương Thành, là một Trung Ðoàn Trưởng rất
can đảm của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh.
Người Mỹ
Tên Nam.
Tổ chúng tôi
lại đi hái trà gần khu vực Liên Trại 1. Nơi đây có cái
máy phát điện với năng suất chỉ đủ cho khu vực bộ chỉ
huy và các trại lân cận với những áng sáng vàng vọt. Phụ
trách kỹ thuật là một người Hoa Kỳ. Nếu nhìn từ sau lưng
thì vóc dáng anh ta chẳng khác gì người Việt Nam bao nhiêu.
Tù chính trị không được đến gần anh ta. Trong gian nhà tranh
của anh ta bên kia đường nhìn từ đồi trà, có một phụ
nữ và một bé gái khoảng 2 tuổi (năm 1976), có lẽ là vợ
và con anh ta. Nhân lúc gạ chuyện với mấy tên bộ đội phụ
trách điều hành nhà máy xay lúa mà họ gọi là máy xay xát,
và phụ trách an ninh máy phát điện, mới biết thêm tin tức
nhưng không rõ sự thật ra sao. Theo đó thì anh ta là Trung Úy
Biệt Kích Hoa Kỳ (mũ nồi xanh), đã lái xe Jeep băng qua cầu
Bến Hải đầu hàng quân cộng sản tại đó. Anh ta lấy tên
là Nam, nên gọi là anh Nam. Khi Ðoàn 776 thành lập cách nay
vài tháng, anh Nam này mới chuyển đến đây làm việc. Lương
mỗi tháng 75 đồng. Nghe nói anh ta nói được chút ít tiếng
Việt. Nhưng anh em chúng tôi chưa dám tin, vì chỉ riêng cái
hành động một sĩ quan Hoa Kỳ lái xe băng qua bên kia cầu
Bến Hải mà vẫn còn sống, quả thật là khó tin.
Có những lúc
anh ta như muốn tiếp xúc với chúng tôi, nhưng trong những
lần gặp thì anh ta không bao giờ đứng một mình, ít nhất
bên cạnh cũng có người đàn bà có vẻ như vợ anh ta. Một
hôm, nhân lúc hái trà xong và trên đường về trại, trông
thấy anh ta đi sau một tên bộ đội, tôi cố lướt lên với
hy vọng nói được với anh ta vài câu, nhưng tên bộ đội
bất chợt quay lại trông thấy, hắn liền dừng lại rồi
đi ngang với anh ta. Lỡ bộ, nhóm chúng tôi đi với tốc độ
nhanh hơn và qua mặt anh ta luôn.
Một dịp khác,
khi đang làm cỏ ở lưng chừng đồi trà, tôi trông thấy anh
chàng Mỹ tên Nam lững thững từ chân đồi đi lên, tôi bước
vội xuống thì một tên bộ đội bên kia đường trông thấy,
hắn nhanh chân băng qua đường theo sát anh ta. Tôi quay lên
đồi, không ngờ lại gặp anh chàng khật khùng "tùy viên của
Thiếu Tướng Nguyễn Huệ" lúc ở trại tập trung Tam Hiệp,
từ bên kia triền đồi qua khu vực chúng tôi. Vẫn nụ cười
mà thật sự không rõ là anh ta cười với ai. Có lẽ cộng
sản cũng xếp anh ta vào loại tù chính trị nguy hiểm như
chúng tôi hay sao mà đưa anh ta từ trại Tam Hiệp, Biên Hòa,
ra đây nữa.
Ngạc nhiên
thứ ba.
Vì trại chưa
có rau, nên họ chỉ định 6 người đi mua rau ở chợ Yên
Bái. Trong số này có tôi và anh Nghĩa. Một tên võ trang dẫn
đi. Hắn đưa chúng tôi 3 cái đòn khiêng và 3 cái bao bố (loại
bao gạo 100 kí lô). Nghĩa là hai người một khiêng. Trên quãng
đường đá lổm chổm chừng 6 cây số, chúng tôi đi ngang
một trại. Nhanh tay lẹ chân tiếp xúc với anh bạn đang cuốc
đất bên đường, chúng tôi được biết đây là Trại 1,
giam giữ các anh cấp Trung Tá.
Hắn không đưa
toán chúng tôi sang phà Ô Lâu qua chợ Yên Bái, mà là ghé vào
khu nhà bên nay Sông Hồng mua khoảng 150 kí lô chuối xanh còn
trên cây. Tôi trông thấy cây ớt hiểm chín đỏ mà phát thèm.
Thèm chất cay của ớt để kích thích khẩu vị. Tôi mon men
đến ông cụ đang ngồi hút thuốc lào ở thềm nhà:
"Chào cụ. Cụ
có thể cho tôi một trái ớt được không?"
"Ông ăn cay
được không? Ớt này cay lắm."
"Dạ được."
Nói xong là tôi bước đến cây ớt cạnh thềm nhà. Ông cụ
lên tiếng:
"Ông ngồi đây
xơi nước. Tôi bảo con gái tôi nó hái cho ông." Vừa nói
ông vừa kéo cái ghế nhỏ cho tôi ngồi, vừa rót chun trà:
"Hồng à! Con
vặt (hái) cho ông này nắm ớt rồi gói lại đàng hoàng
nghe con".
"Cám ơn cụ."
"Chè xanh đó.
Xơi vào ông thấy thấm giọng và chống được cơn khát. Mùa
hè của chúng tôi oi bức hơn trong Nam nhiều. Các ông chưa
quen nên mau mệt lắm."
Cô con gái đưa
ông cụ một gói ớt lớn bằng cái chén ăn cơm. Ông cụ cho
tôi hết gói đó. Tôi nói:
"Cụ làm ơn nói
với bộ đội võ trang giùm, nếu không thì tôi không dám nhận."
"Này anh bộ
đội. Tôi cho ông này gói ớt đấy nhé!"
Ông chỉ nói thế
chớ không xin phép tắc gì cả, chứng tỏ ông cụ xem thường
hắn. Chừng như hắn cũng nể ông cụ, không biết có phải
do hắn "tán" con gái ông cụ mà hắn nể không?
Sau lời cám ơn
rối rít, tôi chạy lại các bạn đang may mấy bao chuối. Tôi
với anh Nghĩa một khiêng. Anh Nghĩa nghiêm giọng:
"Ông cụ này có
thiện cảm với anh em mình đó."
"Ðúng anh. Ông
ta gọi chúng mình là "các ông" với ý kính trọng, chớ không
như cái đám phụ nữ với con nít trong ngày đầu tiên trên
đất Bắc mà mình gặp ở gần phà Ô Lâu. Tôi nghĩ là rồi
đây người dân vùng này sẽ nhìn mình tốt hơn, và cư xử
với mình tốt hơn. Rõ ràng là mình có cơ hội tiếp xúc với
người dân, mình với họ sẽ hiểu nhau hơn. Nghĩ cho cùng,
đây cũng là một hình thức chiến tranh chính trị mà."
Mỗi hai người
khiêng 50 kí lô. Dọc đường nghỉ ba lần. Sáu cây số chớ
gần gũi gì đâu! Lần nghỉ thứ nhì do chúng tôi cố tình
đi không nỗi để được dừng lại gần cổng Trại 1. Tiếp
xúc chớp nhoáng ngang qua hàng rào, chúng tôi được biết thêm
là tất cả các anh từ cấp Trung Tá trở xuống, họ đưa
ra Bắc bằng tàu chở hàng cặp vào bến thành phố Vinh hoặc
Hải Phòng, từ đó đưa lên vùng rừng núi Yên Bái này bằng
xe lửa. Nhưng không phải tù chính trị được ngồi trong các
toa hành khách đâu, mà là bị chúng nó nhốt trong các toa chờ
hàng hóa súc vật kín mít, chỉ có những lỗ nhỏ sát trên
nóc toa có không khí vào thôi. Anh Trung Tá Hùng, bộ tham mưu
Tổng Cục Chính Trị bị suyễn , lại trong tình trạng ngột
ngạt trong toa chở hàng nên đã chết vì nghẹt thở!
Số chuối xanh
mua về, họ bảo xắc từng khoanh rồi chẻ làm hai cho vào
chảo, cho thêm muối và bột ngọt vào, quậy những thứ ấy
vào nhau và gọi là "món ăn mặn" nhiều ngày của chúng tôi.
Ngạc nhiên
thứ tư.
