4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức

Tâm Sự Người Alfa Cư An Tư Nguy

Ký sự trong tù
Phạm Bá Hoa

- bảy -
Trại tập trung Nam Hà

*****

Xin quí vị quí bạn vui lòng ngược dòng thời gian vào chiều ngày 8 tháng 4 năm 1978, tại trại 2 Liên Trại 1 Ðoàn 776, ở vùng rừng già bờ nam Sông Hồng, cách thị xã Yên Bái khoảng 6 cây số. Tất cả tù chính trị chúng tôi được lệnh ra khu vực lao động mang tất cả dụng cụ về trả kho, và chuẩn bị chuyển trại. Vậy mà buổi sáng, tên quản giáo còn ra lệnh cho Tổ chúng tôi:

"Các anh sang Tổ bên kia đòi lại 10 hốc bí đỏ, tiêu chuẩn của hai anh bên đó chuyển sang Tổ bên này".

Trước khi chúng tôi đi, hắn còn nhấn mạnh:

"Trong ngày mai, các anh phải hoàn tất chỉ tiêu đã giao".

Chúng nó đánh lừa chúng tôi để bảo mật đó. Với cái lệnh chuẩn bị chuyển trại, tội cho các anh Tổ nhà bếp là vất vả nhất, vừa nấu cơm buổi chiều lại vừa nấu cơm cho cả trại để ăn dọc đường vào ngày mai. Khẩu phần mỗi người là bốn củ khoai mì với gói thịt chà bông mà họ gọi là ruốc, mặn ơi là mặn cho bữa ăn sáng , và một chén cơm nếp với một miếng thịt heo ram mặn bằng ba ngón tay cho bữa ăn trưa trên đường chuyển trại.

Ðêm đó hầu như anh em chúng tôi ngủ rất ít, vì cái số phận long đong cứ vật vờ trước mắt, nhưng lần này chẳng anh nào bàn luận như lúc ở trại tập trung Tam Hiệp trước khi chuyển ra Bắc hồi giữa tháng 6 năm 1976. Dường như chúng tôi có chút kinh nghiệm về bọn chúng nó mỗi khi chuyển trại!

2 giờ sáng. Ðám quản giáo với võ trang vào các lán trại gọi chúng tôi dậy:

"Các anh mang tư trang tập trung tại hội trường".

Một cái lệnh khô khan vang vọng cả trại 2. Bọn chúng tổ chức mỗi xe chở 30 tù chính trị. Có hơn chục anh từ trong trại 3 chuyển ra nhập vào trại 2 chúng tôi. Nghĩa là trại 2 và trại 3 cùng chuyển trại.

Hì hà hì hục dưới cơn mưa lất phất đủ làm cho mọi người ướt loi ngoi lóp ngóp khi đến nơi xe đậu. Chẳng biết ngẫu nhiên với thời tiết, hay thời tiết muốn thử tính chịu đựng của chúng tôi thêm hay không, mà cứ mỗi lần chuyển trại trong vài năm qua đều mang xách dưới cơn mưa nhè nhẹ! Trời mờ sáng, đoàn xe lăn bánh. Trại 2 đi trước với 5 chiếc Molotova già cỗi. Ðến Sông Hồng ngang thị xã Yên Bái, chúng tôi xuống xe, đi bộ lên phà. Sang bên kia bờ. Trong khi đứng chờ xe từ phà lên, rất đông người dân Yên Bái đứng dọc đường nhìn chúng tôi với thái độ hoàn toàn trái ngược với gần hai năm trước. Rõ ràng là người dân nơi đây có thiện cảm với chúng tôi, sau thời gian họ có cơ hội tiếp xúc với chúng tôi. Khi đoàn xe lăn bánh, hầu như tất cả già trẻ lớn bé, đều giơ tay cao vẫy vẫy như một cữ chỉ thân thiện khi tạm biệt. Vậy là cộng sản đã thất bại, vì họ đã tuyên truyền trong mục đích tạo dựng hình ảnh chúng tôi như những con người tàn bạo đến mức "ăn thịt con nít" để được thăng cấp, nhưng giờ đây qua thái độ cũng như hành động của những người tù chính trị chúng tôi, đã đánh bại nỗ lực của cộng sản trong lòng người dân vùng rừng núi Tây Bắc Hà Nội.

Tại Yên Bái, có thêm anh Nguyễn Văn Thọ (Ðại Tá Nhẩy Dù, bị chúng nó bắt trong trận Hạ Lào đầu năm 1971) lên xe chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi mới biết là đám quản giáo trong trại 2 lẫn trại 3 đã nói dối với chúng tôi, khi bọn chúng ra cái điều khoan hồng nhân đạo là mặc dù anh Thọ gây "tội ác tầy trời", nhưng đảng với nhà nước của chúng đã thả về nhà rồi. Ðúng ra bọn chúng phải trao trả anh Thọ theo điều khoản trao trả tù binh ghi trong Hiệp Ðịnh Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, thế nhưng bọn chúng ngoan cố không trao trả, nay còn nói là khoan hồng nhân đạo. Bản chất của cộng sản là gian trá mà! Trước đây anh Thọ là tù binh, sau tháng 4 năm 1975 anh trở thành tù chính trị như chúng tôi mà bọn chúng vẫn gọi là "học tập cải tạo"!

Trong năm 1955 và 1956, tôi với anh Thọ cùng là Trung Úy, cùng phục vụ tại Trung Ðoàn 35 Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến. Cuối năm 1955, Trung Ðoàn 35 đồn trú ở Cheo Reo (sau này là tỉnh Phú Bổn), đầu năm 1956 chuyển đến doanh trại cạnh đồn điền trà Catecka, cách Plei Ku trên dưới 10 cây số về phía Tây. Năm 1957, anh Thọ chuyển sang Nhẩy Dù, tôi vẫn phục vụ ở Trung Ðoàn 35..

Trên hành trình, tôi ăn hết mấy củ khoai mì với cái túi thịt chà bông quá mặn. Giữa trưa, đoàn xe dừng lại đoạn đường trống trải cả hai bên. Mọi người xuống xe ăn trưa. "Cai tù" ăn theo cai tù, tù ăn theo tù. Anh Trần Văn Lễ đưa tặng tôi mấy củ khoai mì, vì anh bị bệnh trĩ mới thuyên giảm nên không dám ăn những thức ăn có chất xơ. Cũng nhờ mớ khoai mì "tăng viện" này cộng với chén cơm nếp mới giải quyết ổn thỏa cái bao tử của tôi. Chẳng biết tại sao lúc nào tôi cũng cảm thấy đói cả.

Trong lúc ăn trưa, ngồi nhìn đoạn đê ngăn nước Sông Hồng làm tôi chợt nhớ đến cuối những năm 30 khi ấy tôi học lớp élémentaire (lớp nhất trường làng), trong quyển "Quốc Văn Giáo Khoa Thư" xuất bản trên đất Bắc. Ða số các bài học đều mô tả sự kiện và con người miền Bắc, trong đó có nói về hệ thống đê điều và mục đích của nó đối với sinh hoạt nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng. Bây giờ tôi mới thấy tận mắt. Nếu dùng kích thước của những bờ đê trên đồng ruộng miền Nam để nói, thì hệ thống đê điều miền Bắc quả là qui mô hơn tôi nghĩ. Cũng từ nét nhìn này, tôi mới hình dung được sức tàn phá bên trong đê khi đường đê bị đứt đoạn.

Xế chiều, đoàn xe qua cầu Long Biên ngang Sông Hồng, vào thành phố Hà Nội. Nhưng đoàn xe chỉ chạy trên những con đường ven ngoại ô, nên chẳng thấy phố phường Hà Nội ra làm sao cả, nơi mà những năm 30-50 nổi danh với 36 phố phường và 5 cửa ô. Ðoàn xe tiếp tục trên quốc lộ 1 hướng xuống Nam Ðịnh. Ðến thị xã Phủ Lý, rẽ phải, và dừng lại ngay trước khi đến chiếc cầu phao ngang sông. Người dân từ những dãy phố lụp xụp túa ra nhìn từ phía sau xe, vì hai bên bị phủ kín bằng "tấm bạt". Nhóm thanh niên nam nữ tuổi choai choai, đứng sau xe chúng tôi, họ chỉ trỏ:

"Bọn Pôn Pốt đó".

"Chúng nó nói tiếng Việt mà Pôn Pốt gì".

"Bọn Pôn Pốt cũng nói tiếng mình chứ".

"Không phải đâu. Người ta nói bọn Pôn Pốt đen và xấu lắm, còn bọn này giống Việt Nam mình".

"Này. Ngụy đó. Ðừng nói lớn, chúng nó nghe đấy".

Anh em chúng tôi không ai nói gì đến đám choai choai hỗn xược đó, vì hai thằng võ trang ngồi trên tấm bửng xe đang lườm mắt trong khi vẫn ghìm súng vào chúng tôi trong lòng xe.

Ðoàn xe tiếp tục hành trình sau khi qua chiếc cầu phao. Ðiều lạ là cuối đoàn xe có chiếc xe chở toán Công An mặc đồng phục vàng. Tôi kề tai nói nhỏ với anh Ðặng Văn Hậu (Ðại Tá Không Quân):

"Hậu ơi! Liệu có phải tụi mình vô tay đám Công An này không?"

"Tụi mình mà vô tay bọn Công An thì khốn nạn với chúng nó đấy".

"Anh thử đoán xem có phải chúng mình vào tay Công An không?"

"Ai mà biết được cái bọn này. Tớ là người Bắc, dòng họ của tớ ngoài Bắc vô Sài Gòn sau khi mình sụp đổ, họ nói về cái bọn Công An mà dân của họ ngoài Bắc còn chịu không nỗi, tụi mình mà vô tay chúng nó thì khốn khổ là cái chắc!"

Ðường này xấu quá nên đoàn xe chạy rất chậm. Ðến một đoạn quanh khá rộng và trống trải, tôi khều anh Hậu:

"Hậu. Sao đoàn xe bây giờ còn có mấy chiếc hà. Lúc qua Sông Hồng ở Yên Bái, mình trông thấy mười mấy chiếc lận mà".

"Chắc nó còn đằng sau chớ đâu".

Ðến đoạn đường quanh gần như chữ U, tôi lại khều anh Hậu:

"Hậu. Vùng rừng núi này mà sao có khu nhà ngói bên kia thung lũng giống như trại lính kìa Hậu".

"Ừ nhỉ!"

Nam Hà: Giai đoạn 1978-1981

Khoảng nửa giờ sau đó, đoàn xe dừng lại trước cổng khu nhà ngói mà lúc nãy tôi với anh Hậu trông thấy. Nhìn lên tấm bảng có dòng chữ "Trại tập trung cải tạo Nam Hà". Ðoàn xe 5 chiếc Molotova vào hẳn bên trong. Dừng lại giữa cái sân nền đá khá rộng.

"Các anh mang tư trang xuống xe".

Cái lệnh đầu tiên của đám Công An rất khô. Ngay sau đó, bọn Công An dẫn các bạn trong 4 xe đầu vào buồng giam số 15 và 16. Còn các bạn trên xe cuối cùng là 27 người -có tôi trong số này- bọn họ dẫn vào buồng giam số 5. Lúc ấy cửa khóa, chúng tôi ngồi bên ngoài. Một tên Công An đến cho biết:

"Nhà bếp đang chuẩn bị cơm cho các anh. Có một điều tôi cần báo cho các anh biết, bữa ăn hôm nay là bữa ăn đột xuất, từ mai trở đi các anh sẽ không có những bữa ăn như thế. Ngày mai, các anh làm những thủ tục theo qui định. Tiếp đó sẽ học nội qui của trại, và sẽ đi lao động như các đội khác". Nói xong, hắn chắp tay sau đít, đi luôn.

Vẫn ngồi ngoài cửa. Mấy anh tù hình sự đem cơm tới. Bữa ăn ngoại lệ này mà tên Công An vừa nói là "đột xuất", gồm có cơm trắng + canh bắp cải + su hào xào thịt heo. Chia xong thì mỗi khẩu phần được gần hai chén cơm, nửa chén canh mà trong đó có 6 miếng bắp cải, khoảng chục lát su hào cùng với 2 miếng thịt lớn bằng hai ngón tay kẹp lại. Nhưng khẩu phần ngoại lệ ít ỏi này lại là sự thèm thuồng của các bạn đằng sau hàng song sắt, vì khi phân chia xong thì hai bạn từ bên trong đưa cái chén nhỏ ra xin mấy lát su hào với một miếng thịt bé xíu còn dính bên hông cái chậu nhỏ! Vài bạn trong số chúng tôi moi ra từ trong những cái túi cái bịt được mấy củ khoai mì bắt đầu "đổ mồ hôi", mà các bạn đằng sau hàng song sắt tranh nhau nhận lấy và ăn ngấu nghiến ngon lành! Ðiều này báo hiệu cho chúng tôi biết ăn uống ở trại tập trung này chắc chắn là tệ hơn trại tập trung Yên Bái, và nó sẽ là hình ảnh của chúng tôi trong những ngày sắp tới!

Một tên Công An cầm xâu chìa khóa thật lớn vừa đến. Sau hai tiếng lách cách, cửa buồng giam mở ra. Hắn đứng ngay cửa:

"Các anh từng hai người một, từ từ đi vào".

Ðếm đủ. Ngay tức thì, tiếng cánh cửa ập vào, âm thanh réc-réc của thanh sắt đẩy ngang, tiếng ống khóa "crắc" khô khan. Thế là 27 anh em chúng tôi đang ở đằng sau hàng song sắt, nếu nhìn từ chỗ chúng tôi ăn cơm lúc nãy! Việc đầu tiên là phân chia chỗ nằm. Các bạn trẻ trong buồng giam chia cho chỗ nào thì nằm chỗ đó, cho nên anh em chúng tôi nằm rải rác, người trên nền xi măng, người trên gác bằng ván. Cũng may là tôi + anh Huỳnh Thanh Sơn + và anh Ðặng Văn Hậu, nằm cạnh nhau trên sàn gác. Vẫn là những cái cõi không gian bé tí. "Nhập buồng giam, tù mới tùy thuộc tù cũ" mà! Vài nét sơ khởi: Buồng giam -bọn Công An gọi như vậy- có 5 gian thì 4 gian là chỗ nằm, gian còn lại là chỗ vệ sinh kể cả cầu tiêu có thùng chứa. Vừa trệt vừa trên gác, có 18 cửa sổ kể cả cửa sổ ở đầu hồi, với những song sắt tròn và lớn. Lần đầu tiên tôi nhận ra cảm giác sợ hãi khi thấy mình bị khóa chặt trong bốn bức tường đá tảng chật hẹp này! Nhưng sau một ngày dằn xốc và ướt át, chúng tôi cũng có giấc ngủ qua đêm.

