- tám -
Ra khỏi trại tập
trung
*****
Ánh sáng ngoài đường hầm.
Từ lúc ở trại tập trung Yên Bái,
cứ vài ba ngày thì bộ chỉ huy trại cho mượn vài tờ báo
Nhân Dân để đọc, và các bạn trong lán giao tôi trách nhiệm
điểm và đọc báo cho anh em trong lán nghe sau cơm chiều. Khi
chuyển đến trại tập trung Nam Hà này, các bạn trong buồng
giam số 1 cũng giao tôi trách nhiệm điểm và đọc báo. Hằng
tuần có được ba hay bốn ngày có báo, mỗi lần có ba bốn
số báo, nên có anh Nguyễn Hữu Vị và anh Bửu Uy cùng đọc
với tôi sau khi cửa buồng giam đóng lại. Khi điểm bài báo
nên đọc, tôi đánh số thứ tự để luân phiên giữa ba anh
em chúng tôi lần lượt đọc.
Hôm ấy là ngày 5 tháng 8 năm 1987,
trên tờ Nhân Dân, tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam,
có mẩu tin mà sau khi đọc xong chúng tôi phải ngưng lại vì
các bạn bàn luận rất sống động. Mẩu tin có nội dung thế
này:
"Ngày 2 và 3 tháng 8 năm 1987,
Tướng hồi hưu Vessey, với tư cách Ðặc Sứ của Tổng Thống
Hoa Kỳ sang Việt Nam, gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam,
ông Nguyễn Cơ Thạch. Hai bên thỏa thuận đầu tiên về hợp
tác đẩy mạnh công cuộc tìm kiếm người Mỹ mất tích trong
chiến tranh Việt Nam, và vấn đề trả tự do cho tù chính
trị, và cùng gia đình được xuất ngoại sang Hoa Kỳ theo
nguyện vọng"..
Ðại để mẩu tin chỉ có thế,
nhưng quá đủ để anh em chúng tôi bàn luận đến quá nửa
đêm mới dừng lại để ngủ. Cho dẫu mức độ lạc quan
như thế nào đi nữa, rõ ràng là hình ảnh những đoàn tù
chính trị ra khỏi nhà tù có cơ đang thành tựu. Tôi nói "có
cơ thành tựu" vì tuần vừa qua, có một toán Công An nghe nói
thuộc cơ quan A16 từ Bộ Công An đến trại này và đang công
tác ở đây. Toán này đã gọi một số bạn ra ngoài trại
"làm việc", tức là hỏi mỗi người chúng tôi một số vấn
đề theo nhu cầu của họ.
Hôm qua, họ cũng gọi tôi, và nội
dung "làm việc" như thế này:
"Chào anh. Anh có phải là Phạm
Bá Hoa không?"
"Chào cán bộ. Ðúng, tôi là Phạm
Bá Hoa".
"Anh mạnh khỏe chứ?"
"Tôi vẫn khỏe".
"Tôi hỏi anh: Nếu như nhà nước
cho anh về, anh có đi nước ngoài không?"
"Tôi đi nếu nhà nước cho phép,
vì tất cả các con tôi đều ở Mỹ".
"Nếu anh đoàn tụ với các con
anh ở Mỹ, anh có chống lại nhà nước Việt Nam không?"
"Khi tôi ở ngoại quốc thì làm
sao chống lại nhà nước được cán bộ".
"Anh có cam kết là anh không chống
lại nhà nước Việt Nam không?"
"Tôi cam kết".
"Ðược. Anh mang tờ giấy này
vào trại viết tóm tắt lý lịch của anh, tóm tắt hoạt động
của anh, và cuối cùng là anh cam kết không tham gia các đảng
chính trị chống lại nhà nước Việt Nam. Chiều mai đưa lại
tôi".
"Cán bộ vào lấy hay tôi ra đây
đưa cán bộ?"
"Sẽ có cán bộ vào trại nhận".
Tôi nghĩ, chính trị vẫn là chính
trị, mà chính trị thì không như khoa học hay toán học, 1
với 1 là 2. Với chính trị, 1 với 1 có thể là 1, cũng có
1 thể là 1 rưởi, cũng có thể là 2. Tại Việt Nam tôi cam
kết là một việc, còn làm việc gì khi tôi ở Hoa Kỳ là
việc khác.
Toán Công An đó gọi khoảng 200
anh em tù chính trị chúng tôi ra làm việc, tức khoảng một
nửa tù chính trị tại trại Nam Hà A.