Cuối tháng 8 năm
1976, bọn họ cho chúng tôi viết thư về gia đình . Vẫn cái
cách hướng dẫn viết thư y chang bài bản như lúc ở trại
Long Giao (Long Khánh) với Tam Hiệp (Biên Hòa). Vẫn có sức
khỏe tốt, lao động tốt, học tập tốt, gia đình an tâm
và chấp hành tốt những lệnh địa phương. Họ cho biết
là các địa phương đã thông báo cho các gia đình được
gởi quà cứ mỗi ba tháng một lần, với trọng lượng tối
đa là 5 kí lô. Hầu hết anh em chúng tôi khi nhận thư gia đình
đều có mẩu tin trên báo "Nhân Dân", mới biết được trong
vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn và Lai Châu có tất cả 82 trại,
đánh số mà họ gọi là "hòm thư" từ AH 1 đến AH 82, thuộc
Ðoàn 776 giam giữ mà họ gọi là quản lý giáo dục.
Lần đi chợ thứ
nhì cũng dùng đòn khiêng. Lần này sang chợ Yên Bái bằng
con đò nhỏ chớ không phải bằng phà. Anh Nghĩa, anh Phán,
anh Hồ Văn Thành (Ðại Tá Quân Vận), anh Luân, anh Trần Văn
Lễ (Ðại Tá Quân Tiếp Vụ), và tôi. Yên Bái nhỏ lắm, nhà
cửa lụp xụp, không thể gọi là phố xá được. Có một
dãy khoảng chục căn bằng gạch, còn lại là nhà tranh. Các
cửa hàng rải rác nhưng tất cả có ghi hàng chữ quốc doanh
hẳn hòi. Tiệm may thì trên bảng ghi "Cửa hàng đo may". Bên
cạnh có "Cửa hàng bách hóa", nhưng ôi thôi bên trong chỉ
có khoảng chục cái kệ với lơ thơ vài chục mặt hàng, mà
là hàng hóa thô kệch quá sức. Bên ngoài nhà chợ có nhà
máy đường với cơ sở rất ư là ọp ẹp. Tôi nói nhỏ với
anh Phán:
"Phán ơi! Chợ
gì mà giống trại lính quá."
"Trông chẳng giống
làng xã gì của mình cả."
Thị xã Yên Bái
xã hội chủ nghĩa, chẳng khác buôn làng của đồng bào Thượng
vùng Pleiku Kontum trong những năm 1950!
Chuẩn bị đi
chợ lần thứ ba. Tên võ trang ra lệnh:
"Các anh đi
lấy 2 xe cải tiến. Hôm nay mua cải bắp."
Tôi nhìn qua nhìn
lại có ý tìm xe cải tiến, hắn thấy tôi làm thinh mà cứ
nhìn qua nhìn lại, hắn quát:
"Không đi lấy
xe mà anh nhìn gì thế?"
"Tôi không thấy
xe ở đâu làm sao lấy."
"Thế cái gì
kia?" Vừa gắt gỏng hắn vừa chỉ chiếc xe cút-kít ở
gần chuồng heo bên kia dòng suối.
"Cái đó là xe
cải tiến hả bộ đội?"
Hắn trừng mắt
nhìn tôi:
"Anh đùa à.
Xe để đấy mà còn hỏi".
"Không. Tôi không
biết đó là xe cải tiến mà cán bộ".
"Cái anh này
buồn cười chưa. Thế các anh gọi nó là cái gì?"
‘Trong Nam chúng
tôi gọi nó là "xe cút kít".
"Ra lấy mà
đi, đừng có đứng đó mà lý sự".
Chúng tôi qua chiếc
cầu nhỏ, lôi hai chiếc cút-kít từ trong bờ rào ra. Chưa
biết phải làm gì tiếp, hắn lại quát:
"Vào kho mượn
giây để kéo. Ðứng đó làm gì?"
Hóa ra chuyện
như thế này. "Xe cải tiến" là chiếc xe mà những năm 50 người
Sài Gòn gọi là xe "cút-kít", là loại xe của những toán sửa
đường dùng chở gạch đá lặt vặt. Xe cút-kít bằng kim
loại, có một bánh xe ở giữa, phía trước, cái thùng xe bầu
xuống, hai chân đứng phía sau, và hai cái càng để đẩy.
Với dạng xe đó được xã hội chủ nghĩa "cải tiến" phía
trước có hai bánh xe (thay vì một), cái thùng xe hình chữ
nhật (thay vì bầu), phía sau cũng có hai chân đứng, và hai
cái càng để đẩy. Vật liệu đều bằng gỗ với ván. Theo
họ nói thì trọng lượng xe khi chở đầy vào khoảng 150 kí
lô. Chiếc xe cải tiến vận chuyển được những gì trong
cái thùng hình chữ nhật đó, là do 3 "nhân lực" (không phải
mã lực) kéo và đẩy. Hai sợi dây cột hai bên cái thùng phía
trước cho hai người kéo, một sợi dây khác cột ở hai cái
càng sau và người cầm càng máng lên vai cho hai cái chân xe
cao khỏi mặt đất, và ra sức đẩy tới. "Xe cải tiến chuyển
động bằng ba nhân lực" là như vậy.
Ðến đám bắp
cải của hợp tác xã nào đó sát bờ nam Sông Hồng, trông
thấy một cô gái mặc quần tây áo sơ-mi, mang giày ống, cổ
quấn khăn quàng ấm, tóc uốn dợn phần đuôi. Nhìn chung,
cô ta là cô gái "sáng sủa" so với hai cô gái đang trong rẫy
bắp cải. Cô ta giao việc cho hai cô kia đang quần quật chặt
gốc bắp cải và mang vào sân nhà lều. Bộ đội võ trang
bảo chúng tôi đứng chờ, hắn đến nói chuyện với cô gái
mang giày ống chắc là về chuyện mua bán. Hắn trở lại anh
em chúng tôi:
"Ðấy là con
gái của nữ đồng chí lãnh đạo Công An Huyện (Trấn
Yên). Người ta đưa bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, cho lên
xe cột lại. Các anh cẩn thận, không được nói linh tinh nghe
chưa?"
Nói xong, hắn
đi về phía ngôi nhà gần bờ sông. Chẳng hiểu là hắn muốn
dọa chúng tôi hay ngăn cấm chúng tôi nói chuyện với con gái
của Công An huyện này? Khi nghe hắn nói cô này là con bà Trưởng
Công An cũng hơi ớn, chỉ nghe hai chữ Công An đã cảm thấy
lạnh lùng rồi, huống chi là con gái của Trưởng Công An,
mà lại là Công An huyện nữa chớ.
Một cô lo cân.
Cân xong, cô kia chất sang một bên, lúc ấy có tiếng của
cô mang giày ống:
"Yến. Em gở
hết những lá xanh bên ngoài rồi cân lại cho mấy anh đó."
Thế là hai cô
gái phụ việc làm lại từ đầu mà chẳng nghe càu nhàu gì
cả, trong khi cô gái mang giày ống gọi chúng tôi đến nhận
bắp cải. Ðang chất bắp cải lên xe, cô ta đứng cạnh tôi:
"Anh biết dùng
lá cải bắp làm dưa ăn không?"
Tôi quen dùng chữ
bắp cải, còn cô ta dùng chữ cải bắp. Thấy cô ta nói chuyện
có vẻ nhẹ nhàng và tự nhiên, tôi đáp:
"Có. Tôi biết
cách làm và cũng biết ăn nữa cô."
"Tôi cho các
anh những lá này, đem về cắt ra, phơi một nắng, rồi nấu
nước muối đổ vào. Vài hôm là ăn được."
"Không được
đâu cô."
"Tại sao lại
không? Anh nói ăn được mà."
"Cô phải nói
với anh bộ đội võ trang mới được. Nếu cô không nói thì
anh bộ đội vờ trang cho là tôi ăn cắp, tôi sẽ bị phạt
giam khi về trại."
"Ðược. Tôi
sẽ nói cho anh."
Trong khi chờ tên
võ trang trở lại, cô ta hỏi:
"Quê anh ở
đâu?"
"Tôi ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long mà trong Nam chúng tôi thường gọi là Miền
Tây, nhưng tôi sống ở Sài Gòn lâu rồi cô."
"Anh có thường
được thư gia đình không?"
Tôi khựng lại,
vì không hiểu cô ta hỏi thật hay dò xét. Con của Trưởng
Công An huyện mà. Thấy tôi ngập ngừng, cô ta nói:
"Tôi hỏi thật,
anh đừng sợ. Tôi có vào Nam rồi. Tôi thấy người miền
Nam thành thật mà dễ mến nữa. Tôi nói thật đấy."
Tôi có phần vững
dạ:
"Vâng. Thỉnh thoảng
thôi, vì người ta ấn định thời gian chớ không phải lúc
nào cũng được gởi đâu cô."