Tiếng kẻng đánh thức khi trời mờ sáng, tôi nói với anh Hậu:

"Hậu ơi! Cứ mấy bạn ấy làm sao thì mình làm vậy cho chắc ăn nghe Hậu".

‘Tù mới phải theo tù cũ mà. Cứ thế ta làm thôi".

Nhưng đâu phải cứ tù cũ làm gì thì tù mới làm theo được, chẳng hạn như các bạn tù cũ có để dành nước sáng rửa mặt rửa mũi, trong khi tù mới chúng tôi thì không một ai có lon nước nào cả. Thế là đành phải chờ ra cửa hẵng hay.

Trông thấy các bạn tù cũ ghi danh lia lịa, tôi hỏi:

"Xin lỗi, các bạn ghi danh sách gì vậy? Chúng tôi có cần ghi vào đó không?"

"Chúng tôi ghi bệnh, mấy chú có cần ghi không?"

"Cám ơn. Ba anh em chúng tôi không sao".

Tiếng khóa lách cách ngoài trước. Tiếng réc réc của thanh sắt kéo qua. Cửa mở. Một bạn tù cũ nghe các bạn khác gọi là "buồng trưởng" bước ra trước, đứng đối diện với tên Công An mà các bạn tù cũ gọi là "cán bộ trực trại":

"Bác cáo cán bộ. Buồng 5 tổng số 47, kể cả số mới đến đêm qua. Chờ lệnh cán bộ".

"Ðược. Cho ra".

Thế là từng đôi hai người ra cửa. Ðôi đầu tiên ra đến bờ tường thì đứng lại, chờ hắn đếm xong và đủ mới cho tan hàng.

Nhà bếp đẩy xe nước đến, hai phích nước (x 10 lít) còn nóng vừa để xuống là bà con tù trong buồng giam, nhanh tay lẹ chân đem gô đem ca ra nhận phần nước của mình, do một bạn tù có trách nhiệm "trực buồng giam" phân chia, mỗi người nửa lon gô. Nước thì nóng nhưng không ai biết là nó có sôi hay chưa, với lại đục ngầu, dẫu sao thì cũng có nước đánh răng rửa mặt còn hơn không. Sau khi nhận phần nước xong, bạn nào có ghi tên khám bệnh phải nhanh chân lẹ tay chạy ra "câu lạc bộ" để được bác sĩ khám sơ sơ rồi về nghỉ. Nếu bác sĩ thấy cần cho bệnh nhân ăn cháo thì bác sĩ cung cấp danh sách cho nhà bếp. Bác sĩ nói ở đây cũng là tù chính trị chớ chẳng ai khác, nhưng vì đông quá mà chỉ có thời gian 30 phút để khám hằng mấy chục bệnh nhân của cả trại, nếu không khám sơ sơ thì lấy đâu ra thời gian. Còn thuốc thì dễ lắm, bất cứ bệnh gì cũng chỉ có thứ thuốc duy nhất là "xuyên tâm liên", bác sĩ không cần phải suy nghĩ gì cả. Từ sự kiện cả xã hội chỉ có một thứ thuốc duy nhất cho mọi thứ bệnh, tôi nghĩ là đất Bắc Xã hội chủ nghĩa 20 này không có trường đại học dược khoa, vì đâu có cần bào chế thuốc men gì đâu.

Tiếng kẻng xuất trại vang vang thúc giục mọi tù nhân chính trị lẫn hình sự, ra sân tập họp để bọn Công An trực trại điểm số xuất trại lao động. Khi trực trại cho Ðội nào xuất trại thì "cán bộ quản giáo và võ trang" Ðội đó đến nhận ra cổng. Tôi đứng trên gác đầu buồng giam số 5 nhìn ra sân xem quang cảnh xuất trại lao động mà trước sau gì cũng đến lượt chúng tôi. Sau khi hỏi qua anh bạn trẻ trong toán "trực buồng", được biết vài nét sinh hoạt nơi đây:

Trại này do Công An quản trị và là trại tù chuyên nghiệp chớ không như trước đây do quân đội quản trị. Tổ chức tù chính trị lẫn hình sự gọi là Ðội, mỗi Ðội cũng có quản giáo với võ trang, nhưng hai tên này chỉ quản trị Ðội khi xuất trại lao động, còn khi vào trong trại thì toán Công An trực trại quản trị. Ngoài ra còn có tên Công An quản trị buồng giam trong hệ thống của toán trực trại nữa. Nghĩa là mỗi Ðội tù chịu sự quản trị của 3 hệ thống: Cán bộ buồng giam, cán bộ trực trại, và cán bộ lao động. Chưa hết, còn có cán bộ văn hóa và cán bộ giáo dục chung cho cả trại nữa. Tổ trưởng trực trại lúc ấy là tên Trung Úy Thịnh, mà các bạn tù cũ gọi là "Thịnh khuỳnh" vì lúc đi hai cùi chỏ của hắn khuỳnh ra. Các bạn cho biết hắn là "hắc ám" nhất ở trại này để mà đề phòng khi đối đầu với hắn. Nói chung, tất cả những tên Công An trong "3 nhóm quyền lực" trên đây, đứa nào cũng có quyền chửi bới hành hạ tù cả.

Mỗi buồng giam có một khuôn viên riêng, có khóa cửa hẳn hòi. Như vậy, có 3 lần khóa: Khóa cổng trại. Khóa cổng khuôn viên buồng giam. Và khóa buồng giam.

Khi các Ðội xuất trại xong, hai bạn trực buồng giam dùng đòn gánh khiêng thùng "phân bắc" xuống triền đồi đổ vào cái hộc lớn chứa loại này. Các Ðội trồng rau mà họ gọi là "tăng gia" từ dưới thung lũng lên đó khiêng xuống khu vực trồng rau, cho nước vào quậy tan ra và tưới lên rau trái. Nước tiểu thì chảy theo cái cống nhỏ dẫn xuống hộc chứa cạnh hộc chứa phân bắc. Khi đi cầu, bỏ cả giấy vào cái thùng chứa phân bắc, và vì không có nước để dội nên mùi nước tiểu lẫn mùi hôi phân bắc tràn vào các gian nằm của tù! Riết rồi cũng quen quí vị quí bạn à!

Cơm ăn hằng ngày là độn 100%, hay nói cho đúng là ăn toàn bo-bo mà bọn chúng gọi là "mì hạt". Bo-bo là loại thực phẩm thế giới dành nuôi gia súc, nhất là ngựa. Thức ăn hắng ngày thường là vài lát su hào với mấy cọng rau lênh đênh trong chén nước gọi là canh. Ðội nhà bếp khiêng lên giao các toán trực buồng giam và toán này phụ trách phân chia.

Gần cổng trại có cái giếng rất lớn nhưng rất cạn, cái giếng cạnh buồng giam số 17 & 18, và cái giếng cạnh trước khi đến trạm xá ở cuối một góc trại. Ðó là 3 nguồn nước cho tất cả tù chính trị lẫn tù hình sự lúc ấy vào khoảng 800 người sử dụng. Nhà bếp có giếng riêng.

Ban ngày lẫn ban đêm, khi nói chuyện với nhau phải cẩn thận nhất là ban đêm, vì lính Công An đi tuần tiễu bên ngoài các buồng giam. Ðang nói chuyện với anh bạn trẻ trực buồng giam thì tên quản giáo bước vào:

"Các anh đến chiều qua, khẩn trương ra câu lạc bộ làm thủ tục".

Gần 200 Ðại Tá từ buồng giam số 5, 15, và 16, ra gian nhà xiêu vẹo mà họ gọi là câu lạc bộ, ngồi trên các thanh gỗ gác trên nền mặt xi măng loang lổ, một lô Công An cả nam lẫn nữ ngồi trên các băng dài. Tên Công An Trại Trưởng nghe như tên là Xuyên, với hàm răng hô hết tầm mức, đứng sau bục gỗ nói oang oang: Nào là Việt Nam ta anh hùng, dân tộc ta anh hùng, chủ nghĩa xã hội là khoa học, là ưu việt, ngọn cờ Mác Lê là bách chiến bách thắng, ..v..v… Thật ra trong vài năm qua, đây là thứ bài bản mà từ tên ngồi trên chót vót xuống đến tên quản giáo quèn, đều học thuộc lòng để phun ra với những ai trước mặt như tù chính trị chúng tôi hôm nay chẳng hạn. Ðến đoạn cuối, hắn ra lệnh:

"Ðể sớm có tiến bộ, các anh phải chấp hành mệnh lệnh của cán bộ đây (vừa nói hắn vừa chỉ vào mấy tên Công An đứng cạnh). Các anh phải gọi các sĩ quan và chiến sĩ là cán bộ. Các đồng chí này trẻ tuổi, nhưng đầy đủ phẩm chất và đạo đức cách mạng, để giúp các anh học tập và lao động tiến bộ. Khi muốn báo cáo với cán bộ, các anh phải đứng xa 6 mét. Ðó là lệnh, các anh phải chấp hành cho tốt".

Hắn nói xong, dù muốn hay không muốn, tù chính trị cũng phải vỗ tay vì hắn vỗ tay trước, rồi đám Công An vỗ tay theo. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, các cấp lãnh đạo lớn nhỏ của họ, mỗi khi phun xong một đoạn trong bài bản thuộc lòng nào đó thì ngưng lại và tự họ vỗ tay trước, cử tọa buộc lòng vỗ tay theo. Lại phun tiếp.

Ðến thủ tục bàn giao tù, hồ sơ, và những gì mà chúng tôi buộc phải ký gởi lúc ở trại tập trung Yên Bái. Riêng thuốc tây thì họ hoàn lại cho từng người tự cất giữ. Ba con bé Công An tuổi khoảng 19-20, mỗi đứa một chồng hồ sơ, gọi từng người mà tôi là trường hợp điển hình để ghi lại đây:

"Phạm Bá Hoa".

"Có". Nói xong là đứng dậy đến trước mặt con bé trông khá sạch sẽ.

"Anh tên gì?"

"Phạm Bá Hoa".

"Năm và nơi sinh?"

"1930, tại Sóc Trăng?"

"Sóc Trăng ở đâu?"

"Sóc Trăng ở Sóc Trăng".

"Anh không được đùa trước mặt tôi. Sóc Trăng ở đâu?"

"Sóc Trăng ở Miền Tây".

Con bé nhìn tôi với nét mặt hầm hầm:

"Tôi muốn biết ở Nam Bộ hay Trung Bộ?"

"Sóc Trăng ở miền Nam".

"Cấp chức?"

"Ðại Tá. Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu".

"Ngày bị bắt?"

"Tôi trình diện chớ không bị bắt".

"Trình diện hay bị bắt cũng vậy thôi. Ngày nào?"

"Ngày 14 tháng 6 năm 1975".

"Ðịa chỉ trước khi bị bắt?"

"X 12, cư xá Bắc Hải, Phường 25, Quận 10, Sài Gòn".

Trở lại chỗ ngồi, chờ con bé Công an tóc dài nghe như tên Nguyệt, phụ trách kiểm nhận những gì chúng tôi ký gởi:

"Phạm Bá Hoa".

"Có".

"Ðồ vật anh đăng ký gồm những gì?"

"Một đồng hồ đeo tay hiệu Longines, và một chiếc nhẫn vàng 24, nặng một chỉ".

"Anh kiểm lại có đúng không?" Cô ta đưa cái túi nhỏ cho tôi. Cái trục đồng hồ tôi đã làm gãy khi ở trại tập trung Tân Hiệp đã bị mốc màu xanh:

"Ðúng là của tôi".

"Anh còn trong đăng ký bao nhiêu tiền?"

"35 đồng hoặc sai biệt chút ít".

"Anh còn 34 đồng rưỡi". Con bé đưa tôi Phiếu Gởi Ðồ Vật và Phiếu Lưu Ký tiền.

Khi tất cả chúng tôi gọi là làm thủ tục xong, về buồng giam thì anh bạn trực buồng đã chia cho nửa ca bo-bo, mấy lát su hào, với một muỗng nước muối. Ở đây không cho ăn muối hột mà là ăn muối nước. Bữa ăn bo-bo đầu tiên cảm thấy không đến nỗi ghê sợ vì nó ngòn ngọt, tuy là nhai có phần mỏi quai hàm. Anh bạn trẻ bèn chìa kinh nghiệm ra liền:

"Mấy chú mới ăn bữa đầu như vậy đó, chỉ vài hôm thì mấy chú sẽ biết thế nào là bo-bo nguyên võ".

"Nó làm sao anh bạn?"

"Khi đi cầu thì chú biết liền".

Thật ra chẳng phải vài ngày gì cả mà ngay sáng hôm sau, khi ngồi bên trên cái thùng đựng phân người. Trời đất ơi, cái hậu môn đau kinh khủng, vì lớp võ lụa còn nguyên nên nó làm rách hậu môn và rỉ máu, đến mức miếng giấy đỏ lòm khi lau nó. Mấy anh bạn trẻ đã "thưởng thức thứ mì hạt xã hội chủ nghĩa" khá lâu nên từng trải thế nào là "nhẩy nhổm" khi thải cái mớ võ đó ra ngoài. Các bạn tù trẻ ăn từng hột bo-bo bằng cách dùng cây tăm xỉa răng ghim từng hột cho vào miệng. Ăn như vậy vừa nhai kỷ vừa kéo dài

bữa ăn để được sống trong ảo giác là mình được ăn nhiều. Nhưng với các anh "chưa mọc răng đầy đủ" (đã nhổ nhiều răng) là khốn khổ như anh Trương Ðình Liệu hay anh Nguyễn Hòa Phùng chẳng hạn, phải nghiền nát mới nuốt được.

Ngay chiều ngày thứ hai tại trại tập trung Nam Hà, chúng tôi phải bày ra tất cả những gì mang theo mà họ gọi là "tư trang" để tên quản giáo buồng giam tên Phụ, kiểm soát. Nói cho đúng là tên Phụ đứng nhìn hai tên tù hình sự lục soát chẳng sót món nào. Anh nào có 3 cái lon gô trở lên là nó chỉ để lại 2 cái thôi. Tôi có 6 sợi dây dù khá dài, tên quản giáo lấy luôn. "Cai tù" ở đây chúng nó nghèo lắm, thấy thứ gì của anh em chúng tôi coi được được là nó lấy với lý do:

"Những thứ này các anh không được giữ vì nội qui cấm".

"Cán bộ cho tôi lại 2 sợi để đi rừng lấy củi".

"Không được".