Ðến trước ngày cuối tháng 8 năm
1987, họ gọi tôi ra hỏi:
"Anh có xác định là anh không
vượt biên chứ?"
"Có". Chữ có mà tôi dùng ở đây,
có thể hiểu theo hai nghĩa: Có xác định, cũng là có vượt
biên.
Lần này họ chỉ hỏi câu duy nhất
đó. Tôi không biết hắn có hỏi các bạn khác hay không. Tôi
lại bàn luận với cụ Hoàng Văn Úy, chẳng lẻ chúng nó lại
hỏi một câu gần như vô nghĩa như vậy. Phải chăng chúng
nó hình dung đến lúc nào đó bỗng dưng tôi biến mất ở
Sài Gòn chăng? Tôi với Cụ Úy và anh Ðinh Tiến Dũng, ăn cơm
chung từ năm 1985.
"Có vẻ chúng nó nghi ngờ ông điều
gì đó. Cẩn thận nghe".
Sau khi toán Công An đó về Hà Nội,
anh em chúng tôi biết bao đồn đoán nhưng không phải là hoàn
toàn vô căn cứ, chẳng hạn như:
"Tụi hậu cần mới chở về kho
246 bộ quần áo mà nguồn tin nói rõ là áo chemise trắng, và
quần áo này sẽ phát cho những anh được trả tự do".
"Nói nghe như thiệt vậy mấy cha".
"Nghe sao thì thuật lại các anh cùng
nghe để xem có những nguồn tin khác nữa không, có gì đâu
mà nói như móc họng vậy".
"Tôi nghe nói là tổ quay phim của
Bộ Công An xuống đến trại rồi, và họ sẽ vào trại thu
hình anh em chúng mình đó".
"Bạn nào có được gọi làm việc
kỳ này đều có hi vọng được về thôi".
"Các anh bệnh hoạn già yếu chắc
về nhiều, vì hổm nay tụi y tế lập hồ sơ và tái khám
hầu hết số anh đau yếu đấy".
"Và vân vân".
Ðó là tóm tắt rất nhiều đồn
đoán trong buồng giam số 1 chúng tôi.
Và rồi tổ quay phim từ Hà Nội
xuống thiệt. Họ xuống khu trồng rau thu hình một vài Ðội
Rau Xanh. Còn trong trại thì họ thu hình một số sinh hoạt
trong buồng giam số 1 và số 2. Thu hình ở chỗ đọc sách
bên Tổ Văn Hóa. Họ bảo chúng tôi đá banh cho họ thu hình
nữa.
Chiều ngày 1 tháng 9 năm 1987, tên
Sáng, cán bộ giáo dục:
"Anh Hoa, phái đoàn Bộ Công An
mang lệnh tha đến trại rồi, nhưng các phong bì còn niêm kín
nên Ban Giám Thị cũng như các cán bộ chưa ai biết gì cả.
Tối nay, anh sẵn sàng với các anh trong tổ văn hóa, khi có
lệnh thì sang hội trường cắt dán khẩu hiệu biểu ngữ
và các công tác cần thiết khác".
Ðêm đó, tôi, anh Ðinh Tiến Dũng,
anh Ðặng Hoàng Long, anh Phan Văn Ðệ, và vài anh nữa, uống
cà phê, hết cà phê đến uống trà, chờ lệnh. Nhưng mãi
đến nửa đêm, chẳng thấy gọi gì hết nên chúng tôi dẹp
và chui vô mùng.
Sáng hôm sau, 2 tháng 9, anh Dũng và
hai bạn của tổ văn nghệ, được lệnh lên nhà tên Hán,
Trung Tá trại trưởng, để trang trí. Trong lúc đó, tên Dục
-phụ tá giáo dục- cầm danh sách vào trại đưa tôi:
"Anh Hoa, anh đi gọi các anh có
tên trong danh sách này, bảo ăn mặc tươm tất, phải nhanh
tay càng sớm càng tốt sang tập trung tại hội trường để
lên nhà ông trại trưởng nghe đọc lệnh tha".
Vừa nhanh chân vừa lẹ mắt lướt
nhanh trên danh sách, tôi vui sướng khi thấy tên mình trên trang
cuối cùng. Lần lượt tôi đi gần như chạy đến các buồng
giam, đọc tên xong là lặp lại câu của tên Dục bảo chuẩn
bị nhanh để sang hội trường rồi lên nhà trại trưởng.