"Lần sau các
anh có ra đây, mang theo thư đưa tôi gởi cho. Các anh đừng
sợ. Tôi hỏi thêm, các anh có bị người ta đánh không?"
Tôi nhìn thẳng
cô ta và chậm rãi trả lời để dò xem cô ta hỏi thật hay
giăng bẫy:
"Cám ơn cô. Chúng
tôi không mang thư theo được đâu vì bộ đội vờ trang xét
kỹ lắm. Về đánh đập thì tôi và các bạn cùng Tổ với
tôi chưa bị, những chửi rủa nhục mạ thì thường lắm,
thường đến mức mỗi khi người ta bắt đầu thì chúng tôi
thuộc luôn mấy câu sau rồi. Ðối với chúng tôi, điều đó
còn đau hơn đánh đập vì trình độ của chúng tôi ít nhất
cũng phải tốt nghiệp trung học rồi cô."
Cô ta đứng yên
một lúc, chừng như có chút xúc động:
"Họ có cho
các anh ăn no không?"
"Nếu tôi nói
với cô là chốc nữa đây tôi sẽ ăn hai củ khoai mì mà cô
gọi là sắn, để chiều về tôi ăn một lúc hai phần, cô
có tin tôi không? Hai phần gộp lại là hai chén cơm độn bắp,
đó là hạnh phúc của chúng tôi!"
Cô ta xoay mặt
ra bờ sông. Yên lặng. Tôi tiếp:
"Cô hỏi tôi những
câu ẩn chứa tình người làm tôi cảm thấy ngại ngùng. Ngại
ngùng vì vị trí giữa cô với anh em chúng tôi là một khoảng
cách chính trị, mà chúng tôi là những người bị tù đày
sau khi chúng tôi thua trận!"
"Vào Nam, tôi
mới hiểu người miền Nam các anh. Trong ấy có người thân
của gia đình tôi vào đó từ năm 1954, cũng ở trong quân đội
như mấy anh. Tôi muốn giúp các anh điều gì chớ không có
ý dò xét các anh. Bây giờ tôi phải lo công việc."
Nói xong là cô
ta lại đằng nhà lều ở đầu đám rẫy. Có lẽ cô ta thấy
tên võ trang đang trở lại nên cô ta không nói nữa thì phải?
"Cám ơn cô."
Tên bộ đội
võ trang đến bảo chúng tôi ăn trưa rồi chuẩn bị về trại.
Nói xong, hắn quay lại nhà lúc nãy . Sáu anh em chúng tôi đang
ngồi ăn khoai mì, cô gái mang giày ống quay lại chỗ chúng
tôi. Cô ta đứng lại:
"Các anh ăn
thế làm sao no?"
"Tôi nói với
cô rồi. Chúng tôi đâu có cách nào khác. Hai củ khoai này
là phần ăn của mỗi anh em chúng tôi đây!"
"Các anh ráng
giữ sức khỏe để về với gia đình . Chào các anh. Tôi về
ăn trưa."
"Chào cô."
Phải nói rằng,
sau cái lần nghe tên bộ đội thông tin nói như trách chúng
tôi có thiên đường mà không biết giữ, đến ông cụ già
rửa xe đạp như vạch trần sự tuyên truyền dối trá trên
làn sóng phát thanh, rồi đến lần mua chuối xanh nhìn thấy
thái độ của ông cụ đối xử với chúng tôi rất tình người,
hôm nay đến cô gái con bà Trưởng Công An quận mà họ gọi
là huyện Trấn Yên này nói chuyện với chúng tôi ẩn chứa
sự thông cảm với chúng tôi, cho phép tôi nhận ra rằng:
"Không phải mọi
người dân 20 năm xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc đều
là cộng sản đâu, ngay cả cô con gái của Trưởng Công An
quận cũng vậy. Tôi nghĩ, chúng ta thua trận gần hai năm rồi,
nhưng có vẻ như chúng ta thắng cộng sản về chính nghĩa
thì phải. Bởi vì qua nét nhìn, người dân xã hội chủ nghĩa
vùng rừng núi nơi đây dù chưa thể xem là tiêu biểu cho cả
miền Bắc, nhưng rõ ràng là họ cư xử với chúng tôi có
đạo nghĩa. Tôi nghĩ, điều đó không mang ý nghĩa của lòng
thương hại, mà là ý nghĩa của sự đồng cảm ý thức chính
trị. Phải chăng, sự thua trận của chúng ta lại giúp cho
người dân có cơ hội cũng như hoàn cảnh nhận định được
chế độ nào là chính nghĩa? Trong cái rủi (ro) có cái may
(mắn), trong cái nguy (hiểm) có cái cơ (hội) là thế. Chúng
tôi vẫn tiếp tục quan sát để nhận định vững vàng hơn".
Tổ nấu bếp
ở trại này là "chuyên nghiệp", nghĩa là không có luân phiên
như ở trại Long Giao hay Tam Hiệp trong Nam. Anh Nguyễn Kỳ Nguyện
(Ðại Tá, Bộ Tổng Tham Mưu) nấu nước, anh Cao Văn Phước
(Ðại Tá Quân Vận) với anh Lê Ngọc Ẩn (Ðại Tá Quân Cụ)
nấu thức ăn, anh Nguyễn Hữu Phước (Ðại Tá Quân Cảnh)
nấu cơm.
Cung cấp củi
cho nhà bếp là Tổ của anh Tạ Ðình Siêu (Ðại Tá Thiết
Giáp). Họ ấn định "chỉ tiêu" mỗi người/mỗi ngày một
bó từ 25 đến 30 kí lô. Ai lấy đủ chỉ tiêu thì nghỉ,
bằng không thì chiều đi tiếp. Củi là chặt cây rừng trên
các đỉnh núi, cột lại từng bó. Xuống chân núi, phải qua
sự kiểm soát của tên võ trang. Hắn ngắm nghía xem chừng
đủ chỉ tiêu thì hắn dắt về, giao cho nhà bếp. Các bạn
trong nhà bếp, cứ đẩy nguyên bó cây xanh tươi đó vào lò,
một lúc thì cháy thôi.
Ngạc nhiên
thứ năm.
Tổ chúng tôi
là Tổ cơ động, nên hết việc này họ bảo làm việc kia
mà hầu hết là leo núi đốn cây. Ðầu tiên là đốn cây
cung cấp cho mấy Tổ kia cất thêm căn trại. Cứ sáng sớm,
mỗi người lãnh vài củ khoai mì cho vào túi áo treillis , lon
gô nước chín xách tay, đến nhà kho gặp anh Tạ Văn Kiệt
(năm 1955 là Quận Trưởng Quận Trà Ôn, Vĩnh Long) mượn dao.
Tên võ trang dắt đến chân núi, hắn chờ ở đó và chúng
tôi cùng leo núi. Tổ chúng tôi 20 người, khi lao động phải
từ 17 người trở lên, nếu dưới con số đó thì tên quản
giáo là Trung Úy Bật hạch hỏi đủ điều. Nhức đầu lắm!
Vì những cây dùng làm cột nhà có đường kính từ 20 phân
tây trở lên nên nặng lắm. Ðến những cây dùng làm kèo
làm đòn tay cũng không phải là nhẹ. Anh em chúng tôi kết
lại thành từng nhóm để giúp đỡ lẫn nhau. Tôi, anh Hồ
Văn Thành, anh Nguyễn Văn Sang (Ðại Tá Tiếp Vận), anh Trần
Văn Lễ một nhóm. Anh Sang với anh Lễ kém sức khỏe, khi lên
núi xuống núi, hai anh bò nhiều hơn là đi, do vậy mà tôi
với anh Thành trợ giúp. Lên đỉnh núi, thường khi phải theo
đường đỉnh đi từ núi này sang núi kia, đôi khi phải xuống
thung lũng tìm cây đúng với nhu cầu
của Tổ cất nhà. Tôi với anh Thành đốn cây, anh Sang với
anh Lễ tìm chặt dây cột lại thành bó để khi lăn xuống
núi không bị văng tứ tung. Vác đến triền núi, hai người
nắm chặt hai đầu bó cây, rồi nói thật to như báo động
người bên dưới dù có thấy hay không thấy người nào:
"Chú ý. Chú ý.
Chúng tôi phóng cây xuống."