Vậy là ngay chiều hôm nay, hắn đã trấn lột chúng tôi một số đồ tuy không đáng giá bao nhiêu, nhưng những người tù chúng tôi rất cần, như: cái cắt món tay, lưỡi lam cạo râu, cây đèn bấm nhỏ, ..v..v.. Nhớ lại bọn cán bộ với bộ đội trại Tam Hiệp đã trấn lột khá nhiều đồ dùng của chúng tôi, trại tập trung Yên Bái lại trấn lột lần hai, bây giờ bọn Công An trấn lột nữa. Một bạn trẻ -tù cũ- nghe tôi nói trỏng với cái giọng căm tức, anh ta nói theo:

"Mấy chú sẽ còn bị trấn lột nhiều lần nữa chớ không phải chỉ có 3 lần đâu. Ở đây thỉnh thoảng bọn họ bảo mình mang ra cho nó xét. Món gì nó vừa ý là không sớm cũng muộn bị chúng nó lấy thôi".

"Các bạn bị chúng nó xét mấy lần rồi?"

"Cháu ra đây năm 1976, chưa được hai năm mà bị chúng nó lục xét tịch thu 6 lần rồi. Mỗi lần chúng nó tịch thu một ít. Cả bọn họ cùng một phe trấn lột, nên chú đừng hòng báo cáo mà mất công, có khi mình còn bị chụp mũ là nói xấu cán bộ thì đủ thứ phiền hà chú ơi".

Bo-bo tối xong. Vào mùng. Tôi nói khẽ với anh Huỳnh Thanh Sơn:

"Anh Sơn. Hồi sáng tôi trả lời con nhỏ Công An là tôi trình diện chớ không phải bị bắt, nó nói bị bắt hay trình diện cũng vậy thôi. Ðiều này làm tôi kiểm lại từ ngày đầu: "Từ lúc mình được giữ tiền giữ áo quần cũng như đeo đồng hồ đeo nhẫn, đến chỗ phải móc ra trao cho chúng nó giữ. Từ cách xưng hô gọi chúng nó bằng anh đến gọi chúng nó là cán bộ với bộ đội, bây giờ nó bắt mình phải gọi tất cả chúng nó từ sĩ quan xuống đến lính đều là cán bộ. Từ khoảng cách mỗi khi tiếp xúc như thế nào cũng được, bây giờ phải đứng xa 6 thước. Từ chỗ không đóng cửa đến nay thì 3 lần khóa, khóa cổng trại, khóa cửa khuôn viên, khóa cửa buồng giam. Từ 30 ngày đến 3 năm, và bây giờ chẳng biết là mấy lần 3 năm nữa. Rõ ràng là chúng nó càng lúc càng đẩy chúng mình vào ngõ hẹp đường cùn, anh Sơn hả?"

"Tụi này dã man lắm! Không có điều gì tin được tụi nó cả. Ngẫm nghĩ mà ông Thiệu nói một câu để đời: Ðừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm".

"Trong thế giới cộng sản, tôi nghĩ, không có cộng sản nào lưu manh hơn cộng sản Việt Nam đâu anh".

Có tiếng bọn Công An đi tuần bên ngoài, tôi vội chuyển sang chuyện khác:

"Hậu ơi, Hậu. Mình nghe nói trại Nam Hà này có đến 3 hay 4 trại chớ không phải chỉ có trại này không đâu. Bạn có nghe vậy không".

"Hồi chiều tớ nghe nói phía trong trại này có trại B, ngược ra phía ngoài có hai ba trại nữa, nhưng tớ chẳng biết nó nằm ở đâu nữa. Còn trại nhốt tụi mình đây là trại Nam Hà A".

Ngày kế tiếp, trong khi đang học nội qui có một tên Công An bước vào, tên quản giáo buồng giam giới thiệu là cán bộ giáo dục của trại. Hắn bảo chúng tôi ghi địa chỉ của trại để viết thư về gia đình: "25A-TD63/NH-Hà Nam Ninh". Mỗi tháng viết thư một lần, mỗi ba tháng được nhận một gói bưu phẩm tối đa 5 kí lô. Trên bưu phẩm phải dán phiếu do trại phát mới được nhận. Ðến chiều, chúng tôi mới biết hắn tên Niệm, dường như là Thiếu Úy. Vợ hắn cũng là Công An trại này, tên là Vường(không phải tôi viết sai đâu).

Tuần sau đó, 27 anh em chúng tôi từ buồng giam số 5 chuyển xuống buồng giam số 15 chung với các bạn từ Yên Bái xuống đây. Tôi nhập vào Ðội 30, do anh Trần Công Liễu (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân) là Ðội Trưởng. Sau hai ngày trong toán quét vôi tường buồng giam, tôi nhập vào nhóm "thợ hồ" xây tường rào bằng đá tảng để "rào mình rào bạn". Tôi có biết thợ hồ là gì đâu, nhưng khi đang quét vôi, tên Ổn -quản giáo buồng giam- ra lệnh cho anh buồng trưởng Nguyễn Ðức Khoái: (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân)

"Anh chuyển cái anh đội nón trắng (vừa nói hắn vừa chỉ tôi) sang tổ thợ nề từ ngày mai".

Thế là tôi thành thợ hồ từ ngày đó. Trong Nam gọi là thợ hồ thì ngoài Bắc gọi là thợ nề. Còn hồ thì họ gọi là vữa. Hồ để xây tường chỉ là "chạc" trộn với vôi thôi. "Chạc" là loại đá xanh còn non, cứ dùng cuốc chim cuốc vào đá non sẽ có chạc giống như loại sạn trong Nam. Vì hồ chỉ có thế, cho nên khi xây vách nhà xong phải để hai ba tháng mới đủ cứng để làm tiếp những công tác khác.

Học chính trị.

Chỉ mới xây xong nền nhà ăn thì 4 Ðội cấp Ðại Tá chúng tôi được lệnh chuẩn bị học chính trị, do Bộ Công An từ Hà Nội xuống dạy.

Tại trại A này rất đông viên chức cao cấp và một số sĩ quan cấp Tá trong ngành Cảnh Sát, đã chuyển từ Sài Gòn ra đây năm 1976, tôi chỉ mới tiếp xúc được với cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc, các vị cựu Nghị Sĩ Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Ngọc Mân, Trần Ngọc Oành, Hoàng Xuân Tửu, cùng vài vị cựu Bộ Trưởng, cựu Ðại Sứ, ..v.. v.. Các vị này khi đến đây đã qua lớp học tập rồi.

Nơi tập trung những buổi "lên lớp" là cái hội trường xiêu vẹo ven triền núi, gần nhà tên Trung Tá trại trưởng. Suốt một tháng gọi là học tập tại hội trường và "thảo luận" tại buồng giam, chẳng qua là toán Công An Hà Nội xuống cũng chỉ những lời lẽ kiêu ngạo, nào là nước nhỏ dám đánh và thắng nước lớn, Việt Nam là đất nước anh hùng, xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là vĩnh viễn trên đất Việt Nam, xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa của thời đại, độc lập dân tộc với xã hội chủ nghĩa là hai ngọn cờ mà đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn giương cao, và giữ vững trong cuộc đấu tranh ai thắng ai, ..v..v.. Hết ưu việt, họ quay sang cái gọi là chính sách khoan hồng nhân đạo, chẳng hạn như "được tập trung cải tạo" là chứng tỏ đảng với nhà nước quan tâm và bảo vệ sinh mạng trước sự căm thù của nhân dân. Ðến khi phần quảng cáo cạn lời, họ chuyển sang phần dao to búa lớn cái gọi là phát triển đất nước, nào là cả nước sẽ tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, nào là đến năm 2000 thì Việt Nam sẽ ngang hàng với nước Pháp và nhiều quốc gia khác, vì Việt Nam đã có "búa đập 1.000 tấn" biểu tượng của nền công nghiệp nặng, nào là ..v.. và Nói chung là những ngày "lên lớp", tên Công An mà họ gọi là giảng viên luôn luôn bắt đầu bằng một loạt "quảng cáo" về xã hội chủ nghĩa, như là bức tranh tuyệt mỹ do chế độ độc tài dựng nên trong vòng 25 năm cuối của thế kỷ 20, đại loại cũng giống như bức tranh mà ông Hồ đã vẽ cho những thế hệ công dân nước Việt Nam Dân Chủ cộng Hòa từ năm 1930 khi thành lập đảng cộng sản vậy, mà rốt cuộc đến năm 1975 thì xã hội dưới quyền cai trị của họ không hơn xã hội đồng bào thiểu số Cao Nguyên Miền Trung bao nhiêu! Bằng chứng là quân lính cũng như hàng trí thức của họ vào Sài Gòn, ngây ngô ngốc nghếch ngờ nghệch ngớ ngẩn chẳng khác những con người từ trong rừng sâu lần đầu tiên vào thành phố. Vậy là bức tranh xã hội ưu việt của ông Hồ vẽ ra để vuốt ve dụ dỗ những thế hệ "cháu ngoan" của ông, để rồi ông đẩy họ lăn xả vào chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, với kết quả mà đại hội đảng cộng sản lần thứ 4 của họ hồi năm 1976, đã đưa ra con số thống kê với hằng chục triệu thanh niên đã bỏ xác dọc hành lang Trường Sơn, là bằng chứng mà những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam không thể phủ nhận trước lịch sử.

Sau 4 bài học, tên giáo viên đòi hỏi tù chính trị phát biểu cảm nghĩ về các bài học và cả ngoài bài học nữa. Hắn nói rằng:

"... Chúng tôi sẵn sàng nghe các anh và trả lời các anh nếu thấy cần thiết. Muốn được như vậy, các anh phải đưa câu hỏi chúng tôi xem trước..."

Trong câu nói của hắn có hai vế. Vế thứ nhất là hắn "sẵn sàng trả lời", nhưng vế thứ hai thì hắn nói "nếu thấy cần thiết". Vừa mở là đóng lại ngay. Ðiều đó dẫn đến suy đoán, những câu mà tù chính trị đề cao cái chế độ cộng sản độc tài thì hắn sẽ giải thích thêm, bằng ngược lại thì hắn liệng vào sọt rác.

Ngay lúc đó, cựu Ðại Tá Phan Xuân Nhuận đưa tay xin phát biểu, và tên giảng viên chấp nhận. Cũng cần nói qua một chút về ông Nhuận trước khi nghe ông nói. Ông thăng cấp Chuẩn Tướng ngày 14 tháng 7 năm 1964, và giữ chức Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân. Ngày 10 tháng 3 năm 1966, ông được cử giữ chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh ngay trong ngày Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I. Nhưng sau cuộc khủng khoảng chính trị do cách chức Trung Tướng Thi, ngày 7 & 8 tháng 9 năm 1966, Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt đã giáng cấp ông từ Chuẩn Tướng xuống Ðại Tá, và giải ngũ bắt buộc, vì ông đứng hẳn trong thành phần chống đối trung ương. Hội Ðồng đã nghe phát lại từ băng cassette do tổng đài điện thoại Cộng Hòa thu cuộc nói chuyện giữa ông với Thượng Tọa Thích Trí Quang.

Bây giờ mới quí vị quí bạn nghe ông Nhuận phát biểu, và được tên giảng viên chấp nhận. Ðây là một đoạn lời lẽ của ông Chuẩn Tướng bị giáng cấp:

"Thưa Ban Giám Thị, thưa các cán bộ, thưa các anh em. Trước khi phát biểu cảm nghĩ, tôi xin giới thiệu "tôi là ai?"

Ðến đây ông phải ngưng lại vì hầu hết anh em tù chính trị chúng tôi cười ồ lên. Chờ im lặng ông mới phát biểu tiếp:

"Tôi là Tướng Lãnh của chế độ ngụy, tôi bất mãn chế độ nên tôi chống đối chúng và chúng đã giáng cấp tôi, rồi buộc tôi về hưu..." Ông phải ngưng lại lần nữa, bởi tiếng cười tiếng nói của anh em chúng tôi trong hội trường át hẳn âm thanh của ông, đến mức đám Công An bao quanh phải hét lên bảo giữ trật tự. Suốt từ đầu đến cuối phần phát biểu của ông Nhuận, toàn là đề cao chế độ cộng sản mà ông Nhuận gọi là cách mạng. Cuối cùng ông nói:

"Tôi rất an tâm học tập cải tạo để sớm có ngày đoàn tụ với gia đình".

Không ai đưa tay xin phát biểu, hắn cũng không chỉ định ai nữa, nên hắn nói:

"Chúng tôi nghĩ là các anh, anh nào cũng có phần tâm tư tình cảm riêng, lo nghĩ về vợ con. Ðiều đó cũng là thông thường. Chỉ những anh nào cho rằng mình an tâm thì tôi cho là không bình thường".

Anh Ðại Tá Nguyễn Kim Tây (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân) đưa tay xin phát biểu, và hắn chấp nhận:

"Thưa cán bộ. Tôi hoàn toàn an tâm về mặt vợ con. Tôi không lo nghĩ gì cả. Vì vậy mà câu của cán bộ vừa nói không đúng với trường hợp của tôi".

Hắn hỏi lại: "Anh không không lo nghĩ gì về gia đình à?"

"Ðúng".

"Tại sao?"

"Tôi còn độc thân".

Ðúng là anh Tây chưa lập gia đình, nhưng bạn bè vẫn cười râm ran vì thấy anh Tây chọc quê thằng Công An giảng viên.

Hắn hỏi với giọng gay gắt: "Anh bao nhiêu tuổi?"

"Tôi 45 tuổi".

"Ngần ấy tuổi mà chưa có vợ, chứng tỏ là anh rất trung thành với chế độ ngụy, hi sinh cho chế độ ngụy đến mức vẫn độc thân".

Bị chọc quê, hắn bèn mắng anh Tây một trận. Thế nhưng "bị" mắng mà cả anh Tây lẫn các bạn cùng cười, nhưng lúc ấy cười chúm chím chớ đâu dám cười thành tiếng, hắn mà biết anh em chúng tôi cười vào mặt hắn thì lắm thứ rắc rối xảy ra chớ không yên được với bọn họ đâu.

Khai báo.

Ðến đấy là xong phần "học tập chính trị". Nhưng với bọn Công An trại giam chuyên nghiệp này, sau đợt học tập là viết "bản tự khai" để chứng tỏ là đã thông suốt cái gọi là "chính sách khoan hồng nhân đạo" và tin tưởng vào điều mà bọn họ gọi là chủ nghĩa xã hội. Do đó mà phần tiếp theo là chúng tôi -tất cả cấp Ðại Tá từ trại tập trung Yên Bái chuyển đến- phải khai báo qua những trang giấy. Trước khi họ hướng dẫn khai báo, một tên Công An tầm thước trung bình, mặt rỗ hoa mè, dường như tên là Thịnh (không phải Thịnh khuỳnh của trại Nam Hà) lên bục gỗ:

"… Sau chuyến công tác, tôi vừa từ trong Nam về. Tôi thấy rằng, gia đình các anh rất mong đợi ngày về của các anh. Ðiều đó cũng đúng thôi. Vậy thì các anh nên khai báo cho đầy đủ, cho thật tốt, Tôi hẹn rằng, một ngày gần đây tôi sẽ gặp các anh tại thành phố HCM. Chúc các anh mạnh khỏe và khai báo cho tốt".