Riêng danh sách có 9 vị Tướng được ra trại thì tên quản
giáo buồng giam số 3 mang vào đọc. Tổng số là 92 người
được trả tự do chớ không phải hơn 200 như đồn đoán
căn cứ theo số người mà toán Công An đã gọi làm việc,
cũng như số lượng bộ quần áo nghe nói tụi hậu cần mang
về trại.
Tất cả rời hội trường trong
trại lên hội trường nhà trại trưởng. Lưu Văn Hán -trại
trưởng- cầm danh sách đọc tên cùng vài nét lý lịch của
từng người. Ðọc xong, tên Niệm -cán bộ giáo dục trại-
gọi anh Hoàng Thọ Nhu (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân, Tỉnh Trưởng
cuối cùng của Plei Ku) thay mặt những người được trả
tự do, phát biểu cảm tưởng. Thật ra anh Nhu đã được chỉ
định trước chớ không phải tự nhiên mà họ gọi anh phát
biểu. Rất có thể vì anh Hoàng Thọ Nhu là bà con sao đó với
tên Công An Hoàng Thọ Ðan, Giám Ðốc Công An Nam Ðịnh nên
được họ chỉ định thay mặt chúng tôi chăng, dù rằng trong
bao năm qua tại trại này chúng tôi thấy anh Nhu chẳng hưởng
ưu tiên gì cả. Khoảng năm 1981 hay 1982, trong đoàn quay phim
của Bộ Công An đến trại Nam Hà quay cuốn phim "Tình Và Tội",
có cô Hoàng Thọ Thanh Mai -con của Hoàng Thọ Ðan- thăm anh
Nhu. Còn thay mặt cho các vị Tướng được trả tự do, thì
Trung Tướng Nguyễn Hữu Có được họ chỉ định phát biểu.
Xong. Chúng tôi vào trại làm thủ
tục ra trại, vì toán Công An làm thủ tục đang chờ tại
hội trường của trại. Tôi bị chỉ định trách nhiệm liên
lạc giữa anh em chúng tôi với toán Công An áp tải chúng tôi
trên chuyến xe lửa về Sài Gòn.
Ngày hôm sau, chúng tôi nhận lại
đồ vật ký gởi, kể cả tiền. Tôi còn lại được 15.000
đồng.
Theo ý kiến của một số anh đau
yếu, tôi gặp cán bộ Quí, tên này phụ trách mua vé xe lửa
cho chúng tôi:
"Cán bộ có thể mua giúp anh em chúng
tôi càng nhiều càng tốt số vé có giường nằm, giúp các
anh già yếu bệnh hoạn, chúng tôi sẽ hoàn lại phần tiền
sai biệt cho cán bộ, được không?"
"Ðược. Ðể tôi lên Hà Nội
mới rõ".
Kết quả là 2/3 số người rời
trại ngày 9 tháng 9, và số anh em còn lại rời trại ngày
10 tháng 9 (1987). Số vé nằm dành cho chuyến đầu là 15 vé,
chuyến sau là 5 vé. Vậy là trong chuyến rời trại ngày 9,
tất cả 9 vị Tướng đều có vé nằm, 6 vé còn lại dành
cho các anh già yếu bệnh hoạn như anh Ðàm Quang yêu, anh Hồ
Tiêu, Thượng Tọa Thích Thanh Long, à
Chiều hôm ấy -2 tháng 9- nhân có
vợ và con trai của anh Nguyễn Viết Tân (Ðại Tá Hải Quân)
đang thăm anh ấy, giúp tôi gởi điện tín về Sài Gòn cho
vợ tôi biết là chiều ngày 12 tháng 9 tôi sẽ về đến Sài
Gòn bằng xe lửa tốc hành. Anh Tân vẫn trong tình trạng bại
liệt. Ðúng lúc anh được ra trại với chúng tôi, cũng là
lúc vợ và con trai của anh đến thăm, thế là anh được gia
đình đón ra trại và chăm sóc trên đường về Sài Gòn.