Báo động xong
là đếm một, hai, ba, cả hai cùng buông tay cho bó cây lăn
xuống chân núi. Trông cái cảnh ấy gợi cho anh Lễ nhớ lại
truyện Trung Hoa ngày xưa. Anh vắn tắt cho bớt nỗi nhọc nhằn:
"Tôi nhớ cái
trận đánh mà ông Tiết Nhơn Quý chinh đông chinh tây gì đó,
khi địch quân bao vây rồi từ chân núi tiến lên, ông ta áp
dụng chiến thuật gọi là "dứt dây lăn gỗ" giống như chúng
mình vừa rồi đẩy bó cây xuống núi. Vậy mà ổng gây thiệt
hại nặng nề cho quân địch, vì không tránh vào đâu được."
Anh em cười xòa, cùng nhau xuống núi.
Cũng cái hôm ấy,
khi vác cây trên đường đỉnh, trông thấy một ông có lẽ
cũng khoảng 50-60 gì đó đang ngồi ôm đứa con trai trong lòng,
chúng tôi dừng lại nhưng cũng ngài ngại vì không biết thái
độ ông ta đối với chúng tôi ra sao. Thấy ông không có vẻ
gì phản đối, tôi hỏi:
"Cháu làm sao mà
ông ôm cháu vậy?"
Nhìn chúng tôi
một lút, ông đáp:
"Cháu nhà tôi
bị sốt rét ông à! Ở đây người ta chỉ phát cho mỗi thứ
thuốc "xuyên tâm liên" không trị được gì hết."
"Nếu ngày mai
ông với cháu có đến đây, tôi sẽ tặng cháu vài viên thuốc
uống chống sốt rét. Ông cho cháu uống thử xem sao."
"Cám ơn ông.
Mai tôi chờ ở đây. Ông coi chừng mấy đứa bộ đội bắt
gặp là nó phạt ông đó."
Ngày hôm sau là
ngày chót của Tổ chúng tôi đốn cây trên núi này. Tôi gặp
ông già và đứa bé áng chừng 10 tuổi, nhưng thật sự thì
cháu 16 tuổi. Thiếu dinh dưỡng mà! Tôi đưa ông già 10 viên
Chloroquine và dặn mỗi ngày uống một viên. Quá đỗi ngạc
nhiên về sự vui mừng của ông già, tôi hỏi:
"Ông cho cháu uống
thử chớ tôi không dám chắc là cháu hết bệnh ngay đâu,
vì tôi không phải là thầy thuốc."
‘Tôi mừng
là vì ở miền Bắc này có bao giờ tôi trông thấy thuốc
ngoại đâu, tôi tin là cháu sẽ hết bệnh."
Từ hôm sau tôi
không có dịp gặp ông, cho đến một hôm trong khi chúng tôi
sang dãy núi khác để đốn cây chổm lợp nhà, làm vách nhà,
và làm vạt giường nằm, xa hơn khu vực đốn cây làm cột
nhà. Khi vừa lên đến đỉnh núi, tôi trông thấy ông với
đứa bé mạnh khỏe. Ông nhìn qua nhìn lại, tôi đoán là ông
sợ có thằng võ trang đi theo, tôi nói ngay:
"Bộ đội võ
trang ở dưới đường chớ không theo chúng tôi. Ông sợ anh
ta trông thấy phải không?"
Hai bàn tay ông
già nắm lấy tay tôi thật chặt, miệng ríu rít:
"Cả gia đình
tôi cám ơn ông. Cháu chỉ uống viên đầu tiên là hết sốt
rét, tôi cho cháu uống thêm 2 viên nữa, mấy viên còn lại
gia đình tôi chia cho hai đứa cháu cũng bị sốt rét. Tất
cả chúng nó khỏe hết rồi. Thuốc ngoại hay lắm ông ơi!"
"Sao ông biết
chúng tôi đốn cây ở đây mà chờ?"
"Mấy hôm tôi
đến chỗ cũ không gặp ông, tôi phải tìm hỏi mãi mới biết
là Tổ đốn cây của ông đã chuyển sang đốn chổm. Tôi
đoán mấy ông đốn ở núi này nên tôi chờ. May quá, được
gặp ông."
Rồi ông xuống
giọng như tâm tình:
"Gia đình tôi
nghèo lắm, có cơm độn ngày hai bữa là khá rồi. Tôi có
mang biếu ông hai củ lang (khoai lang) ông nhận giùm tôi.
Ơn của ông to lắm."
Vừa nói ông vừa
bước đến gốc cây, dùng tay bươi đám lá khô lôi ra cái
gói lá chuối, sau khi thổi bụi trên củ khoai, ông cầm hai
tay run run đưa tôi làm tôi xúc động thật sự. Sự xúc động
của tôi một phần vì hai củ khoai mà tôi nghĩ có thể ông
trích trong phần ăn của gia đình ông, phần khác là thái độ
cùng cách xử sự của ông đối với chúng tôi. Ông đã lặn
lội tìm cách gặp tôi để "đền ơn" mà không ngại núi rừng,
cũng không sợ bị tên quản giáo hay võ trang bắt gặp, nếu
không phải là tấm lòng thì ông đâu cần phải hành động
như vậy. Nhưng ở đây tôi còn nhìn sang hai góc độ nữa:
Một là góc độ
chính trị, rõ ràng là người dân xã hội chủ nghĩa nơi đây
không phải ai cũng ủng hộ chế độ cộng sản. Sống trong
lòng chế độ nhưng sự phản kháng vẫn tiềm ẩn trong lòng
họ, có cơ hội thích hợp là họ bộc lộ như trường hợp
ông già nêu trên.
Và hai là góc
độ kinh tế. Cả một quốc gia chỉ uống toàn thuốc "xuyên
tâm liên" thì một dân tộc bệnh hoạn yếu đuối là đúng
thôi! Tuy ông chưa biết công hiệu của viên thuốc ra sao, chỉ
cầm trong tay viên thuốc ngoại quốc đã đủ làm cho ông tin
tưởng là con của ông hết bệnh rồi. Tội nghiệp cho người
dân 20 năm xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc này biết bao!
Anh Nguyễn Phán
đi lạc.
Một hôm, trước
khi đến khu vực đồi núi có cây chổm, phải lội ngang dòng
suối. Gặp lúc không mưa thì mực nước ngang lưng quần, khi
mưa lớn hoặc mưa nhỏ mà liên tiếp vài ngày, mực nước
có thể cao đến tận cổ. Những lúc như vậy, mọi người
muốn mặc áo quần ướt hay khô là tùy. Muốn khô phải cởi
ra lội sang bên kia bờ mặc lại, nếu muốn ướt cứ để
nguyên qua suối. Rồi bắt đầu leo núi. Ðộ dốc của núi
này khá cao, có lúc chân bước lên là đầu gối chạm vào
triền núi. Anh nào lên đến đỉnh trước thì ngồi chờ,
đủ mới đi. Phải qua ba ngọn núi, rồi tuột xuống lưng
chừng thung lũng sâu mới tìm thấy rừng chổm. Thung lũng này
dốc cao lắm, không thể bước được mà là tuột dốc từ
từ. Ðốn được một cây chổm đã khó vì nó chen chúc nhau
rất dầy nên đưa được cây dao vào vị thế để chặt không
phải dễ. Chặt xong phải giữ nó lại, nếu không thì nó
tuột luôn xuống tận đáy thung lũng, vừa phí sức vừa không
đủ tiêu chuẩn! Chưa hết, tôi phải chuyển ngược từng
cây lên hướng đỉnh cho anh Thành. Thật sự là rất nguy hiểm!
Nếu chẳng may anh Thành ở trên nắm không chắc, cây chổm
lao xuống sườn núi rất có thể nó đâm thẳng vào tôi đang
đứng phía dưới một cách ngọt xớt. Chết là cái chắc!
Anh Thành có sức
khỏe, rất tốt với bạn, nhưng thị lực rất kém, suýt nữa
anh bị cây chổm xé mặt anh khi luân phiên tôi đứng trên,
anh đứng dưới đốn chổm chuyền lên tôi. Anh chặt nhát
dao thật mạnh, cây chổm ngã dần xuống hướng triền núi,
thình lình phần còn lại của gốc chổm tét làm hai và bật
mạnh lên. Rất may là trước khi xuống nhát dao, anh đứng
xéo qua một bên để giữ thế, nếu không thì phần tét ra
của cây chổm chém nát mặt anh chớ không vừa. Khi cây chổm
bị tét ra nó nhọn và rất bén, nó mà đâm vào da thịt con
người thì khiếp lắm quí vị quí bạn à!