Ðánh đúng tâm lý của tù chính trị dù là hắn nói rất ngắn, nên chúng tôi đã chào hắn bằng tràng pháo tay khá dài. Khi ra đến cửa, hắn còn quay lại vẫy tay và lặp lại lời hẹn lúc nãy nữa chớ. Trong một chừng mực nào đó, một số anh em chúng tôi có phần tin hắn, một số khác thì dè dặt và cẩn trọng hơn, nghĩa là không tin cũng không bác bỏ hoàn toàn, và một số khác nữa thì bác bỏ ngay lời của hắn. Tôi kề tai anh Lễ:

"Anh thấy sao Lễ?"

"Thằng này khi nó cười trông cái mặt nó đểu hết biết".

Anh Ðặng Văn Hậu chen vào:

"Hắn nói cứ như thật ấy, nhưng cái mặt nó trông khó ưa làm sao á".

Tôi tiếp lời:

"Tôi thì đơn giản thôi. Ðã là cộng sản thì không có thằng nào tin được cả. Hai bạn cứ nhớ lại xem, chúng nó tuyên truyền mình học tập 30 ngày, rồi tăng lên 3 năm. Thằng nào cũng nói cách mạng biết hết những việc chúng mình làm, nhưng chúng nó nói muốn thấy mình khai báo thành thật để chúng nó khoan hồng, mà thật ra là để chúng nó buộc tội như trường hợp hai anh Thiếu Tá bị chúng nó bắn ở trại Tam Hiệp (Biên Hòa) đó.... "

Nói đến đây thì tên Công An hướng dẫn khai báo bước vào nên cả hội trường không còn tiếng ồn ào nữa. Theo hướng dẫn, mọi người phải ghi chép cái mẫu khai báo gồm 34 điểm trong ba phần khác nhau:

Phần một là lý lịch bản thân.

Phần hai là dòng họ ông bà nội, dòng họ của hai bên cha mẹ, anh chị em ruột, và vợ con. Những người thân trong dòng họ từ ông bà nội trở xuống dù có chết cũng phải khai trước khi chết, như: Nghề nghiệp, chỗ ở, tại sao chết? Mục đích là để chúng nó xem những người chết có phải trong quân đội Pháp hay quân đội Việt Nam Cộng Hòa không, để từ đó chúng nó trừng phạt những con cháu. Lúc ở trại tập trung trên Yên Bái, anh cộng sản từ trong Nam tập kết ra Bắc năm 1954 là Thượng Úy Toản, đã nói đến điều này và dặn đừng bao giờ khai báo sự thật, vì chúng nó sẽ căn cứ vào đó để kết tội người khai báo.

Và phần ba là khai báo bản thân từ lúc sinh ra cho đến lúc ngồi viết khai báo. Phải khai từng năm một bao gồm: Ở đâu? Làm gì? Kết quả của việc làm? Khai cả những cô bạn học, bạn gái bạn trai, và khai về mỗi người cũng đúng theo cái khung khai về bản thân mình.

Tôi lại kề tai anh Lễ -chúng tôi thân nhau từ lâu- và ngay trong lúc này lại ngồi cạnh nhau:

"Anh thấy chúng nó truy lục toàn bộ gia phả của mình không. Lại còn truy lục mọi góc cạnh tình cảm của mình nữa. Giống y như một đoạn mà tôi đã đọc trong "Bóng Cờ Hồng Trên Ðất Trung Hoa" hồi năm 1970 khi học ở Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Cao Cấp ở Ðà Lạt vậy. Ruột gan mình nó hổng moi được ngay bây giờ, nếu moi được là chúng nó cũng hổng chừa đâu. Thứ gì chúng nó cũng nắm hết. Ðộc quá sức!"

Chỗ ngồi viết là tại buồng giam số 15, số 16, và trong gian nhà xiêu vẹo mà chúng nó gọi là "câu lạc bộ". Tôi trong Ðội 30 viết khai báo tại câu lạc bộ. Mỗi người nhận 20 tờ giấy đôi có gạch ô vuông, viết chấm mực, và mực. Hết giấy hết mực thì lãnh tiếp.

Tôi nghe các bạn trẻ kể lại là các viên chức cao cấp trong Chánh Phủ, trong Quốc Hội, và các sĩ quan Cảnh Sát cấp Ðại Tá đến trại tập trung Nam Hà này trước chúng tôi, đã viết khai báo rồi. Có người viết đến 500 trang như Thiếu Tướng (Nghị Sĩ) Huỳnh Văn Cao chẳng hạn. Có người còn viết nhiều hơn nữa. Vài anh em chúng tôi thắc mắc: "Không biết các ông ấy khai báo gì mà đến mấy trăm trang giấy".

Phần đầu thì viết dễ thôi, vì là lý lịch của bản thân mà chúng nó gọi là "lý lịch trích ngang". Với lại trong 3 năm qua, mỗi người chúng tôi phải khai đến vài chục lần chớ không ít, vì bất cứ tên nào cũng bắt tù chính trị chúng tôi khai lý lịch cả. Chúng tôi đâu có biết tên nào có quyền tên nào không có quyền mà nghe lời hay phản đối, thôi thì cứ viết cho yên thân.

Phần gia phả là phải vò đầu bóp trán cả ngày để lục lọi trong trí nhớ xem từng ông bà cô bác tên gì, bao nhiêu tuổi, vì trong gia đình cứ gọi Ông Ba Bà Tư ..v...v.. chớ có bao giờ biết tên. Còn tuổi thì áng chừng từ người nhỏ nhất trở lên, từ đó làm chuẩn để "ấn định" tuổi của những ông bà lớn hơn. Cứ mỗi người lớn hơn thì cộng thêm hai hay ba tuổi, và cứ thế mà khai. Chưa hết, nếu như ông bà cô bác đã chết phải khai vì lý do gì mà chết nữa chớ. Chỉ có cách "gắn đại" cho cái bệnh gì đó như rắn cắn, té sông, sụp hầm, leo cây bị gãy nhánh, bất đắc kỳ tử, ..v.. v.., miễn là đừng chết vì tham gia chánh quyền hay quân đội thì tránh được phiền toái. Có đêm nằm nghĩ lại những gì mình khai mà phát cười. Thuở đời nay con cháu mà dám cả gan "đặt tên rồi ấn định" tuổi cho ông bà cô bác, lại còn cho "gắn" cho cái bệnh để chết theo ý muốn nữa. Nếu không khai báo theo cách đó thì tên cán bộ tuổi mới 20 nó mắng nghe đến nổ lỗ tai chớ vừa đâu. Chẳng hạn như:

"Anh là cháu mà không biết tên tuổi của ông bà à? Từ nhỏ đến lớn anh cũng không hỏi xem ông bà cô chú của anh chết vì bệnh gì à? Cái thứ con cháu như các anh là cái thứ mất gốc, chỉ biết đế quốc thôi".

Tức quá, tôi trả lời: "Ở trong Nam chúng tôi chẳng bao giờ các cơ quan hành chánh hay quân đội đòi hỏi lý lịch như vậy, nên chúng tôi chẳng ai hỏi ông bà cô bác đến những chi tiết ấy cả".

"Tại anh không dám khai thật đấy".

"Báo cáo cán bộ, tôi thấy chẳng có gì phải giấu cả. Dường như cán bộ xem đó là điều quan trọng thì phải?"

"Lý lịch mà không quan trọng à!"

"Trong chế độ của chúng tôi thì khác cán bộ à! Các cơ quan chỉ cần biết bản thân chúng tôi là đủ. Vì nền hành chánh của chúng tôi tổ chức dựa trên "quan niệm tin tưởng", nên căn cứ vào lời khai của mỗi người là đủ. Trường hợp công dân nào lợi dụng lòng tin đó mà vi phạm luật pháp thì luật pháp trừng phạt".

Hắn im lặng một lúc rồi gằn giọng: "Ðừng có lý luận nữa. Tiếp tục đi".

Ðến phần thứ ba mới là phần chánh. Trong phần này phải khai báo từ lúc sinh ra, lớn lên, đi học, làm những việc gì, kết quả của những việc làm đó, ..v..v.. Chỉ trong cái đoạn từ năm 1930 đến năm 1939, mà hắn sỉ vả bảo viết lại đến lần thứ 3 hắn mới chấp nhận. Quí vị quí bạn nghĩ xem, từ lúc chào đời đến khi 9 tuổi thì nhớ được cái gì để viết. Hắn lên giọng:

"Tại anh không đặt mình vào thời điểm ấy mà viết, chẳng lẽ anh không làm gì được cho ba má anh à?"

"Báo cáo cán bộ, tôi đâu phải là thần đồng mà khi chào đời đến lúc 9 tuổi, xin lỗi cán bộ nghe, cái tuổi ấy tắm không mặc quần thì làm sao biết mọi việc trên đời cũng như làm được bao nhiêu việc giúp Ba Má tôi để mà viết".

Cái mặt hắn đỏ lên, hắn quát: "Anh lý luận cái kiểu ấy với tôi hả?

"Không. Tôi chẳng lý luận gì cả, tôi chỉ nói với cán bộ những sự thật trong cuộc sống của tôi thôi".

Hắn trừng mắt nhìn tôi. Im lặng. Hắn ra ngoài.

Anh Lễ khều tôi:

"Coi chừng nó nhốt anh à. Thôi, đừng có đấu với nó không có lợi đâu".

"Tôi biết chớ. Lúc nãy tôi muốn hỏi hắn chớ từ lúc sinh ra đến khi 9 tuổi hắn đã làm được gì cho ba má hắn. Nhưng tôi giữ lại được, để chuyển qua câu tôi không phải thần đồng đó".

Khoảng nửa giờ sau hắn quay lại: "Sao anh không viết?"

Bỗng dưng hắn dịu giọng một cách lạ thường, cứ như không có chuyện gì xảy ra trước đó cả!

"Báo cáo cán bộ, tôi cố nhớ lại những gì xảy ra trong đời tôi thuở ấy, nhưng vẫn chưa nhớ được điều gì nên chưa thể tiếp tục".

"Tôi cho anh suy nghĩ 30 phút nữa rồi viết tiếp".

Cuối mỗi ngày, viết được bao nhiêu thì đưa hắn bấy nhiêu, nếu đoạn nào hắn cho là "không đạt yêu cầu", sáng mai hắn bảo viết lại sau một hồi sỉ vả. Mỗi lần như vậy, tôi phải vẽ vời để viết theo điều mà hắn gọi là "đạt yêu cầu", ấy vậy mà hắn chấp nhận. Nghĩa là viết thật thì hắn cho là "không đạt yêu cầu", còn tưởng tượng ra để viết thì hắn cho là "đạt yêu cầu". Ðiển hình là khi tôi viết về cô bạn học thời sơ học với cái bằng "Việt Nam Sơ Ðẳng Tiểu Học Văn Bằng", cô tên là Yến, mãi 8 năm sau mới gặp lại trong một dịp tình cờ ở Sài Gòn. Hắn hỏi với chút châm biếm:

"Anh không tình tự gì à?"

"Trời đất ơi! Tám chín tuổi mà tình tự gì cán bộ".

"Không. Tôi không hỏi anh lúc tám chín tuổi, mà tôi hỏi anh khi gặp lại cô bạn học của anh. Sĩ quan ngụy của anh chỉ biết tình tự ăn chơi chớ biết làm gì".

"Lúc ấy tôi vừa đi làm vừa đi học chớ chưa vào quân đội. Mà có vào quân đội đâu phải chỉ có tình tự ăn chơi như cán bộ nói. Chẳng lẽ chúng tôi chỉ ăn chơi mà hơn 20 năm cán bộ mới vào được Sài Gòn sao".

Hắn quát: "Tôi không chấp nhận cái lối lý luận của anh. Viết tiếp đi, đừng có lôi thôi mà có chuyện".

Hắn dọa tôi đó. Và đây là một đoạn vẽ vời của tôi mà hắn chấp nhận:

"... Quê tôi, tên gọi là Ðại Ngãi (tỉnh Sóc Trăng), gối đầu lên bờ Nam Sông Hậu, duỗi mình trên cánh đồng trĩu hạt vụ mùa. Cạnh đó là dòng sông hai mùa mặn ngọt. Người người rất hiền hòa bên nhau trong nghề hạ bạc (đánh bắt cá) và đồng áng. Tôi được chào đời trên vùng đất xa thành thị nhưng gần gũi tình người ấy...."

Ðến đoạn tiếp theo, tôi lại viết theo cách khai báo chớ không viết theo lối viết văn. Hắn lại mắng:

"Anh đùa với tôi hả? Anh viết kiểu gì lạ vậy?"

"Tôi viết theo khai báo như tôi đã khai báo ở các trại trong Nam cũng như các trại trên Hoàng Liên Sơn chớ đâu có kiểu gì lạ cán bộ".

"Ở đây khác. Anh phải trộn lại và viết theo thời gian. Anh là người sử dụng nhiều giấy nhất mà chẳng viết được gì cả".

"Cán bộ nói như vậy, có nghĩa là tôi viết như viết văn phải không?"

Hắn im lặng một lúc: "Không văn vẻ gì hết, anh cứ viết theo lời tôi bảo".

Thế là tôi dựa theo một số sự kiện có thật rồi tiểu thuyết hóa nó trong khai báo. Chuẩn bị cho bài viết bằng cách mỗi đêm ôn lại những sự kiện, rồi lọc ra một số sự kiện mà tôi cho là có tác dụng chung chung nói lên tinh thần dân tộc để hôm sau viết. Ðiển hình như sự kiện Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không chấp nhận sự có mặt các căn cứ quân bộ chiến Hoa Kỳ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, để giữ uy tín Việt Nam trên chính trường thế giới. Sự kiện Quốc Trưởng Nguyễn Khánh kêu gọi quân viện chỉ để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa, chớ không có kế hoạch đánh ra Bắc. Sự kiện khi quân bộ chiến các quốc gia đồng minh hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, cũng chỉ góp sức bảo vệ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong chiến lược "can gián mực thước" hay "chiến tranh không cần thắng" mà thôi. Cách trình bày của tôi để họ thấy quân đội của họ có mặt trên chiến trường Việt Nam Cộng Hòa trước khi quân đội đồng minh có căn cứ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện những chiếc tàu của họ chở vũ khí đạn dược từ Hải Phòng, men theo hải phận quốc tế rồi xâm nhập vào hải phận Việt Nam Cộng Hòa, đã bị đánh chìm tại cửa sông Bồ Ðề (An Xuyên), cửa Ba Ðộng (Vĩnh Bình), Vũng rô (Khánh Hòa-Phú Yên) ..v..v.. Tôi cố tình khen cuốn phim "Lửa Hận Rừng Dừa" của họ (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) sản xuất mà tôi đã xem tại Bộ Tổng Tham Mưu. Ý của tôi là để chứng minh những chiếc tàu của họ thật sự bị đánh chìm, và nhiều tài liệu phim ảnh bị tịch thu đưa về Trung Tâm Hỗn Hợp Việt Mỹ Khai Thác Tài Liệu. Tôi cũng tóm tắt tin tức về mấy ngàn bộ xương của đồng bào Huế/Thừa Thiên đã phát hiện từ nhiều mồ chôn tập thể, sau trận tấn công của họ trong Tết Mậu Thân đầu năm 1968. Nhiều phóng viên cơ quan truyền thông quốc nội quốc tế, đã có nhiều bài viết cùng với những thước phim tài liệu phổ biến đến khán thính giả khắp nơi trên thế giới.