Sau khi bàn giao Tổ Văn Hóa cho anh
Nguyễn Hữu Vị (Trung Tá Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo),
tôi dọn sang buồng giam số 4. Tất cả anh em chúng tôi được
ra trại đều dọn sang buồng 4 chờ ngày rời trại. Tin đồn
đoán về mấy trăm bộ quần áo nói là phát cho những người
ra trại, nhưng thật ra không có gì hết. Còn đến mấy ngày
nữa mới rời trại nên xem như rảnh, tôi thử kiểm lại
đôi nét đặc biệt của một số bạn cùng bị giam trong trại
Nam Hà A này:
Về tuổi tác. Cụ Nguyễn
Chấn Á 84 tuổi là tuổi cao nhất, nguyên là Thiếu Tướng
trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan). Cụ về Việt
Nam giữ chức Cố Vấn ngành Chiến Tranh Chính Trị. Suốt thời
gian trong tù, sáng nào cũng vây, mùa đông cũng như mùa hè,
Cụ đều tắm nước lạnh sau bài tập thể dục. Cụ được
sự kính nể của các vị Tướng trong cùng buồng giam, và
hầu hết anh em trong trại này. Cụ nói tiếng Việt không rành,
nhưng vui tính và tốt bụng.
Nhỏ tuổi nhất là Nguyễn Minh Chí,
vừa tròn 30 tuổi tính đến năm 1987. Bị bắt năm 1976 khi
tham gia tổ chức Phục Quốc do Công An trá hình tổ chức.
Sau thời gian bị biệt giam ở trại Mễ (Phủ Lý) trở về,
vì cô đơn nên bất mãn quậy phá anh em. Khi trại trưởng
Bùi Dênh hỏi tôi có nhận anh bạn trẻ này vào Tổ Văn Hóa
không vì không Ðội nào chịu nhận cả. Tôi bằng lòng nhận,
vì tôi quan niệm ai cũng có cái hay lẫn cái dở, và tôi cố
gắng sử dụng cái hay của anh bạn trẻ này. Thế là Nguyễn
Minh Chí thay chỗ cho anh bạn trẻ Ðinh Vượng đã ra trại
hồi tháng 4 năm 1985. Nguyễn Minh Chí học không nhiều nhưng
thông minh. Thật ra sự thông minh này một phần do bẩm sinh,
và phần khác là do thời gian bụi đời trước năm 1975 mà
có. Minh Chí tựa vào tên Vượng -cán bộ an ninh- mà nền tảng
là vật chất do Chí vào trong trại xin cho hắn, nhất là xin
anh Phạm Kim Qui, nên bạn trẻ này được xem là "có thế lực"
trong sự liên lạc giữa anh em trong trại với cán bộ an ninh.
Những anh em nào giúp cho Chí món gì để cung phụng cho tên
Vượng, ít nhiều cũng được tên Vượng đền bù qua những
"ưu tiên" gì đó từ quyền hạn của hắn.
Về sức khỏe. Anh Lâm Minh
Chánh (Phủ Ðặc Ủy Tình báo), ít tuổi mà bệnh hoạn nặng
nhất và lâu nhất. Anh bị suyễn rất nặng, gần như cấp
cứu thường xuyên ở trạm xá. Anh chưa được ra trại trong
đợt này. Người nhiều tuổi mà tưởng chừng tắt thở đôi
ba lần là anh Hồ Tiêu (Ðại Tá Nhẩy Dù). Anh tròm trèm 70
(1987) nhưng vẫn tập tạ, sau lần thăm gặp gia đình thì sức
khỏe suy kém nhanh không thể tưởng, giờ thì suy nhược hẳn
rồi. Anh cùng ra trại trong đợt này với chúng tôi. Cụ Hoàng
Văn Úy bị bệnh phổi, cứ mùa đông đến cụ cũng khốn
khổ như các anh bệnh bao tử. Rất nhiều anh bị những bệnh
khó trị, như bệnh trĩ, bệnh gan, bệnh bao tử, bệnh suyễn,
thậm chí có cả bệnh ung thư nữa. Vào mùa đông, những anh
bệnh bao tử với bệnh suyễn là khốn khổ nhất. Bệnh bao
tử thường phải cúi gập người xuống cho giảm cơn đau,
còn bệnh suyễn thì lúc nào cũng như người ngộp thở vậy.
Hầu hết những anh bị bệnh khó trị đều ở buồng giam
số 7
Nhớ đến cái chết của cựu Thiếu
Tướng Ðoàn Văn Quảng, một thời ông là cấp chỉ huy trực
tiếp của tôi khi ông là Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
Ðang lúc rửa vài cái chén sau cơm chiều, ông cảm thấy mệt
và vào chỗ nằm trong buồng giam số 3. Một lúc thì ông chết.
Ðến cái chết của anh Trần Hữu Dụng (Ðại Tá, bị cộng
sản bắt khi Ban Mê Thuột thất thủ). Một buổi sáng khi điểm
danh ra cửa, tên Lực trực trại hỏi anh trực buồng:
"Còn thiếu một anh. Anh vào xem
lại ngay".