Nhiều lần chúng
tôi trông thấy bọn quản giáo với võ trang làm heo, họ dùng
ngọn cây chổm vạt nhọn, thọc vào cổ con heo. Cả cơ thể
con heo oằn oại miệng la en éc. Con heo càng la, họ càng ấn
sâu khúc chổm vào, rồi kéo ra đẩy vào cho máu theo khúc chổm
chảy vào cái thau phía dưới. Trông cách thọc huyết heo của
họ, dã man quá! Vậy mà họ cười một cách thích thú, cứ
như họ vừa lập được thành tích vậy. Thật không thể
tưởng tượng tính dã man của cái đám cháu ngoan ông Hồ!
Có một anh Thiếu
Úy bị bắt khi Ban Mê Thuột bị tấn công chiếm đóng hồi
tháng 3 năm 1975, chúng nó đưa anh ấy ra Bắc trước, và năm
1976 nhập vào chúng tôi trong Nam ra nhưng khác trại. Khi chặt
chổm, chân trái của anh sát cây chổm mà cây dao của anh rất
bén, anh lại còn trẻ nên khỏe so với chúng tôi. Chỉ một
nhát dao cây chổm đứt lìa, nhưng bắp đùi của anh cũng bị
chiều dài lưỡi dao phập vào khá sâu. Về sau chúng tôi không
rõ cái chân của anh như thế nào nữa!
Họ ấn định
chỉ tiêu cho chúng tôi mỗi người 10 cây, dài ít nhất là
5 thước. Tuy "thịt cây chổm" không dầy bằng "thịt cây tre",
nhưng 10 cây tươi cũng nặng lắm. Khi tuột xuống triền chỉ
có con dao trên tay đã thấy khó khăn, khi chuyển được cây
chổm trở lên càng khó khăn hơn nữa! Nhưng vẫn phải làm
bằng tất cả sức lực, cộng với mức độ nguy hiểm không
phải là thấp! Trở về đến đỉnh cuối cùng, cùng nhau ngồi
lại nghỉ chân trước khi xuống dòng suối, mạnh ai người
ấy moi hai củ khoai mì trong túi ra ăn. Ăn khoai mì, ăn cả
mùi mồ hôi chen lẫn trong mùi quần dơ với nước suối đục
ngầu trong đó! Nhìn mặt trời ngã về tây khá lâu, chúng
tôi đồng ý với nhau là xuống núi và đưa những bó chổm
qua bên kia dòng suối. Chúng tôi tự quyết định với nhau,
vì tên quản giáo với tên võ trang chờ bên kia suối.
Tên võ trang đi
tới đi lui nhìn mấy bó chổm. Xem chừng đủ chỉ tiêu nên
hắn làm thinh. Xong hắn đếm từng người. Hắn hỏi vội:
"Anh Hoa. Còn
một anh nữa đâu?"
"Tôi làm sao biết
bộ đội."
"Anh khẩn trương
xem lại mất anh nào?"
Tên này thường
dùng chữ "khẩn trương" khi thúc hối chúng tôi nhanh lên, cho
nên chúng tôi khi nói với nhau về hắn, không cần nói tên
mà chỉ dùng chữ "khẩn trương" là hiểu.
Tôi kiểm lại,
mãi một lúc mới nhận ra:
"Báo cáo bộ đội,
còn thiếu anh Phán. Anh ấy yếu lắm, có thể vì vậy mà ảnh
về chậm."
Hắn quát ngay:
"Các anh phải
lên núi tìm. Khẩn trương lên."
Trời đất ơi!
Giờ này nghe nói đến lên núi, cơ thể như rã rời làm sao
mà đi nỗi. Anh em chúng tôi nhìn nhau như muốn nói với nhau
rằng: "Tôi đuối rồi". Không ai nói năng gì cả. Hắn quát
lớn hơn:
"Khẩn trương
lên. Tại sao các anh ngồi yên đó?"
Không nhìn nhau
nữa mà mỗi người nhìn thẳng về phía trước, chừng như
vừa lo cho bạn, vừa lo cho mình. Chẳng đặng đừng, tôi đứng
dậy:
"Báo cáo bộ đội.
Tôi đi."
"Hai anh nữa
đi với anh Hoa. Ðề phòng nguy hiểm."
Không hiểu chữ
nguy hiểm mà hắn dùng, là hắn sợ thú rừng giùm tôi hay
sợ tôi nhân cơ hội này trốn trại?
"Không được
đâu bộ đội. Các bạn tôi mệt lắm rồi, cần phải lấy
sức vác chổm về nữa. Một mình tôi đủ rồi."
Nói xong là tôi
đi luôn. Anh Hồ Văn Thành chạy theo. Tôi nói gì anh ấy cứ
một mực cùng đi với tôi. Thế là hai chúng tôi cởi áo quần
lội qua suối. Lên đến đỉnh núi đầu tiên là tôi với
anh Thành luân phiên, dùng hai tay chụm lại đưa lên miệng
làm ống loa: "Anh Phán ơi! Anh Phán!" Tôi gọi không to lắm
nhưng giữ hơi ngân dài để âm thanh đi được xa. Từ trên
cao gọi xuống thung lũng âm thanh đi xa lắm. Cứ mỗi tiếng
gọi, âm thanh từ các triền núi chung quanh dội lại rất rõ.
Hết đỉnh núi này sang đỉnh núi kia, tôi với anh Thành đều
cất tiếng gọi như vậy. Ðến thung lũng thứ ba bên trái
thung lũng cây chổm, sau "tiếng loa" của anh Thành, tôi nghe
tiếng anh Phán như xa lắm:
"Tôi .. đây ..
nè !"
"Anh nghe tiếng
chúng tôi rồi, anh hãy đi về hướng chúng tôi đi."
"Không .. được.
Tôi .. không .. dám .. đi .. nữa. Tôi .. sợ .. lắm."
"Anh ngồi yên
đó. Khi tôi gọi thì anh lên tiếng để chúng tôi tìm đến
anh."
Chúng tôi theo
đường mòn quanh co xuống thung lũng theo hướng có tiếng nói
của anh ấy:
"Anh Phán ơi! Hãy
lên tiếng giùm coi, chúng tôi xuống đến thung lũng rồi."
"Tôi . đây . nè
. Tôi . đây . nè ."
"Tôi nhận ra hướng
của anh rồi. Anh đứng dậy và nắm cái cọng gì đó quơ
qua quơ lại cho chúng tối thấy đi."
Và rồi chúng
tôi đến nơi. Hóa ra khi anh vác bó chổm lên đường đỉnh,
lại không để ý đến ngã ba nhỏ xíu để quẹo trái theo
đường đỉnh mà ra điểm tập trung, lại đi thẳng theo đường
mòn xuống thung lũng bên này.
"Tôi sợ quá hai
anh ơi! Tôi nghĩ là chết ở đây chớ không thể nào về được.
Nghe tiếng hai anh tôi mừng quá, nhưng không đủ can đảm đứng
dậy đi về hướng mấy anh, sợ đi lạc xa nữa."
"Bó chổm anh đâu?"
Ðằng kia kìa
. Tôi không vác nổi đâu. Về trại nó làm gì tôi thì làm."
"Tụi mình lớn
tuổi rồi, không nên để thằng nhóc đó nó mắng. Bây giờ
tôi với anh Thành vác cho anh, nhưng từ chỗ tập trung về
trại, anh cố gắng nghe."
Chúng tôi về
đến điểm tập trung, tôi thuật lại sự kiện anh Phán đi
lạc, vậy mà hắn vẫn hạch hỏi:
"Tại sao anh
đi lạc?"
Tôi đỡ lời
vì anh Phán đâu đã hoàn hồn:
"Bộ đội thông
cảm, anh Phán còn run sợ lắm, chưa đủ bình tỉnh để trả
lời bộ đội đâu. Nếu nhớ đường về thì đâu có ai đi
lạc bao giờ."
"Tất cả đi
về." Hắn quát nhưng nhẹ thôi.
Thừa lúc hắn
đến phía trước kiểm lại từng người, tôi rút một cây
anh Thành rút một cây cho vào bó của chúng tôi, giúp anh Phán
đỡ nặng. Chúng tôi khệnh khạng rồi cũng về đến trại.