Gặp phái đoàn Pháp.

Tháng 7 năm 1978, một buổi sáng, chúng tôi rất ngạc nhiên là buồng giam 15 và 16 (nhốt tù chính trị cấp Ðại Tá) vẫn bị khóa kín mà thường ngày đã được mở để viết khai báo. Nhìn theo ánh mặt trời, tôi áng chừng đã quá 8 giờ (vì đồng hồ của chúng tôi đều do trại giữ), lúc ấy cửa mở nhưng chỉ cho 16 người ra khỏi buồng, trong số này có tôi. Nhưng tên Công An an ninh của trại -Thiếu úy Thung- bảo tôi đứng lại trên hành lang nhỏ hẹp từ buồng giam 15 ra sân trại, mặt có phần hung tợn trong khi tay hắn chỉ vào mặt tôi và gằn giọng:

"Tôi nói cho anh biết, một lát nữa có một đoàn khách nước ngoài đến tham quan trại, họ muốn gặp một Ðại Tá ngụy từng làm việc ở Bộ Tổng (Tham Mưu). Xem danh sách, họ chọn anh. Ban Giám Thị ra lệnh cho anh, họ hỏi điều gì thì tùy họ, nhưng nhất thiết là anh phải trả lời có lợi cho trại, cho nhà nước. Anh phải biết là gia đình anh nằm trong tay chúng tôi. Tôi nhắc lại, gia đình anh trong tay chúng tôi, anh nghe chưa?"

"Báo cáo cán bộ, tôi rất bỡ ngỡ vì tôi chưa tiếp xúc báo chí ngoại quốc bao giờ, tôi xin cán bộ cho tôi miễn công tác này".

"Bộ anh đùa với tôi hả? Ðoàn khách đã chọn anh. Anh không chịu gặp họ, tức là anh chống đối trại và gây nghi ngờ về phía họ đối với trại. Tôi nhắc lại lần nữa, gia đình anh trong tay chúng tôi. Nghe chưa!"

Tôi ức quá. Lúc ấy hai hàm răng tôi cắn lại, quai hàm bạnh ra, và chắc là mặt tôi cũng xanh nữa.

"Anh theo tôi lên lớp học lịch sử, ngồi ở đó như là một học viên, khi nào nghe gọi tên anh thì anh bước ra. Anh coi chừng tôi đó. Tuyệt đối là anh không được nói tiếng nước ngoài dù là lời chào. Anh nghe rõ chưa?"

"Rõ".

Nơi tôi đang ngồi là chỗ mà chúng tôi thường ngày viết khai báo, nhưng hôm nay cả trại đã xuất trại từ hồi nào nên vắng hoe, trong khi các đội cấp Ðại Tá chúng tôi đều bị nhốt trong buồng giam 15 và 16, ngoại trừ một số bạn ngồi đây mà họ gọi là "lớp học lịch sử". Trong hội trường được dàn dựng một phòng đọc sách, và khoảng 6 anh -cũng cấp Ðại Tá- được chọn ngồi vào đó như là nhàn nhã đọc sách vậy. Tất cả tù chính trị lẫn hình sự đang nằm ở trạm xá cũng đem giấu trong núi sau trại B, và thay vào đó là số người khỏe mạnh để xem như trạm xá điều trị tốt. Màn gian trá chưa hết, tại "mỗi đầu giường bệnh" có một hộp sữa đặc, một nải chuối, với vài cánh hoa dại nữa. Mỗi buồng giam đang từ 50 hay 60 tù, sắp xếp lại để mỗi buồng giam khi nhìn vào mớ áo quần cuộn lại thay gối nằm chỉ còn 25 tù thôi. Riêng buồng giam 15 và 16 chúng tôi nằm sâu trong góc cuối của trại, bị che khuất bởi bức tường đá tảng mà thoạt nhìn cứ tưởng đó là bức tường cuối cùng của trại giam này, nên họ không cần che giấu số người trong buồng giam. Nhà bếp có treo một con heo làm sẵn, để trả lời với phái đoàn -nếu có hỏi- là ăn trong ngày, nhưng thật ra là chia cho 3 trại khoảng 1.000 tù chính trị lẫn hình sự. Tôi mô tả như vậy là vì hồi tháng 4 (1978) có một phái đoàn nào đó đến thăm, lúc ấy tất cả tù cấp Ðại Tá chúng tôi đều bị đưa vào kẹt núi sau trại B cất giấu trọn ngày, mãi đến khi phái đoàn rời khỏi trại chúng tôi mới được về. Lần đó phái đoàn có tiếp xúc phỏng vấn một ông cựu Bộ Trưởng của Việt Nam Cộng Hòa nhưng tôi không nhớ tên. Các vị cao cấp bên hành chánh cũng như trong cơ quan Lập Pháp Hành Pháp, bị đưa từ trong Nam ra đây trước chúng tôi và bị nhốt tại trại này.

Rõ ràng là Ban Giám Thị trại giam này đang che mắt phái đoàn, che mắt thế giới, cứ như tù chính trị trong tay họ chỉ có học về lịch sử chớ không học chính trị, cũng như không làm lụng vất vả gì hết. Ðây là màn đầu tiên trong bản chất gian trá của cộng sản quản trị trại giam, và anh em chúng tôi ngồi đây là những thành viên bị bắt buộc diễn cái màn gian trá đó do một nhóm Công An từ Hà Nội xuống đạo diễn màn này.

Tôi nghĩ, sự có mặt của phái đoàn ngoại quốc, nếu không phải là cộng sản cũng là có khuynh hướng cộng sản. Ngay bây giờ, tôi không có cách nào tránh né được vì tên Thụng đánh đúng vào điểm yếu nhất của tôi là gia đình, mà lúc nãy hắn đã luôn miệng đe dọa sự an toàn của gia đình tôi. Vậy là tôi phải tiếp xúc. Trong một thoáng thật nhanh, tôi có ngay câu giải đáp "phải làm gì" khi tiếp xúc với phái đoàn cho dù phái đoàn đó là cộng sản hay thân cộng sản. Tôi phải tùy cơ ứng biến, trong một tích tắc nào thuận lợi để nói cho phái đoàn đó biết rằng "đây là trại tù, và chúng tôi là tù chính trị không án". Ðiều mà tôi rất đắn đo, là "có nên liều mạng để nói lên sự gian trá của trại tù cho họ biết không?" Nếu liều mạng như vậy có lợi gì, hại gì? Nhìn lại thân phận người tù chính trị nơi đây nhỏ nhoi quá, trong khi thế giới thì quá ư rộng lớn với biết bao vấn đề phức tạp, mà mình thì hoàn toàn không có lãnh đạo. Thôi, đành phải giữ chừng mực khi phát biểu đến mức đủ để chúng nó nạt nộ mắng chửi chớ không biệt giam cùm chân bỏ đói! Ðang miên man suy nghĩ, tôi nghe mấy tên Công An đứng bên ngoài nói với nhau:

"Không thằng nào trông chúng nó để chúng nó ngồi đầy trên bệ cửa sổ nhìn sang trạm xá, lại còn la ó nữa. Phái đoàn trông thấy, họ chụp một số hình rồi. Không khéo là mang họa đấy".

"Thằng Lực coi chớ ai".

"Không. Thằng Lực chuyển ra trực trại rồi, thằng Ổn quản giáo buồng đó".

"Thằng nhóc đó mà cho nó quản giáo mấy thằng già cứng đầu sao được".

Vừa lúc phái đoàn từ trạm xá lên, đứng bên hông "lớp học". Họ nói tiếng Pháp và trong lớp nghe rất rõ:

"Chúng tôi muốn gặp Ðại Tá Hoa".

Trong một thoáng, tôi nghĩ là tôi có thể thực hiện được mục đích mà tôi đã nghĩ lúc nãy.

Tiếng của tên Công An thông dịch: "Phái đoàn muốn tiếp xúc với Ðại Tá Hoa".

Tên Thung bước vào gọi tôi. Khi tôi bước đến cửa, hắn đứng sát vào tôi:

"Anh nhớ là gia đình anh trong tay chúng tôi đấy!"

Âm thanh của hắn như dưới sức ép của hai hàm răng nghiến chặt, tôi nghe mà phát tức!

Vừa ra khỏi cửa, một tên Công An có lẽ là từ Hà Nội xuống, hắn đi sau lưng tôi và nói thật khẽ:

"Tôi cấm anh không được nói tiếng nước ngoài, dù chỉ là lời chào".

Tôi đứng lại nhìn hắn, như thể cho phái đoàn biết là hắn vừa nói vào tai tôi. Dĩ nhiên là phái đoàn chẳng biết hắn nói gì, nhưng ít ra họ cũng nhận ra điều gì đó không minh bạch. Hắn giục: "Tại sao anh đứng lại. Ði bình thường".

Tôi bước thêm mấy bước nữa là đứng cạnh phái đoàn. Nhận xét thật nhanh, các thành viên trong phái đoàn khá trẻ, áng chừng tuổi trên dưới 30. Vui vẻ. Tôi nói tiếng Việt, phái đoàn nói tếng Pháp, qua lời thông dịch của Công An.

Tôi cười nhẹ: "Tôi chào các vị".

"Chào ông. Có phải tên ông là Phạm Bá Hoa không?"

"Vâng. Tôi tên Phạm Bá Hoa".

"Ông bao nhiêu tuổi?"

"Vài tháng nữa tôi tròn 48 tuổi".

"Chúng tôi xin chúc mừng sinh nhật của ông".

"Xin cám ơn các vị".

"Trước đây ông là Ðại Tá?"

"Vâng. Tôi là Ðại Tá".

"Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức vụ gì ở Bộ Tổng Tham Mưu?"

"Tôi là Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu".

Tên Công An thông dịch moi mãi mới ra chữ "Chef de Bureau" để dịch chữ Tham Mưu Trưởng. Tôi quay sang hắn:

"Xin cán bộ làm ơn dịch chữ "Chef d' État Major" để chỉ chức vụ của tôi".

Một cô trẻ trong phái đoàn bước đến sát mặt tôi:

"Ông biết tiếng Pháp?"

Ðúng cái lúc mà tôi nghĩ là "thuận tiện" để nói thật nhanh điều tôi đã nghĩ, thì tên Thung, an ninh của trại đứng sát lưng tôi. Không biết hắn dùng vật cứng gì mà đầu nhọn ấn nhè nhẹ vào lưng tôi, mỗi lần ấn vào là tôi đau nhói và tôi phải nghiêng qua nghiêng lại. Hành động của hắn như uy hiếp tôi là không được trực tiếp nói chuyện với phái đoàn. Tôi không trả lời câu hỏi của cô ấy, mà tôi chỉ cười nhẹ nhưng mặt thì nhăn nhó vì lưng bị đâm đau quá!

Tên Công An Hà Nội quát: "Anh có thái độ gì lạ vậy?"

Tôi nghĩ là hắn thấy tên Thung đứng sát lưng tôi, nhưng không rõ là hắn có thấy tên Thung dùng vật nhọn ấn vào lưng tôi hay không, tôi trở lại thế đứng bình thường vì hắn không ấn vào lưng tôi nữa:

"Không. Tôi không biết tiếng Pháp".

Cô gái trẻ ấy nhìn tôi một lúc, gật đầu tỏ ý như là cô ta nhận biết tôi hiểu câu mà cô ta hỏi tôi. Rồi cô ta nheo mắt kèm theo nụ cười nhẹ, như thể cô ta nhận ra được sự kiện không bình thường.

Một anh trẻ khác hỏi: "Ông ở trong quân đội bao lâu?"

"Vừa tròn 21 năm".

"Ông vào trại cải tạo mấy năm rồi?"

"Vừa hơn 3 năm".

"Ông có biết là tại sao ông vào trại cải tạo không?"

"Tôi là sĩ quan cao cấp của chế độ cũ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi ở nhà chờ lệnh. Sau đó Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn ra thông cáo gọi tất cả sĩ quan viên chức chế độ cũ trình diện học tập cải tạo..."

Tên Thung quát tôi trước mặt phái đoàn:

"Anh trả lời thẳng là anh có tội với nhân dân, không có quanh co gì hết".

Tôi cứ như không nghe "lời mớm" của hắn, và thản nhiên tiếp tục:

"Trong đợt học chính trị tại trại Long Giao ở miền Nam, bài học nói chúng tôi là những người có tội với dân, lúc ấy tôi mới biết là tôi có tội. Trước đó nếu tôi biết như vậy thì tôi trốn rồi, chớ đâu có ai biết mình phạm tội mà đi trình diện vào trại tập trung đâu".

Có tiếng xì xầm của mấy tên Công An sau lưng tôi, nhưng tôi không để mình bị chi phối vì còn phải tìm cơ hội nói với phái đoàn về điều tôi muốn nói.

"Ông có tin là ông sẽ được về không?"

"Có chớ. Nếu không tin như vậy thì làm sao tôi có nghị lực để sống!"

"Ðiều gì làm ông tin?"

"Dù chưa nhìn thấy điều gì rõ rệt, nhưng tôi vững tin vào thời gian với những biến đổi trên thế giới cũng như tại Việt Nam".

"Chúng tôi cám ơn ông, và chúc ông giữ vững nghị lực vì chúng tôi tin quãng đường trước mặt của ông còn dài lắm".

"Cám ơn các vị và chúc các vị sức khỏe".

Câu cuối cùng của thành viên trẻ trong phái đoàn làm tôi hiểu theo hai nghĩa: Rất có thể là họ biết chúng tôi còn trong trại tập trung dài lâu lắm. Hoặc họ khuyên chúng tôi là trách nhiệm với quốc gia dân tộc còn dài lâu trước mặt, hãy cố gắng vững nghị lực cho cuộc chiến đó. Cho dẫu hiểu như thế nào đi nữa, tôi tin phái đoàn này không phải là phái đoàn cộng sản.