Anh trực buồng vào buồng giam xem
lại, thấy anh Dụng còn nằm trong mùng, đến lay anh dậy thì
người anh lạnh ngắt. Hoảng quá:
"Báo cáo cán bộ, anh Dụng chết
rồi".
Tên Lực vào xem. Quả thật anh Dụng
đã tắt thở. Hắn bảo anh trực buồng:
"Anh cho anh nào xuống trạm xá
kêu anh Quýnh lên xem".
Bác sĩ Quýnh được dẫn vào vì
đôi mắt bác sĩ Quýnh rất mờ. Anh Quýnh nói:
"Anh nào vào sờ dưới đít anh Dụng
xem có ướt không?"
Chỗ đít anh Dụng trên sàn xi măng
ướt nhẹp, bác sĩ Quýnh kết luận:
"Báo cáo cán bộ, vậy là anh Dụng
chết vì trúng gió".
Thế là anh em khiêng xác anh Dụng
xuống trạm xá lo chôn cất trong khi anh Trần Hữu Pháp (em
ruột) và anh Trần Hữu Từ (em bà con) được lệnh kiểm lại
đồ đạc của anh Dụng để sau này trao lại gia đình. Phải
công nhận rằng, trong số hằng mấy chục anh em tù chính trị
chúng tôi chết tại trại Nam Hà A này, cho đến lúc ấy, duy
nhất chỉ có anh Dụng được trại cho phép chúng tôi tẩn
liệm mai táng và chôn cất rất chu đáo. Lúc tẩn liệm, khiêng
xác anh cho vào quan tài không lọt vì cái quan tài nhỏ quá,
phải để xác anh nghiêng một bên, Thượng Tọa Thích Thanh
Long nói như đang thật sự nói với anh Dụng:
"Thôi, làm khó anh em chi vậy, ráng
thu nhỏ bề ngang một chút để nằm ngửa ra cho anh em còn
lo tiếp nữa chứ".
Anh em, nhất là anh Tạ Ðình Siêu
(Ðại Tá Thiết Giáp) sốt sắng lắm. Anh Siêu lắc lắc mãi,
cuối cùng thì thi hài anh Dụng cũng nằm ngửa được. Hương
linh anh Dụng được nghe lời kinh cầu nguyện của Thượng
Tọa Thích Thanh Long. Khi chôn, đám Công An trực trại cho 11
anh em chúng tôi khiêng quan tài anh đến bên kia triền núi,
nơi có đào huyệt cũng do anh em chúng tôi đào. Khi chuyển
quan tài, tôi cầm bình hương, thầy Thanh Long theo đọc kinh.
Anh Siêu trách nhiệm điều hợp anh em từ lúc rời trại đến
lúc chôn cất xong. Có cắm miếng ván nhỏ viết mấy dòng
chữ thay mộ bia cho anh.
Viết đến đây tôi chợt nhớ đến
anh Ðỗ Xuân Sinh (Ðại Tá Quân Nhu) lúc ở trại tập trung
trên Yên Bái. Anh bị suyễn nặng lắm. Vợ anh từ bên Pháp
gởi thuốc cho anh thật nhiều. Anh biết bệnh trạng của anh,
nên những thuốc anh thường dùng đều ngay trên đầu nằm
để khi cần là lấy cho kịp. Nhưng rồi anh chết ngay trên
cái vạt giường bằng cây chổm, chỉ vì anh không lấy kịp
thuốc. Ðến anh Lê Minh Luân (Ðại Tá Không Quân) cũng chết
trên Yên Bái. Trước ngày chết, anh vẫn kêu gào ly cà phê
mà lúc ấy làm sao có cà phê. Với lại anh nằm ở trạm xá
thuộc Liên Trại 1 trong khi chúng tôi ở trại 2 (thuộc Liên
Trại 1), nhưng đâu có cách nào tìm cho anh được ly cà phê!
Lại nhớ đến anh Nguyễn Bá Thình tự Long, có lẽ anh là
người tù chính trị cấp Ðại Tá chết đầu tiên tại trạm
xá của Ðoàn 776 tại thị xã Yên Bái, sau khi từ trại Tam
Hiệp (Biên Hòa) chuyển ra đây. Khi ở trại Tam Hiệp, xương
chân phải của anh bị thúi, có thể là anh bị ung thư xương
nhưng họ có đưa đi khám nghiệm gì đâu mà biết. Người
chết sau đó cũng tại trạm xá Ðoàn 776 là anh Huỳnh Hữu
Ban(Ðại Tá, Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu).