Lội suối tắm xong, chờ lãnh phần ăn trưa lẫn phần ăn
chiều gộp lại ăn một lần cho no. Anh em khỏe muốn được
đi lao động "thông tầm" tức là đi từ sáng đến chiều,
nhịn đói một chút để buổi chiều có được hai phần ăn,
tức hai cái "bánh bột mì luộc". Gần đây chúng nó cho chúng
tôi ăn bánh bột mì luộc, trông như cái bánh bao nhưng hoàn
toàn chỉ có bột mà thôi. Số bột mì này do một quốc gia
nào đó ở Châu Âu (dường như là Thụy Ðiển) viện trợ,
họ bán cho dân thay khẩu phần gạo + bắp, nhưng người dân
không quen ăn nên đưa vào trại tù chính trị chúng tôi. "Bánh
bao bột mì luộc" bằng cái chén nhỏ, chấm với muỗng nước
muối, và mấy cọng rau muống gọi là canh. Ở đây họ không
cho ăn muối hột vì họ sợ chúng tôi trữ lại để trốn
trại, nên họ buộc nhà bếp bỏ muối vào nồi đổ nước
vô hòa tan, một muỗng nước muối là phần ăn mặn của mỗi
tù chính trị chúng tôi.
Ăn cắp của
trại.
Thường ngày trong
mỗi bữa ăn, anh Nghĩa chuẩn bị một rổ rau má. Rau má ở
khu rừng này "mập" lắm, cọng lớn lá to. Anh Nghĩa rửa thuốc
tím hẳn hòi. Cứ mỗi miếng ăn kèm theo một cuộn rau má
chấm mắm tôm. Buổi chiều ba anh em chúng tôi -Anh Nghĩa, anh
Ðiệp, và tôi- ăn no là nhờ "độn rau má". Những hôm tôi
đi "thông tầm" có hai phần ăn trong bữa ăn chiều, tôi chia
làm ba phần nhưng anh Nghĩa với anh Ðiệp không nhận. Hai anh
cho rằng tôi lên núi vất vả, cần giữ sức khỏe hơn. Một
hôm anh Nghĩa lần mò sang bên kia triền núi, nơi có rẫy khoai
lang họ đã đào lấy củ rồi, nhưng anh cũng mót được khoảng
20 củ chỉ bằng ngón tay út. Anh lại mang cái gà-mèn xuống
tận thung lũng nấu được lon gô chè. Nuốt vào đến đâu
nghe nó ngọt lịm đến đó. Thật lòng mà nói, không phải
chúng tôi ăn, mà là chúng tôi thưởng thức đến tận cùng
cái chất bột của khoai ngấm trong đường, cái chất ngọt
của đường hòa trong chất the the của lá gừng ăn cắp. Cho
nên chỉ ăn có chén chè nhỏ xíu mà thời gian bằng cả bữa
ăn. Ngon lắm quí vị quí bạn à!
Do được ăn khoai
lang, tôi nghĩ đến cách "ăn cắp" khoai mì mà người miền
Bắc gọi là "sắn". Khoai mì mà tù chính trị chúng tôi trồng
đến cả chục ngọn đồi chung quanh trại. Thế nhưng ngồi
trên chòi cao, tên võ trang gác trên đó dễ bắt gặp lắm,
vì khi mình nắm kéo lên thì ngọn cây khoai mì lắc lư là
nó báo động đến bắt ngay. Tôi nghĩ cách, và thực hành
luôn. Tôi may cái túi nhỏ, dùng cây kim tây ghim vào bên trong
nách áo. Miếng kim khí mài sẵn thay con dao, lén đem ra ngoài
trại giấu trước. Những khi lao động gần các ngọn đồi
khoai mì, giờ trưa chui vào khoảng giữa, dùng miếng kim khí
như lưỡi dao moi từ từ tránh đụng vào thân cây khoai mì,
mỗi cây chỉ khứa lấy một củ thôi, vì lấy hai củ cây
sẽ ngã khi có gió. Chỉ cần 2 hoặc 4 củ tùy lớn nhỏ là
đủ cho một lần ăn. Lột võ chôn xuống đất ngay. Xuống
suối rửa, khứa nhỏ, cho vào cái túi gài trong nách áo.
Ðến giờ về,
cứ thản nhiên vào cửa vì trên tay không mang theo gì hết
nên không bị xét. Chưa xong đâu. Khi về trại, nhét vào lon
gô, cho vào miếng đường tán, rồi cho nước vào, đậy nắp
lại, xách tòn teng đi xuống suối như đi lấy nước vậy.
Nhà bếp sát lối đi xuống suối. Vì họ cấm nấu, nên khi
ngang nhà bếp phải nhìn trước ngó sau, lượm thanh cây nhỏ
xỏ vào cái quai đẩy lon gô vào sát một bên lò đang nấu.
Bước ra tức thì và xuống suối làm bộ rửa tay, rồi lên
trại. Chừng một tiếng đồng hồ sau lại lảng vảng nhà
bếp, thuận tiện là kéo lon gô ra, xách về. Ðến khi tiếng
kẻng ngủ, tôi với anh Nghĩa mới đem ra ăn. Ăn sớm sợ các
anh khác thấy rồi nói tới nói lui đến tai tụi quản giáo
hay vờ trang biết được là nguy lắm. Còn đường thì ăn
chè, hết đường thì ăn khoai luộc, miễn no là được rồi.
Cũng vì ăn cắp
mà tôi đã một lần bị hạch hỏi, nhưng từ đầu đến
cuối đều chối nên không bị biệt giam. "Biệt giam" là nhốt
vào một chỗ chật hẹp, tay chân bị còng lại, khẩu phần
ăn chỉ bằng một nửa. Nhưng không phải tôi ăn cắp khoai
mì mà là ăn cắp trứng gà. Thật ra nói tôi ăn cắp cũng
không hoàn toàn đúng, vì không phải tôi sang chuồng gà ăn
cắp. Chẳng là một hôm khi giao củi cho nhà bếp xong, tôi
về chỗ nằm thò tay lên cái kệ bằng cây chổm trên mái
nhà, để lấy quần áo xuống suối tắm. Dọc theo vạc giường
cây chổm làm chỗ ngủ của chúng tôi, nếu nằm ngửa nhìn
lên trần nhà thì trên đó có cái kệ để đồ dùng. Tôi
đụng vật lạ trên đó như là cái trứng, cầm xuống hóa
ra là cái trứng gà. Tôi chưa biết phải làm sao, lúc ấy các
bạn Tổ bên kia tắm xong đang vào nhà, tôi vội bóp bể võ
và cho cái trứng tuột vào miệng ngay. Quí vị quí bạn ơi,
tôi ăn sống cái trứng gà đó. Và ngày nào tôi cũng "ăn cắp"
một cái trứng gà và ăn như vậy. Thật tình tôi không biết
là con gà mái leo lên đó đẻ lúc nào, cứ có cái trứng là
ăn mà chẳng cần biết gì thêm. Một hôm khi vào nhà thì con
gà kêu oác oác rồi cục tác cục tác. Hóa ra chị gà ta hôm
ấy đẻ "trễ giờ", thay vì đẻ lúc sáng hay trưa gì đó,
hôm nay đến chiều mới đẻ nên tôi mới có dịp trông thấy.
Thế nhưng thời gian tôi được ăn cái trứng gà kéo dài chỉ
được gần hai tuần, rồi tên quản giáo gọi tôi sang văn
phòng trại:
"Anh ăn cắp
trứng bao lâu rồi?"
"Tôi đâu có ăn
cắp trứng cán bộ." Tôi có ý xỏ hắn khi tôi nhấn mạnh
âm thanh trứng cán bộ!
"Con gà đẻ
ở chỗ nằm của anh mà anh còn nói không có."
"Không. Tôi không
hề thấy con gà nào chỗ tôi cả. Nhưng mà gà đẻ ở chuồng
chớ sao đẻ ở chỗ tôi nằm"
Im lặng một lúc,
hắn quát:
"Tôi bắt gặp
là anh biết tay tôi."
Thế là con gà
mái bị nhốt vô chuồng nên không sang đẻ ở chỗ nằm của
tôi nữa. Cũng may, nếu nó không bị nhốt mà nó tiếp tục
sang chỗ tôi để đẻ thì nguy. Tôi biết anh bạn đã báo
cáo sự việc đó, nhưng tôi thấy không nên viết lại làm
chi. Chuyện nhỏ mà.
Ðốn cây.
Ðốn cây rừng
với cây chổm làm nhà, nhưng không có dây thì làm gì cột
với kèo và đòn tay dính vào nhau. "Cây dang" (có thể tôi viết
không đúng chữ) cũng là dòng họ của tre, trúc, chổm, dùng
làm dây cột rất chắc. Nhưng loại này mọc ở những chỗ
nguy hiểm lắm, đốn "dang" khốn khổ hơn đốn chổm nhiều.
Dang chẻ được nhiều dây, rất dai.