Sau khi phái đoàn rời khỏi trại, cán bộ Lực, Công An trực trại vào gọi tôi lên văn phòng an ninh. Vừa bước vào cửa, tên Thung vỗ bàn hét lớn:

"Anh có biết rằng anh nói như vậy, tức là anh không có tội mà đảng với nhà nước bắt anh không?"

Tôi chậm rãi và nhẹ nhàng trả lời như để xoa dịu hắn, vì dù sao thì lúc sáng tôi đã "tấn công" hắn bằng "một vài nắm đấm chính trị" rồi:

"Báo cáo cán bộ, tôi đâu có nói như vậy. Tôi đâu có nói là đảng với nhà nước bắt, mà là tôi trình diện theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản. Ðó là sự thật mà cán bộ".

Tôi cố tình nhấn mạnh chữ "sự thật mà cán bộ" để ám chỉ hắn giả dối, trại giả dối, nhà nước giả dối, mà tất cả đều do bản chất giả dối từ trong đảng của hắn tạo nên cả.

Hắn lại quát: "Anh là tên ngoan cố".

"Cán bộ nói vậy chớ bản thân tôi chưa biết như thế nào gọi là ngoan cố".

"Anh chống lại cải tạo là anh không có ngày về đâu. Rục xương đấy!"

"Báo cáo cán bộ. Tôi không làm gì trái nội qui mà cán bộ nói tôi chống cải tạo. Tôi nghĩ là cán bộ biết rõ những gì tôi trả lời phái đoàn đều là sự thật mà".

Có lẽ hắn tức lắm nhưng dường như đuối lý nên hắn quát: "Anh vào trại đi".

Chỉ chờ có thế là tôi chào hắn về ra khỏi phòng. Trên đường vào trại, cán bộ Lực hỏi tôi:

"Anh làm gì mà ông Thung quát dữ vậy?"

"Tôi có làm gì đâu cán bộ".

Vừa đi vừa thuật lại chuyện giữa tôi với cán bộ an ninh vừa rồi. Cán bộ Lực có ý khuyên tôi nhưng không rõ là hắn có thật lòng hay không:

"Anh không nên đối đầu với ông Thung. Không có lợi cho anh đâu".

"Vâng. Cám ơn cán bộ. Thật ra tôi không có ý đối đầu gì cả mà tôi chỉ nói thật thôi".

RX là gì?

Chiều ngày 1 tháng 9 năm 1978, trong lúc 2 Ðội chúng tôi ngồi viết khai báo trong câu lạc bộ gần loa phóng thanh. Thường ngày loa này không được mở, nhưng chiều nay bỗng dưng chúng tôi "bị nghe" chương trình truyền thanh chuẩn bị cho ngày mai -2 tháng 9- lễ độc lập của Việt Nam cộng sản. Trong bài diễn văn dài lê thê của ông Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng, có một đoạn ngắn cuốn hút anh em chúng tôi đến mức đều ngưng viết. Về vấn đề tù chính trị chúng tôi, ông ta thẳng thừng rằng: "… Bọn ngụy quân ngụy quyền và đảng phái phản động là bọn đã gây tội ác tầy trời, ta không thể tha thứ chúng được …"

Lúc ấy không có tên cán bộ nào có mặt, có lẽ chúng chuẩn bị về nhà sớm. Vì vậy mà điều đầu tiên là chúng tôi xúi hai anh Ðội Trưởng xin về sớm với lý do viện dẫn là mai nghỉ lễ Quốc Khánh. Rồi cùng nhau tụm năm tụm ba bàn luận suy đoán suy diễn với bao nhiêu là hình ảnh được vẽ ra và chồng lên nhau, do tuyên bố của ông Phạm Văn Ðồng. Chúng tôi trông chờ vào bài diễn văn của ông Thủ Tướng cộng sản hôm nay, vì nghe chừng sẽ có quyết định liên quan đến tù chính trị. Thế nhưng qua lời của ông Ðồng vừa rồi, đúng là ông ta có nói đến chúng tôi, nhưng điều mà ông ta nói chẳng khác thùng nước lạnh tạt vào anh em chúng tôi choáng váng đến tăm mặt mũi!

Sau bữa ăn bo-bo chiều, cửa buồng giam đóng rầm một cái, tiếng click khô khan của cái ống khóa vừa bấm lại, từng nhóm anh em chúng tôi tiếp tục bàn luận chung quanh lời tuyên bố của ông Phạm Văn Ðồng lúc trưa. Một bạn trong nhóm chúng tôi ở cuối góc phòng mở đầu với câu nghe mà không ai hiểu:

"Vậy là RX rồi".

"RX là gì vậy cha nội?"

"RX là rục xương chớ là gì nữa! Rõ vớ vẩn".

"Ðấy. Các anh tin vào cái gọi là khoan hồng nhân đạo của chúng nó nữa đi. Nó lừa được bọn mình vô tù nó mới nói huỵch toẹt ra đấy".

"Thôi. Nóng làm chi bạn ơi! Thế bạn có tin cái chính sách 10 điểm của họ hay không mà bạn ngồi đây?"

"Tôi thì khác".

"Cứ cho là bạn khác với bọn tôi, nhưng nhìn lại thì chúng mình cũng thế thôi bạn à! Là tù thua trận cả mà. Nặng nhẹ xách mé làm chi cho đau lòng nhau!"

"Tôi xin các anh cứ mặc cha nó! Cái quan trọng là mình phải vững tin rằng, chúng mình sẽ được ra khỏi trại tập trung, dù chưa biết là sẽ ra như thế nào. Thế giới, nhất là Hoa Kỳ, vẫn xem Việt Nam là một vấn đề thì ta vẫn còn hy vọng mà. Bây giờ, vấn đề của chúng ta là giữ vững nghị lực để đừng bỏ xác trong nhà tù cộng sản. Thế thôi".

"Các anh ơi! Khi bước vào hoạt động chính trị, người ta buộc phải sử dụng ngôn từ của chính trị, cái thứ ngôn từ không nhất thiết 1 với 1 là 2 đâu. Nhất là chính trị trong cái quốc gia nghèo giữa một thế giới cạnh tranh nhau vì quyền lợi thì sự ổn định khó mà có được, nếu không nói là ảo tưởng. Trong một quốc gia không có khả năng độc lập kinh tế như Việt Nam thì đừng hòng có độc lập chính trị. Với lại, những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, được chọn từ thành phần 3 đời bần cố nông để đại diện công nhân nông dân thì họ có học hành gì đâu. Khi lãnh đạo mà không có kiến thức thì đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa càng ngày càng xuống vực thẳm là điều hiển nhiên. Rõ ràng nhất là cái nhóm lãnh đạo loại ấy lúc nào cũng vỗ ngực lớn tiếng bảo vệ đất nước cả".

"Thằng cộng sản nó đếch cần đến kiến thức mà chỉ cần lưu manh để nắm quyền cả đời đấy. Cho nên chẳng phải riêng chúng mình, mà là cả dân tộc cứ như bị nhốt trong cái nhà tù bằng cả một quốc gia ấy".

"Như Trung cộng thôi. Chúng nó định nhốt các Tướng Lãnh của Ðài Loan đến rục xương trong tù, thế nhưng mới bước đầu chấp nhận ảnh hưởng của Hoa Kỳ là chúng nó thả các ông ấy về Ðài Loan sau 26 năm trong tù đấy".

"Thôi các bạn ơi! Làm ơn ngưng lại để ngủ cho có sức để mai còn khai báo tiếp. Không xong là chúng nó mắng đến phát tức bạn à!"

Nằm cạnh tôi, bên phải là anh Ngô Văn Huế (Công Binh). Anh nói nho nhỏ:

"Hồi đi trình diện, tôi ước tính ít nhất cũng phải 5 năm chớ tôi không tin là 30 ngày, vì cộng sản từng chà đạp Hiệp Ðịnh Geneve 1954 và Hiệp Ðịnh Paris 1973 thì còn chỗ nào để mà tin nó".

Tôi tiếp lời cũng nho nhỏ như vậy:

"Thật ra thì đâu có ai trong chúng ta dám nghĩ là đến một lúc nào, chúng ta sẽ là nguồn lợi cho cộng sản, như sự kiện Cu Ba đã từng thả tù chính trị sang Mỹ để đổi lấy máy cày nông nghiệp đó. Trong chính trị việc gì cũng có thể xảy ra cả. Nói rõ hơn, điều mà tôi hy vọng là chúng mình sẽ ra khỏi nhà tù là bắt nguồn từ phía Hoa Kỳ, và biết đâu là Hoa Kỳ sẽ đổi chúng ta bằng cách cấp cho chúng nó (cộng sản Việt Nam) những thứ gì đó cũng nên."

Anh Nguyễn Xuân Hường (Thiết Giáp) nằm bên trái tôi:

"Bây giờ tôi không còn tin bất cứ điều gì chúng nó nói cả. Tôi đồng ý là mình phải giữ vững nghị lực để sống, còn việc gì sẽ tới phải tới".

Lại khai báo.

Toàn bộ những bản khai báo của từng người phải đóng lại thành tập. Chúng bảo bên ngoài phải ghi "Cuộc Ðời Tôi". Tập khai báo dày hay mỏng là tùy theo từng người viết, nhưng dưới 200 trang là bị chúng nó mắng nhiếc, hay ít ra cũng là lời nặng tiếng nhẹ vì cho rằng "chưa thành thật khai báo".

Khai báo bản thân xong tưởng là yên thân, nhưng đâu dễ dàng vậy. Vì đám Công An từ Hà Nội lại xuống hướng dẫn khai báo tập thể. Nói cho đúng là "tập thể khai báo về những Tướng Lãnh của mình". Nói theo ngôn ngữ giang hồ là chúng nó bắt chúng tôi "bề hội đồng" Tướng Lãnh của mình đó. Tất cả tù chính trị cấp Ðại Tá từ Yên Bái xuống đây, chúng nó bảo chia thành 3 nhóm: Nhóm Quân Khu 1 + 2. Nhóm Quân Khu 3 + Biệt Khu Thủ Ðô + Trung Ương. Và nhóm Quân Khu 4. Chúng nó hướng dẫn chọn như thế này: Không căn cứ vào thời gian sau cùng phục vụ ở đâu, mà căn cứ vào những vị Tướng Lãnh từng là cấp chỉ huy của mình để chọn nhóm. Thật ra thì anh em chúng tôi ráp lại theo nhóm là do ý thích, vì đã là Ðại Tá thì không dưới quyền vị này cũng dưới quyền vị khác. Do đó việc tham gia vào nhóm là do chúng tôi thỏa thuận với nhau chớ chúng nó có biết gì đâu.

Tôi chọn vào nhóm Quân Khu 4, dù rằng thời gian tôi phục vụ ở Bộ Tổng Tham Mưu lâu hơn các nơi khác. Mỗi người chọn những vị Tướng mà mình đã phục vụ hoặc mình biết, cuối cùng là trong nhóm Quân Khu 4 chúng tôi lọc ra danh sách 18 vị Tướng. Anh Bùi Văn Sảnh được anh em trong nhóm bầu làm Trưởng Nhóm. Ðến phần Thư Ký thì tôi tình nguyện và được tất cả các anh đồng ý. Khi tên cán bộ ra khỏi phòng, tôi trình bày ý kiến:

"Thưa các anh, tôi có quan niệm như thế này. Thư Ký là ghi chép phần nhận xét và thảo luận của các anh, nhưng tôi xin phép tóm tắt theo hướng đưa đến kết luận là những vị Tướng Lãnh chúng ta có kiến thức tổng quát, có khả năng lãnh đạo chỉ huy, và có lòng nhân đạo. Cho dẫu mỗi vị đều có những khuyết điểm, mà thật ra đã là con người thì ai cũng có điểm tốt lẫn điểm không tốt, nay có nhìn như thế nào đi nữa thì cuộc chiến cũng tàn rồi, như không phải vì vậy mà chúng ta nhận chìm các vị mà một thời chúng ta phục vụ dưới quyền, hay ít nhất những vị ấy cũng là Tướng Lãnh của quân đội mà chúng ta từng phục vụ. Nói cho cùng, nếu các vị Tướng lãnh của chúng ta dở thì chúng ta đã không thể chiến thắng trong cuộc phản công Tết Mậu Thân đầu năm 1968 và trận chiến Mùa Hè 1972. Tôi phải trình bày ý kiến với các anh trước và mong được các anh cho biết ý kiến trước khi chúng ta bắt đầu".

Chẳng những ý kiến của tôi được tất cả anh em đồng ý, mà nhiều anh còn bắt tay tôi như lời khuyến khích ý kiến đó nữa. Tôi mời anh Nguyễn Tài Lâm phụ tôi phần ghi chép ý kiến và thảo luận của các anh.

Anh em đồng ý 9 khung để thể hiện nhận xét của từng vị Tướng Lãnh, như: (1) Kiến thức tổng quát. (2) Kiến thức tham mưu. (3) Kiến thức chỉ huy. (4) Kiến thức huấn luyện. (5) Tính khí. (6) Nhân cách. (7) Phong cách. (8) Uy tín lãnh đạo. (9) Sở thích.

Cứ xong trang giấy nào thì anh Lâm đưa tôi trang ấy để tôi viết sạch lại. Tôi vừa diễn đạt thành văn vừa nghe để bổ túc thêm phần ghi chép của anh Lâm.

Sau hai ngày khai báo tập thể, anh Sảnh nhờ hai anh giả vờ sang hai nhóm kia thăm bạn để xem quan niệm khai báo của các anh ấy thế nào, để còn học hỏi nếu cần thiết. Nhóm chúng tôi ghi nhận như sau: Nhóm Quân Khu 1 + 2 có quan niệm như chúng tôi, còn Nhóm Quân Khu 3 + Biệt Khu Thủ Ðô + Trung Ương thì khá nặng lời. Anh Trần Ngọc Thống trong nhóm này nói với tôi rằng:

"… Nhiều anh làm cho tôi có cảm tưởng như các anh ấy buộc tội các ông Tướng vậy …"

Chuyển trại.

Nhưng không phải chúng tôi tại đây chuyển trại mà là các anh từ các trại ở oSơn La, Bắc Thái, và các trại còn lại ở Hoàng Liên Sơn, ào ào chuyển về trại tập trung Nam Hà này quá nhiều. Trại Nam Hà này có 18 buồng giam với gần 1.000 tù chính trị lẫn tù hình sự, nay tăng lên đến hơn 1.500 người. Tất cả các buồng giam từ 60 người, nay dồn ép lại để tăng lên hơn 100 người, như buồng giam chúng tôi đang từ 65 người tăng lên thành 101 người. Sàn gác bên trên được nới thêm đến mức 60 người trên sàn gác chỉ còn hai khoảng trống đủ cho hai người lên hay xuống cùng một lúc. Mỗi sáng cũng như mỗi tối, chúng tôi phải mất khoảng 10 đến 15 phút mới lên hay xuống xong. Thế là "cái cõi không gian bé tí" của mỗi người chúng tôi, một lần nữa lại thu hẹp, từ 70 phân tây (0.7m) xuống còn 50 phân tây (0.5m). Chỗ nằm hiện nay còn chật hơn chỗ nằm ở "ngưu ốc" (chuồng trâu) trên Yên Bái nữa! Nếu như sàn gác này bị hỏa hoạn hay một sự kiện gì đó gây hoảng loạn chẳng hạn, thì số tù chính trị chúng tôi sẽ bị lửa thiêu không phải là ít! Ngay cả lượng dưỡng khí cũng là một vấn đề đối với chúng tôi, vì chỉ còn trông cậy vào lượng dưỡng khí qua các cửa sổ thôi. Nghĩ đến đây là ghê rợn rùng mình! Nhưng mọi người im lặng, và chấp nhận!

Hầu hết chúng tôi không ai giăng mùng. Tuy thời tiết vào thu nhưng "cái nóng nung người nóng nóng ghê" còn đó, bầy muỗi vo ve còn đó, với bầy rệp mà con nào con nấy bằng đầu đũa ăn vẫn còn đó. Ðể chống lại cái nóng khi ngủ, tôi mặc bộ bà ba do trại phát. Chỉ một lúc là bộ đồ đẫm mồ hôi, và từ lúc ấy tôi cảm thấy mát mẻ dẫn vào giấc ngủ nhanh hơn. Muỗi với rệp, vừa là bạn vừa là thù của chúng tôi. Tôi nói "bạn" vì lúc nào chúng nó cũng quanh quẩn với chúng tôi, tôi nói "thù" vì lúc nào chúng nó cũng hút máu chúng tôi. Mỗi sáng phải ra giếng giặt bộ bà ba vừa đẫm mồ hôi vừa đầy máu muỗi máu rệp, nhưng là "giặt chay", tức là giặt áo quần không xà bông.

Dần dần chúng tôi mới hiểu được nguyên nhân chuyển trại ào ạt từ các trại gần biên giới, là do tình hình căng thẳng giữa cộng sản Việt Nam với cộng sản Trung Hoa, sau khi lãnh đạo cộng sản Việt Nam ký hiệp ước hỗ tương với Liên Bang Sô Viết, và cộng sản Việt Nam xua quân đánh chiếm nước Cam Bốt cộng sản, đàn em của Trung Hoa cộng sản.

Tình trạng ngột ngạt đó kéo dài gần hai tháng, Ban Giám Thị trại mới chuyển bớt một số tù chính trị chúng tôi đến các trại khác cũng thuộc trại tập trung Nam Hà. Cũng lúc ấy, anh em chúng tôi trong buồng giam 15 và 16, được chuyển lên buồng giam số 1 và số 2 để chuẩn bị lao động. Hai buồng này thoáng hơn, nói chung là dễ chịu hơn ở buồng 15 với 16 quá ẩm thấp.

Trồng nấm mèo.

Sau gần 6 tháng "khai báo", tất cả chúng tôi bắt đầu đi lao động. Ðội chúng tôi phụ trách trồng nấm mèo. Nhà trồng nấm ngay bên ngoài cổng trại, do Trung Úy Công An tên Xoa phụ trách. Dưới quyền hắn có hai nữ Công An tên Nga và tên Kim phụ tá. Lúc ấy quản giáo Ðội chúng tôi là "Thắng mặt đỏ", vì mặt của hắn lúc nào cũng đỏ như say rượu. Sau khi tên Thắng giao chúng tôi cho tên Xoa thì hắn mở lớp cấp tốc dạy chúng tôi khoảng một tiếng đồng hồ, đại để như thế này:

"Cây trồng nấm do các Ðội khác cung cấp. Chúng tôi cưa từng khúc dài 1.2 thước, đục lỗ tròn theo kích thước của cái đục, sâu từ một phân tây đến một phân rưởi, cho "meo" vào và dùng nhựa thông bít lỗ tròn lại. Ðem vào nhà nấm, gác những đầu cây chụm vào nhau tạo thành hình nón. Mỗi ngày tưới hai lần. Khi nấm đến tuổi thì ngắt vào mà hắn gọi là thu hoạch. Ðem phơi khô, cho vào bao, và coi như xong một chu kỳ trồng cấy nấm".

Ngày đầu tiên, sau khi "dự lớp học cấp tốc", hắn bảo chúng tôi đi làm: Tôi hỏi:

"Báo cáo cán bộ. Căn cứ theo hướng dẫn của cán bộ, tôi đã tổ chức Ðội thành các nhóm công tác xong".

"Xong thì anh lãnh dụng cụ mà làm, chứ đứng đó báo cáo không à?" Hắn bắt đầu gay gắt với chúng tôi.

"Dụng cụ ở đâu cán bộ?" Tôi hơi tức, vì trông cái mặt của hắn, cộng với cái kiểu cách nói chuyện, quả là khó ưa.

Hắn gay gắt thật: "Dụng cụ trong túi tôi đây".

Tôi quay lưng ra ngoài mà không nói gì với hắn.

Hắn tức: "Anh đi đâu đó?"

"Tôi không biết dụng cụ ở đâu mới hỏi cán bộ, mà cán bộ trả lời như vậy thì tôi đứng đó làm gì".

"Anh không lãnh dụng cụ à?"

"Cán bộ không hướng dẫn, tôi biết đâu mà lãnh".

"Anh có muốn tôi trả các anh vào trại không?"

"Báo cáo cán bộ. Chúng tôi không có vấn đề muốn hay không muốn".

Hắn lừ lừ nhìn tôi một lúc, rồi gay gắt thêm:

"Cô Nga, cô dắt anh ta lên kho lãnh dụng cụ".

Cô Nga trả lời nhỏ nhẹ:

"Dạ dụng cụ em còn giữ trong kho nhà nấm anh ạ!"

"Cô cho chúng nó mượn đi".

Cô bé này độ 20 tuổi, vừa đi vừa nói với tôi:

"Anh cãi với ông Xoa chi vậy?"

"Mới vô câu đầu là tôi không có cảm tình rồi cán bộ. Cách nói chuyện của ổng, cán bộ có chấp nhận không?"

"Ông Xoa nóng tính lắm. Anh chống lại ông ấy không có lợi cho anh đâu".

"Cám ơn cán bộ. Tôi biết tính ông Xoa trong thời gian ổng làm trực trại, nhưng tôi cũng biết sử dụng cái đầu của tôi đến mức cần thiết chớ. Chúng tôi là tù chính trị chớ đâu phải hình sự. Thôi, cán bộ đừng nói chuyện đó nữa".

Lãnh dụng cụ và phân phối cho các Tổ xong, tôi vào phụ với anh Ngô Văn Huế (Ðại Tá Công Binh). Anh Huế nói:

"Thằng cha này khó ưa lắm, nhưng anh cũng nên cẩn thận vì thằng nào cũng có quyền biệt giam mình hết".

"Cám ơn Anh. Tôi thận trọng trong mọi trường hợp chớ không riêng gì với hắn. Sự thận trọng của tôi có nghĩa là tôi biết chống lại tụi nó đến mức nào phải dừng lại để tránh bị biệt giam".

"Hồi nãy con Nga nó rù rì với anh cái gì vậy?"

"Nó có ý khuyên tôi không nên cãi với thằng cha Xoa. Cãi với hắn là không có lợi cho tôi. Ở vị trí của con bé đó nó thấy như thế, nhưng tôi thì khác. Tôi cho là có lợi cho mình, vì ít ra mình cũng cho nó thấy là chúng mình không phải dễ nạt nộ như tù hình sự đâu anh".

Ngoại trừ các tổ trong nhà nấm, còn có tổ gồm 6 anh đẩy "xe cải tiến" lấy phân dê ở chuồng dê trên đường ra chợ Ba Sao, hằng ngày đều đi ngang nhà thăm nuôi do Ðội anh em Cảnh Sát phụ trách xây cất. "Cứt dê" đem về đổ xuống hầm nhưng không biết họ sử dụng làm gì. Họ giao "chỉ tiêu", buổi sáng hai chuyến và buổi chiều một chuyến. Trong tổ này có anh Nguyễn Kim Tây và anh Trần Bá Thành (cả hai là Ðại Tá) hay tếu lắm, nhất là anh Tây. Cứ mỗi chuyến đẩy xe cải tiến "cứt dê" về, thể nào cũng có chuyện vui gì đó kể lại cho anh em nghe, đôi khi cười bò lăn trong nhà nấm. Anh gọi chuồng dê là "chuồng thầy", và cứt dê là "cứt thầy".

Tôi không rõ công việc sản xuất nấm này từ lúc nào, nhưng sau hơn hai tháng Ðội 2 chúng tôi đến làm nơi đây, thì nấm rất ít nếu nói theo Công An cai tù thì "nấm không quyết tâm mọc nhiều", mà những cái nấm mọc ra lại "không quyết tâm" phát triển, nên chi nó vừa ít lại vừa nhỏ. Có thể vì vậy mà nhà nấm này bị dẹp bỏ.

Chuyển lúa.

Sau khi "cơ sở sản xuất nấm mèo đóng cửa", Ðội chúng tôi phụ trách chuyển lúa từ dưới cánh đồng chiêm lên sân phơi gần khu vực cơ sở chánh của trại. Lúc ấy Công An quản giáo Ðội chúng tôi tên Kiện, bảo chúng tôi chia làm hai toán: Một toán chuyển lúa vừa cắt xong từ cánh đồng ngập nước lên lưng chừng triền đồi, và một toán chuyển tiếp từ đó lên đến sân phơi. Ðây là núi đá, nên triền dốc toàn là đá tảng rất ư là lổm chổm khó đi. Tôi trong toán thứ nhì. Trong lúc ngồi tại chỗ chờ toán thứ nhất chuyển lên để chúng tôi chuyển tiếp, tên Trung Úy Công An mà anh em chúng tôi gắn cho hắn cái biệt danh "Trung Úy gà" từ trên sân phơi xuống. Vì hắn ăn cắp gà ở khu gia đình của đám Công An cai tù, nên anh em chúng tôi gắn cho hắn cái biệt danh ấy. Hắn đứng trước mặt tôi với giọng kênh kiệu:

"Tại sao anh ngồi đây?"

"Báo cáo cán bộ, chúng tôi chờ toán dưới đồng mang lúa lên".

"Tại sao anh không xuống dưới mà mang lên?"

"Chúng tôi đã phân công rồi cán bộ".

"Ai phân công cho anh?"

"Cán bộ quản giáo Ðội tôi".

Hắn càng gắt giọng: "Cán bộ nào?"

"Cán bộ Kiện". Tôi cứ từ từ trả lời.

"Cán bộ Kiện ở đâu?

"Cán bộ Kiện ở dưới đồng".

"Anh xuống đồng với tôi".

"Không được cán bộ, tôi phải ở đây vì tôi phụ trách toán chuyển tiếp từ đây lên trên sân phơi".

Hắn càng thêm tức khi mấy bạn tù trẻ ngồi gần đó cũng chờ chuyển tiếp bên Ðội của các bạn ấy, nói bâng quơ:

"Ðẹp. Ðẹp lắm".

Hắn ra lệnh như quát: "Ðứng lên. Ði với tôi".

Tôi đứng lên, nhưng không phải đi theo hắn, mà là nhận bó lúa do toán dưới đồng vừa lên đến, và quay lưng đi. Hắn lại quát:

"Anh đi với tôi xuống gặp cán bộ Kiện".

Thấy hắn giận dữ, tôi ra vẻ dịu xuống:

"Báo cáo cán bộ, cán bộ Kiện phân công cho tôi, chừng nào cán bộ Kiện bảo tôi đi thì tôi đi". Nói xong, tôi vác bó lúa cùng các bạn leo dốc luôn.

Buổi chiều, quay về trại và trong khi ngồi chờ "điểm số" vào buồng giam, tôi nghe tiếng một bạn ngồi gần cuối hàng:

"Hôm nay thằng cha Hoa cho thằng "Trung Úy gà" đo ván quá nặng. Kể ra "chả" liều mạng thiệt, nó biệt giam như chơi".

Sau "trận" đó, Ðội 2 chúng tôi "bị" chuyển đến đầu đằng kia vẫn là chuyển lúa, nhưng triền dốc đá ở đây khó đi hơn nhiều vì dốc vừa cao vừa lổm chổm. Cùng là một cánh đồng nhưng có hai lối đi vận chuyển những bó lúa. "Cánh đồng chiêm" khi lúa chín lại là lúc chìm sâu dưới mặt nước mà lần đầu tiên tôi trông thấy. Các bạn cắt lúa phải ngâm mình dưới nước, có nơi phải lặn xuống mới cắt được. Nhìn chung, Ðội "trầm mình" cắt lúa ướt mem, mà Ðội vận chuyển lúa cũng ướt mem nếu vác. Vác thì tương đối dễ đi, còn khiêng thì không bị ướt nhưng rất khó đi vì dốc cao. Tôi với anh Nguyễn Kim Tây cùng một khiêng hai bó. Tôi thấp nên đằng trước cái khiêng. Trưa nắng và oi bức, thấm mệt, trong một bước không vững, tôi ngã người tới trước và chân phải vấp vào cạnh tảng đá, ngón chân cái bị tróc móng đến hơn phân nửa khỏi phần thịt. Máu ra nhiều và đau "thấy trời xanh"! Vì đau quá nhưng không khóc cũng không than, chỉ có cách nhìn lên trời mà cắn răng nhăn mặt! Anh Tây dìu tôi lên đầu dốc, lại trở xuống đồng báo cáo với cán bộ Kiện cho tôi về bệnh xá trại.

Trong bệnh xá, ngoại trừ một bác sĩ Công An, còn lại đều là bác sĩ quân y cùng là tù chính trị cả. Bác sĩ Diễn, bác sĩ Nhâm, bác sĩ Cảnh, bác sĩ Phong, và bác sĩ Trương Văn Quýnh là trưởng nhóm. Bác sĩ Trương Văn Quýnh có những năm là Giám Ðốc Bệnh Viện Sài Gòn, chuyên về cấp cứu. Bác sĩ Quýnh cho biết phải vài ngày mới rút móng được, vì rút bây giờ tôi sẽ không chịu nổi. Mỗi ngày tôi phải khai bệnh xin nghỉ. Ðêm ngủ phải treo chân lên cao ngang đầu gối mới ngủ được. Hôm rút móng chân, bác sĩ Cảnh (Trung Tá, Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ) vừa cười vừa nói như để tôi quên bớt cơn đau nhức:

"Hôm nay có dịp "làm thịt" ông anh đây. Ông anh nằm yên. Vì không có thuốc tê, anh Phong (bác sĩ Mã Thạch Truy Phong) sẽ châm cứu gây tê cho ông anh, rút móng xong vài hôm là xuống đồng vác lúa nữa".