Ðây là đoạn
đường chúng tôi lần mò từng bước đến rừng dang. Thời
tiết vào đông, vùng núi rừng Tây Bắc này nhiệt độ khá
thấp so với đồng bằng Sông Hồng. Nhóm chúng tôi đi đốn
dang gồm năm người: Anh Huỳnh Thanh Sơn, anh Hồ Văn Thành,
tôi, và hai anh nữa mà tôi không nhớ. Tên võ trang dắt đi
khoảng 3 cây số trên đường liên tỉnh Hoàng Liên Sơn - Lai
Châu, đến ngã ba có cái lò gạch bên đường, là quẹo xuống
suối với mực nước lưng chừng đầu gối. Lòng suối nhiều
đá lởm chởm. Chúng tôi phải bì bõm ngược dòng suối dưới
những tàng cây phủ xuống đến mặt nước, có lúc phải
dùng tay đẩy những cành lá sang một bên để có lối đi.
Ánh mặt trời không soi sáng được bao nhiêu, trong khi nước
mùa Ðông quá lạnh. Tấm vải nhựa dùng làm áo mưa phủ từ
bờ vai xuống đến lưng quần, chống đỡ phần nào cơn mưa
phùn lất phất từ lúc ra khỏi trại.
Chúng tôi đi như
vậy với khoảng cách tương đương đi trên đường, mới
đến khu rừng cây dang. Thân cây dang lớn hơn cây chổm nhưng
ngắn. "Thịt cây dang" rất dầy. Lóng cây dang ngắn so với
lóng cây chổm hoặc cây nứa trong Nam. Ðộ rỗng ruột như
cây tầm vông trong Nam. Võ có những đốm như mốc chớ không
trơn láng như cây chổm hay cây nứa. Cây dang không lên thẳng
đứng mà lại oằn thấp gần như song song với mặt đất.
Chui vào chặt được nó rất khó, kéo được nó ra khỏi "bà
con dòng họ nó" càng khó hơn nữa. Cuối cùng, mỗi người
chúng tôi cũng có được một bó 6 cây, nhưng gian nan hơn 10
cây chổm rất nhiều. Dưới cơn mưa nhẹ giữa đám rừng
dang âm u với tiếng muỗi vo ve không ngưng nghỉ, chúng tôi
lôi trong túi ra mấy củ khoai mì pha trộn nhiều thứ mùi bên
trong với những vệt đen đúa bên ngoài. Sau khi gọi là ăn
xong, bắt đầu bì bỏm xuôi dòng suối cạn lởm chởm đá.
Ðến ngã ba có lò gạch là hết đoạn đường suối, leo lên
đường liên tỉnh, về trại.
Với những cây
rừng, cây chổm, cây dang, hơn 300 tù chính trị cấp Ðại
Tá chúng tôi đã nới nhà bếp vừa rộng vừa thoáng, gian
trạm xá trông cũng khang trang. Tổ chúng tôi lại đi đốn
cây chổm làm hàng rào vòng quanh trại để tự rào mình và
rào bạn! Lần này là loại chổm nhỏ bằng ngón chân cái
hoặc lớn hơn chút ít. Họ ấn định chỉ tiêu mỗi người
60 cây. Loại chổm nhỏ này trên các đỉnh núi gần hơn loại
chổm lớn, với lại 60 cây này chắc là nhẹ hơn 10 cây chổm
lớn, vì vừa nhỏ vừa ngắn. Nhóm chúng tôi gọi là trợ
giúp nhau, vẫn là anh Sang, anh Lễ, anh Thành, và tôi. Lên đến
đường đỉnh, tôi với anh Thành cứ đi trước chỉ cần
bẻ nhánh cây dọc đường làm dấu cho anh Sang với anh Lễ
từ từ đến sau. Ðốn đủ cho 4 bó, cũng là lúc anh Sang với
anh Lễ chặt dây xong. Cột lại chặt chẽ, chúng tôi vác trở
lại triền núi để thả xuống như ông Tiết Nhơn Quí trong
truyện dã sử Trung Hoa với chiến thuật "dứt dây lăn gỗ"
vậy. Bốn bó xuống núi xong, tôi với anh Thành xuống trước,
anh Sang với anh Lễ tuột xuống sau.
Kiểm điểm đủ
người, tên võ trang bắt cả Tổ xếp hàng đôi để hắn
kiểm soát chỉ tiêu. Nó đếm từng bó, bó nào thiếu là nó
đẩy mạnh qua một bên. Cuối cùng là nó mắng:
"Các anh là
những người phản quốc, các anh đã bóc lột nhân dân, bây
giờ các anh còn qua mặt chúng tôi? Những bó tôi đẩy qua
một bên, chỉ có hơn 50 cây thôi. Các anh bỏ cái tính gian
dối đó đi, tập sống lương thiện để còn nuôi vợ nuôi
con. Lần này tôi tha, lần sau các anh biết tay tôi."
Tất cả chúng
tôi, mặt người nào người nấy dài xuống một cách thảm
hại, vì cái thằng nhóc con nó chửi như tát nước do thiếu
vài cây chổm.
Hắn nói như quát
một cách khô khan: "Về trại".
Bó chổm lúc nãy
không nặng bao nhiêu, nhưng bây giờ thì quá nặng! Anh Lễ
ra dấu bảo tôi chờ. Tôi chầm chậm đến khi anh lên ngang
tôi. Anh nói:
"Theo anh, thằng
chó đẻ này chửi tụi mình là do cá nhân nó hay là do chính
sách của tụi nó?"
"Thằng Bật (quản
giáo) đứng im khi thằng võ trang chửi mình, tôi không cho là
vấn đề cá nhân, mà là chính sách của tụi nó sỉ nhục
mình, hay ít ra cũng là một loại chính sách không thành văn."
Lại bệnh tưởng
chết.
Hôm sau tôi vờ
bệnh xuống trạm xá lấy thuốc uống. Khi đến "Trại Cốc"
này, chúng nó bắt buộc chúng tôi phải gói tất cả các loại
thuốc lại và đem gởi ở trạm xá, khi có bệnh thì đến
xin nhận lại và uống tại chỗ. Anh Huỳnh Ngọc Lang (Ðại
Tá An Ninh Quân Ðội) là người giữ thuốc của chúng tôi.
Nhân đến trạm xá, lần đầu tiên trông thấy anh Dư Thành
Nhựt (Ðại Tá, Bộ Quốc Phòng) nhổ răng quá ư độc đáo,
nhưng rất công hiệu. Một anh từ ngoài bước vào, tay bụm
hàm bên trái, mặt nhăn nhó chứng tỏ là anh đau lắm. Ðau
răng mà quí vị quí bạn, nó thấu lên đầu chớ giỡn đâu!
Anh Nhựt chậm rãi như lúc nào:
"Chịu hết nỗi
rồi phải không? Tôi bảo đưa tôi nhổ mấy hôm nay mà không
chịu"
"Anh làm ơn nhổ
giùm tôi đi. Chịu hết nỗi rồi." Anh bệnh nhân rên rỉ.
"Chờ tôi một
phút là xong ngay."
Mời quí vị quí
bạn xem anh Dư Thành Nhựt nhổ răng như thế nào mà ảnh nói
tỉnh bơ. Anh Nhựt bảo:
"Nhắm mắt lại,
chừng nào tôi bảo mở mới mở nghe chưa."
Anh nắm tay anh
"bệnh binh" dẫn đến sát cánh cửa, lấy sợi dây nhỏ mà
anh đã se sẵn , một đầu cột vào chân răng, đầu kia cột
vào cánh cửa. Anh nói:
"Bây giờ anh nhắm
mắt lại và ngẩng mặt lên trần nhà đi."
Anh "bệnh binh"
vừa ngẩng mặt lên thì anh Nhựt đẩy mạnh cánh cửa nghe
cái "phựt", thế là cái răng theo sợi dây ra ngoài. Một chút
máu rướm ra khóe miệng. Sau khi nhét tí xíu bông gòn vào lỗ
chân răng để cầm máu, anh nói:
"Anh ngồi nghỉ
một chút, súc miệng, tôi thay miếng bông gòn khác là về
lán. Hôm nay anh ăn cháo, tôi qua nhà bếp ghi tên cho anh."
Phải công nhận
là anh Nhựt rất dạn tay. Tôi không rõ là trước năm 1975,
anh có học về Ðông Y hay không, nhưng khi anh được chỉ định
vào trạm xá trại này thì anh rất nhiệt tình, từ cạo gió,
nhổ răng, đi rừng tìm những cây dược liệu về cắt gọt
phơi khô nấu nước cho anh em uống. Thật sự có bổ hay không
thì không ai quả quyết, nhưng có điều chắc chắn là nếu
uống hết một tô thì "no bụng". Vì vậy mà nhiều anh em đến
xin "nước bổ" của anh Nhựt. Tôi cũng vậy.