Bác sĩ Phong châm cứu cả hai chân đến 14 cây kim, tôi nghe như có dòng điện li ti từ đầu cây kim này nối đến đầu cây kim kia, khi bác sĩ Phong và bác sĩ Diễn rung nhè nhẹ những cây kim để kích thích gây tê. Cùng lúc, bác sĩ Cảnh cầm kềm rút móng chân tôi. Sau cái đau thấy mấy chục ông Trời đang lơ lửng trên trần nhà, tôi ngồi dậy nhìn ngón chân. Trời đất ơi! Cái móng còn nguyên.

Bác sĩ Cảnh không đùa như lúc nãy nữa mà nói yếu xìu:

"Cứng quá, rút chưa được. Anh chịu khó nằm xuống đi".

"Khoan anh Cảnh. Tôi đau lắm. Tôi cần điều hòa nhịp thở một lúc rồi anh tiếp tục. Châm cứu không ăn thua anh ơi!"

Tôi nằm xuống. Anh Trần Xuân Ðức giằng hai tay tôi xuống giường vì sợ tôi ngồi dậy.

"Anh Ðức ơi! Anh đừng đè tôi, đau thì đau nhưng tôi chịu được".

Không thể tưởng tượng nỗi với mức độ đau nhức khi anh Cảnh rút móng chân tôi! Chừng như toàn bộ khả năng chống đỡ của tôi đều tập trung vào sức chịu đựng khi móng chân đi theo cái kềm trong tay bác sĩ Cảnh bức ra khỏi ngón chân. Người tôi yếu hẳn trong những phút sau đó, mãi đến khi điều hòa được hơi thở, tôi mới để bác sĩ Cảnh rửa ngón chân, nơi mà cái móng phủ bên trên không còn nữa. Mỗi khi miếng bông gòn lướt trên lớp thịt bầy nhầy với máu đỏ bùn đen, đau và xót kinh khủng! Sau đó, với dáng đi "chấm phết", tôi từng bước về buồng giam.

Ði lao động mới có nước sôi ăn mì gói, chớ nằm buồng giam chỉ bẻ từng mẫu mì gói ăn sống, rồi uống nước vào cho nó nở ra thôi. Còn khẩu phần bo-bo chỉ dậm thêm chút ít, chớ ăn hết chén càng khổ khi đi cầu. Hai ngày sau, tôi đến bệnh xá thay băng, và từ đó không được nghỉ nữa mặc dầu vẫn còn đau, và vẫn đi "chấm phết". Khi nghỉ bệnh, chúng nó căn cứ theo thời gian chớ không căn cứ vào bệnh trạng của tù chính trị. Nhân đạo của cộng sản như vậy đó!

Cuốc đất thay trâu cày.

Sau Tết, Ðội chúng tôi và 9 Ðội nữa được lệnh xuống cánh đồng chiêm cuốc đất chuẩn bị làm ruộng. Khi gặt vụ chiêm thì trầm mình dưới nước, mấy tháng sau thì mặt đất của cánh đồng đều nứt nẻ vì nắng hạn. Những con cá con ếch con nhái "thân tàn ma dại" trong những đường nứt. Hầu hết khi cuốc đất lên, chúng nó chỉ còn là những bộ xương bao bọc lớp da bên ngoài, hoàn toàn không giúp ích gì cho những cái bao tử của chúng tôi. Nhưng nếu nhìn cánh đồng như một bức tường đá tảng, thì những đường nứt tựa như những mạch hồ nối những tảng đá liền với nhau, mà có thời gian tôi "làm thợ hồ" xây bức tường buồng giam như vậy. Trông cũng hay hay. Ðó là cách nhìn ít nhiều lãng mạn. Nhưng nếu nhìn theo góc độ dân tộc thì rất tội nghiệp cho người dân xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nơi đây, mấy chục năm qua rất ư là khốn khổ!

Gần 200 tù chính trị chúng tôi toàn sĩ quan viên chức với đảng phái chính trị, cuốc ruộng thay trâu cày. Cán bộ Kiện, quản giáo Ðội, gọi tôi:

"Anh cử một anh nấu nước, một anh lấy củi, và một anh sửa cuốc cho Ðội. Anh cử một anh đến nấu nước cho cán bộ. Mỗi anh còn lại giao chỉ tiêu 100m2 mỗi ngày lao động".

"Báo cáo cán bộ, chỉ tiêu 100m2 là cao lắm, tôi lo là chúng tôi không thể cuốc nỗi. Tôi đề nghị để chúng tôi cuốc thử vài ngày rồi cán bộ ấn định chỉ tiêu. Về người nấu nước, tôi nghĩ là chúng tôi nấu nước chung rồi pha trà đem đến cán bộ, đỡ tốn một lao động".

"Anh có biết là đề nghị của anh mang tính chống đối không. Ðây là chỉ tiêu chung chứ không phải riêng Ðội anh. Tôi nói cho anh biết, đề nghị của anh là một cách chống đối trại, nếu như đến tai ông Huy (Ðại Úy Trại Trưởng) là có vấn đề đấy. Còn nấu nước phải nấu tại đây (tại lều của hắn)".

Tôi trở lại Ðội và tường thuật cho các bạn. Anh Cao Văn Phước "tình nguyện" sửa cuốc. Về chỉ tiêu cuốc đất và người nấu nước:

"Ý kiến của tôi là tùy theo sức mà cuốc rồi tôi liệu cách đối phó với hắn. Về người nấu nước tại lều của hắn, chúng ta lớn tuổi rồi, tôi không muốn bất cứ anh nào trong số chúng ta đến đó nấu cho hắn uống, nhưng hắn có vẻ gay gắt khi đòi hỏi phải có một người làm công việc đó".

Anh Phước nói: "Anh Hoa, tụi nó ngoắc anh kìa".

Tôi chưa đi thì tên võ trang dùng hai bàn tay chụm lại làm loa nói lớn:

"Ðược rồi, các anh cứ nấu nước pha trà mang đến đây".

Tôi nói với các bạn:

"Vậy là chúng nó đồng ý đề nghị của tôi rồi. Thà là mình tốn một ít trà để khỏi phải nấu riêng cho chúng nó hơn là để nó sử dụng mình như tù hình sự. Mỗi buổi mình cho chúng nó một "lon gô" trà pha đặc một chút. Trà thì tôi cung cấp được, còn cái "lon gô" bạn nào có thể cho mượn được?"

Anh Cao Văn Phước đồng ý cho mượn. Ðến ngày thứ ba, tên quản giáo Kiện và tên Thắng, lại bắt Ðội cử người luân phiên đến lều của nó nấu nước. Cuối cùng, chúng tôi đành phải đồng ý mỗi ngày luân phiên một anh. Ðến đây cũng chưa ổn, vì hai ngày sau đó là phiên anh Ðặng Văn Hậu, chúng nó bắt buộc anh Hậu hằng ngày đến lều của nó mà nấu chớ không luân phiên. Buổi chiều, anh Hậu thuật lại cả Ðội nghe:

"Thằng Thắng với thắng Kiện không chấp nhận luân phiên nữa, chúng nó bảo tớ phải nấu nước cho bọn nó. Nó nói thằng cha Hoa miệng rất ngọt, ăn nói nhẹ nhàng, ra lệnh gì cũng nghe, nhưng bụng chứa đầy dao găm. Tớ mà nghe theo thằng cha Hoa là rục xương trong tù. Thằng Thắng nó ghìm thằng cha Hoa dữ lắm".

"Thế Hậu trả lời hắn ra sao?" Tôi hỏi.

"Tớ bảo việc này do Ðội quyết định. Thằng Thắng nói nếu nó bắt tớ làm thì tớ có làm không? Tớ trả lời: Cán bộ bắt buộc thì tôi phải làm, nhưng tôi buồn lắm!"

Cuối cùng chúng tôi quyết định vẫn cứ luân phiên, nhưng vẫn cung cấp trà với thuốc điếu quấn cho chúng nó mỗi ngày 20 điếu. Nghĩa là thêm một chút "hối lộ", cũng có thể nhờ đó mà tên quản giáo giảm chỉ tiêu cuốc đất mỗi người/ngày 70m2, tức giảm được 30m2. Chúng tôi là tù chính trị chớ không phải tù hình sự mà chúng nó sai khiến quá mức. Chúng tôi luôn tùy cơ ứng biến. Tôi nghĩ, chúng nó không dám mạnh tay vì đây là việc riêng cho chúng nó. Mà nói cho cùng, nếu Ban Giám Thị có gọi tôi sỉ vả mắng chửi, tôi sẽ giải thích được, trừ khi chúng nó cột tôi vào cái tội gì khác để trừng phạt tôi. Nhưng rồi không việc gì xảy ra khi chúng tôi áp dụng luân phiên.

Thời cán bộ Phụ làm quản giáo có hỏi tôi:

"Tôi và cán bộ võ trang sẽ lãnh phần ăn trưa còn sống đem xuống đồng, anh có cử người nấu cho chúng tôi được không?"

Tôi trả lời: "Cán bộ ra lệnh cho chúng tôi khiêng phân người hay khiêng nước tiểu, chúng tôi thi hành ngay. Nhưng nấu ăn cho cán bộ thì chúng tôi không thể làm được. Chúng tôi là những người tù chính trị, lại lớn tuổi, thậm chí là già yếu, tôi nghĩ là cán bộ cũng thông cảm với tôi về câu trả lời này".

Hắn làm thinh. Thật ra trước khi trả lời hắn, tôi nghĩ ngay đến "cái lực" trong tay chúng tôi, nếu như hắn mạnh tay thì chúng tôi "ngưng viện trợ" thuốc hút và thuốc uống, đó là hai thứ mà hắn rất cần chúng tôi.

Hạn hán ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nước của chúng tôi. Quí vị thử hình dung, từ ngoài cổng vào bên trong trại, ngay bên phải có một cái giếng rất lớn nhưng rất cạn. Ðường kính khoảng 10 thước, nhưng sâu chỉ hơn 2 thước thôi, vì vậy mà gọi nó là giếng cũng không đúng hẳn. Hằng ngày sau khi lao động về dù mùa hạ oi nồng hay mùa đông lạnh buốt, chúng tôi đều trần trụi đứng tắm nơi đây. Nhưng bây giờ đang là mùa đông, cái gọi là giếng đó hoàn toàn khô cằn, trơ lại cái đáy giếng đất và đá. Một chút may mắn là có bốn cái lỗ mội rỉ ra từng rỉ nước. Chúng tôi khoét bốn lỗ mội đó sâu chừng một gang tay và rộng cũng chừng ấy, để trữ nước. Mỗi sáng dậy, khi cửa buồng giam vừa mở là hầu như mọi người xách cái "lon gô" và cái muỗng ăn cơm chạy ra giếng, tuột xuống ngồi xếp hàng chờ múc nhẹ từng muỗng nước cho vào lon gô đem về buồng giam rửa mặt. Phải nhẹ nhàng để tránh nước bùn từ bên dưới trồi lên làm đục "ao nước" nhỏ nhất thế giới, nhưng hết sức cần thiết cho anh em chúng tôi trong mấy buồng giam lân cận. Hằng ngày khi lao động bất cứ ở vùng nào, chúng tôi tìm những vũng nước, lạch nước, cho dẫu nước phèn mà vàng cách mấy cũng ráng tắm giặt. Mỗi người chỉ vài lon là xong. Tôi chỉ nói "tắm giặt xong" chớ không dám nói "tắm sạch giặt sạch" nghe quí vị quí bạn. Nếu không tắm giặt ở đây thì không thể nào giải quyết được nhu cầu này ở đâu cả. Ðiều đặc biệt là không có sự xích mích va chạm nào giữa anh em chúng tôi về vấn đề nước cả.

Vợ tôi đến thăm.

Từ đầu năm 1979, Bộ Công An cho gia đình tù chính trị đến thăm nuôi, kèm theo điều kiện là phải được các cơ quan địa phương cho đi, và tù chính trị không bị những hình thức kỷ luật tại trại. Vậy là cái lệnh này đã dẫn đến việc xây cất nhà thăm nuôi cách cổng trại khoảng hơn cây số.

Trung tuần tháng 5 năm 1979, vợ tôi và con trai út chúng tôi 8 tuổi từ Sài Gòn ra thăm tôi. Hôm đó là chiều thứ bảy, anh Phạm Văn Thường (Ðại Tá Tiếp Vận) tạt vào buồng giam báo tin cho tôi:

"Hoa ơi! Bà Xã của anh đang ở ngoài nhà thăm nuôi đấy. Ngày mai anh sẽ gặp".

"Sao anh biết?" Tôi hỏi lại một cách vội vàng.

"Chiều nay tôi ra gặp vợ tôi và vừa vào tới. Bà Xã anh gởi cho anh 10 cái trứng luộc". Trao xong là ảnh ra ngoài để mang quà về buồng giam vì sắp đến giờ khóa cửa buồng giam.

Tôi bưng cái thau nhựa có 10 cái trứng bên trong với thái độ có vẻ lúng túng, trong khi các bạn ngồi chờ điểm số vào buồng giam. Anh Trần Văn Lễ nói:

"Thằng cha Hoa mất hồn rồi, giống như tôi hồi đầu năm vậy".

Ðêm đó quả thật là tôi không ngủ được, và tôi tin là vợ và con tôi cũng không ngủ được. Vì quá bất ngờ nên các bạn thấy tôi lúng túng, chớ được tin báo trước thì không đến nỗi "mất hồn" như anh Lễ nói đâu quí vị quí bạn à!

Sáng hôm sau, Công An cai tù phụ trách hướng dẫn thăm nuôi tên Quan, vào trại gọi tôi ra thăm gặp gia đình. Hắn đưa cái chìa khóa cho tôi:

"Anh mở khóa lấy cái xe cải tiến kéo theo chở quà".

Nếu quí vị quí bạn hình dung được sự hăng hái của người tù chính trị lần đầu tiên được gia đình đến thăm như thế nào, thì tâm trạng của tôi cũng y như vậy. Nhưng mà cái khung xe bằng kim khí nó nặng quá trời, nhất là khi kéo lên cái dốc khá cao và khá dài. Phải qua khỏi đầu dốc mới đến nhà thăm nuôi. Tôi mặc quần áo tù màu xanh do trại phát, kiểu như bộ bà-ba trong Nam nhưng lại có cái cổ cao. Khi đến đỉnh dốc:

"Báo cáo cán bộ. Ngừng lại nghỉ chân một lúc cán bộ, vì lần đầu gặp gia đình mà mặt mày xanh lè xanh lét thì thất sách lắm cán bộ".

"Dừng thì dừng. Nhưng anh nói thất sách là thế nào?"

" Cán bộ nghĩ xem, sau bốn năm vợ