Giả vờ bệnh,
không ngờ lại bệnh thiệt. Tại chỗ nằm, anh Nghĩa bên phải
và anh Nguyễn Phán bên trái tôi, mỗi người khoảng 7 tấc
(0.7m ). Áng chừng giữa đêm, vì chúng nó bắt gởi đồng
hồ nên chúng tôi không biết giờ giấc gì hết, chỉ áng
chừng thôi. Tôi biết là tôi thức, nhưng không thể nhúc nhích
được để lay anh Nghĩa hay anh Phán thức dậy giúp đỡ, cũng
không phát âm thành tiếng để gọi hai anh ấy nữa. Tôi cứ
ú ớ, và rên. Chắc cũng khá lâu. Bỗng anh Nghĩa giật mình
vì tiếng ú ớ của tôi. Tôi nghe anh gọi "Anh Hoa. Anh Hoa",
nhưng không thể nào đáp lại được, quai hàm như cứng lại
rồi. Anh Nghĩa lật đật ngồi dậy, một tay đỡ đầu tôi
một tay anh tìm hộp dầu cù là, vì thường ngày tôi có nói
với anh là tôi để nó dưới đầu nằm để khi anh ấy cần
thì cứ sử dụng, cũng là cách tôi dự phòng trường hợp
này sau lần bị "thương hàn" suýt chết ở trại nhà ngói.
Anh xoa dầu vào tay, chân, ngực, cổ, và cạo gió. Tôi ấm
người và tỉnh lại. Thở ra một cái thật mạnh, giống như
hơi thở bị dồn nén bên trong bây giờ mới đẩy nó ra được
là cảm thấy khỏe ngay. Anh nói:
"Anh bị trúng
gió nặng quá. Tôi mà ngủ mê là anh dám đi luôn lắm."
"Ðúng. Lúc ấy
tay chân tôi như đóng băng cứng lại, trong khi tôi cảm thấy
nghẹt thở có lẽ vì không đẩy hơi thở ra ngoài được.
Cám ơn anh rất nhiều. Ðây là lần thứ hai tôi thoát chết,
nếu không có anh và các bạn."
Trồng rau và
phân bón.
Từ đầu năm
1977, trong trại có đủ rau ăn. Rau mùa Ðông là bắp cải,
trái su-le. Sang Xuân, theo lệnh chúng nó, mấy Tổ trồng rau
bắt đầu trồng rau muống. Tổ chúng tôi vẫn là Tổ cơ động
nên trước mắt không liên quan đến trồng rau. Phân bón duy
nhất là nước tiểu và phân người. Ði tiêu thì họ nói
là "đi ỉa", nhưng cái món hàng bị đẩy ra ngoài thì không
nói "cứt người" mà gọi là "phân bắc". Không biết chữ
"phân bắc" có phải là phân của người xã hội chủ nghĩa
miền Bắc, hay có ý nghĩa nào khác?
Trong mỗi Tổ
trồng rau -phần lớn các anh nhiều tuổi hoặc có bệnh khó
trị- cử các toán khiêng nước tiểu từ hộc chứa gần các
"lán", và khiêng phân bắc đem chứa tại khu trồng rau. Tên
quản giáo giao chỉ tiêu mỗi sáng ba khiêng và mỗi chiều
hai khiêng. Nước tiểu thì có hai hộc chứa còn phân bắc
chỉ có một cái cầu, cho nên giữa các Tổ trồng rau phải
chia "quyền sở hữu" để xúc và khiêng. Mỗi hai anh có một
hoặc hai cái thúng trét bằng nhựa đường để đừng rò
rỉ, cái xẻng cán dài để xúc phân bắc, và cái đòn để
khiêng. Tôi chứng kiến cái cảnh thật là ngậm ngùi cho cái
long đong nghiệt ngã của anh em chúng tôi! Nhưng không thể
tránh cái ngậm ngùi đó được, vì khiêng không đủ chỉ
tiêu là đâu có yên với bọn chúng.
Cái cầu tiêu
hai chỗ ngồi, dựng lên sơ sài bên sườn đồi. Chỗ ngồi
đi tiêu có chiều cao khoảng 2 thước để người đứng dưới
dễ xúc "phân bắc", cho nên khi trong tư thế ngồi thì gió
lùa mát ơi là mát. Tôi không nhớ là từ đâu ra cái câu "nhất
Quận Công nhì ỉa đồng". Làm Quận Công sướng ở điểm
nào không biết, chớ "ỉa đồng" được hưởng gió mát phải
biết. Nhưng cái cầu này bốn bên có vách che chút chút, cho
nên chúng tôi xếp hạng khi ngồi lên cầu này làm cái công
việc sản xuất phân bắc xã hội chủ nghĩa ưu việt là "Quận
Công hạng ba". Khi hai anh "Quận Công hạng ba" -tôi là một-
ngồi bên trên thì bốn anh đến đứng trên mặt bằng bên
dưới cách độ 2 thước xa. Hai anh trưởng toán cầm cái xẻng
chống trên nền đất, và giành quyền sở hữu: (trong bản
ghi nhớ của tôi có ghi họ tên, nhưng tôi nghĩ là không nên
viết vào đây)
"Hôm nay là Tổ
tôi, sao anh đến?"
"Thì anh cứ lấy
thúng đó đi, thúng sau cho tôi vì Tổ tôi cần lắm."
"Ðâu được.
Tổ tôi cũng cần như Tổ anh. Tới phiên Tổ nào thì Tổ đó
lấy chớ chơi gì kỳ vậy."
"Cho một thúng
chớ có gì đâu mà anh la om sòm."
Rồi anh có quyền
sở hữu hôm nay cũng đành tặng anh bạn Tổ kia một thúng,
nên mọi việc êm đẹp.
Thế rồi phân
bắc do hai anh "Quận Công hạng ba" vừa sản xuất rơi "bạch
bạch" xuống nền đất, lập tức cái xẻng thò vào xúc rẹt
rẹt cho vào thúng. Xong, dựng xẻng đứng chờ. Hai anh "Quận
Công hạng ba" làm xong công việc sản xuất, rời khỏi "nhà
máy". Hai toán khiêng vẫn đứng chờ những "Quận Công hạng
ba" khác, vì chưa đầy thúng.
Ðến chuyện mất
phân chuồng. Phân của trâu với bò gọi là "phân chuồng".
Trong Tổ chăn nuôi có hai anh giữ trâu, cũng là giữ phân trong
chuồng để bón lúa. Một buổi chiều, hai anh lùa trâu về
thì phân trâu mất hết trơn, "kẻ trộm" đã vét láng te. Hai
anh tức quá, đến các Tổ trồng rau rình. Nhận dạng được
"số hàng đã mất", càu nhàu một lúc rồi huề nhau chớ chẳng
lẽ làm gì trước cái sự thể ấy.
Và đến lượt
tôi đi kiếm phân bò. Tổ chúng tôi chuyển sang trồng bí rợ
mà họ gọi là bí đỏ. Tên quản giáo giao chỉ tiêu -lại
chỉ tiêu- mỗi đầu người phải trồng 5 hốc bí trong một
ngày ở một bên triền đồi gần trại. Phân bón là phân
chuồng và "phân xanh". Phân xanh, là loại cây tạp, đúng hơn
gọi là bụi cây. Thịt mềm, cao khoảng 5 tấc đến 1 thước.
Loại này thường mọc ở những khu rừng chồi. Nhổ đem về
chặt từng đoạn 5 phân bỏ xuống hốc bí gọi là bón lót.
Xong, bỏ vào mỗi hốc 3 hột bí. Nói là 5 hốc bí nhưng vì
triền đồi toàn đá nên vất vả lắm mới đào được. Gọi
là làm phân xanh thì dễ thôi, nhưng lấy phân chuồng cũng
lắm nhiêu khê. Nếu ăn cắp trong chuồng của hợp tác xã,
nhỡ bị họ bắt thì bị phạt là cái chắc. Vì họ bênh
họ chớ đâu bênh mình. Có Trại 8 gần Trại Cốc chúng tôi,
chỉ khoảng vài cây số là cùng. Chuồng trâu ở đó được
xem là lớn nhất trong vùng này, nhưng lại gần chòi canh, cho
nên không dám đến đó. Chúng tôi chia nhau, cứ hai người
một cái "quang gánh" đến các chuồng trâu bò, ngồi chờ khi
nó được thả lên núi kiếm ăn thì quảy gánh đi theo. Cứ
nhìn vào cái đuôi của nó, khi nó |