Người mà tôi xem như đặc biệt
nhất là bác sĩ Trương Văn Quýnh. Ông gần như bị mù nhưng
chẩn đoán bệnh đến mức bác sĩ cộng sản ở bệnh viện
Phủ Lý cũng nể ông. Bác sĩ Quýnh chẩn đoán bằng đôi tay,
bằng cách hỏi bệnh nhân, và bằng sự mô tả của anh phụ
tá là Trần Xuân Ðức (Ðại Tá, Sở Kỹ Thuật trực thuộc
Bộ Tổng Tham Mưu). Chính ông đã kết luận đầu tiên ông
Nguyễn Duy Xuân bị ung thư di căn, anh Nguyễn Lương Bằng (Phủ
Ðặc Ủy Tình Báo) bị ung thư lưỡi (chết trước ông Xuân),
và anh Nguyễn Phát Lộc bị ung thư máu.
Kể chuyện giải sầu. Rất
nhiều anh có tài này. Anh Nguyễn Phát Lộc (Phủ Ðặc Ủy
Tình Báo) có tài kể chuyện chưởng, truyện phim ngoại quốc,
truyện trinh thám qua sách báo. Anh rất nghiêm chỉnh khi kể,
trong khi anh Nguyễn Kim Tây (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân) là cây
kể chuyện chưởng mà chúng tôi gọi là "chưởng thời đại"
rất ư là tiếu lâm. Khi anh Tây kể chuyện làm cho người
nghe đôi khi cười đến ôm bụng, cười ra nước mắt, có
anh cười đến té đà, chẳng hạn như truyện chưởng mà
có bắn súng thay vì đánh võ đánh kiếm, đi xe du lịch thay
vì cưỡi ngựa. "Máu tiếu lâm" của anh Tây có khả năng giúp
người nghe giải sầu tức khắc, tuy có lúc nghe "hơi tục
mà thanh", cứ như nghe thơ của bà Hồ Xuân Hương vậy. Anh
Lê Minh Chúc (Ðại Tá) kể chuyện dưới dạng vừa dịch vừa
kể chuyện ngoại quốc cho anh em trong buồng giam nghe, chẳng
hạn như quyển "Hãy Ðể Ngày Ấy Lụi Tàn" của tác giả
người Anh, viết về một chuyện tình giữa người thanh niên
da trắng với người phụ nữ da đen, sinh ra đứa con "trắng
nhiều hơn đen". Chuyện xảy ra trên đất nước Nam Phi dưới
thời Anh Quốc cai trị. Thời ấy "kỳ thị chủng tộc" là
chính sách rất tồi tệ. Thật ra không phải cứ ai kể chuyện
vui mà mọi người cười hết đâu, cần có "khoa ăn nói" nữa.
Anh Tây kể chuyện thì y như rằng, anh em trong buồng giam đều
cười vui vẻ.
Nguồn chuyện kể giải sầu riết
rồi cũng cạn, lúc ấy đến lượt tôi, nhưng chuyện mà tôi
kể không phải chuyện vui mà là chuyện để suy ngẫm. Chuyện
bắt đầu khi tôi lên tiếng:
"Các bạn ơi! Tôi thử kể chuyện
này, nếu các bạn nghe được thì tôi kể tiếp. Nếu không
thì tôi chấm dứt ở đó".
"Anh kể đi. Chưa kể thì biết đâu
mà nghe được với không được". Một bạn lên tiếng.
Tôi bắt đầu kể về những lệnh
mà tôi nhận, những việc mà tôi làm, và những nhận xét
của tôi từ những lệnh và những việc làm đó trong cuộc
Ðảo Chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Lúc ấy khuya lắm rồi,
tôi kể chưa hết nhưng chừng như chẳng còn ai thức, nên
tôi chui vào mùng. Hai ba anh cùng lên tiếng một lúc:
"Trời ơi! Sao đến đó rồi ngưng
ngang vậy anh?"
"Ô! Tôi tưởng là các anh ngủ hết
rồi nên tôi ngưng. Nếu vậy thì tôi kể tiếp".
"Chuyện hấp dẫn như vậy mà ngủ
sao được. Mai là chủ nhật, kể nữa đi".
Thế là từ đêm đó, cứ sau khi
cửa buồng giam khóa "crắc" một cái là tôi bắt đầu kể
chuyện. Lần lượt đến cuộc Ðảo Chánh ngày 30 tháng 1 năm
1964, cuộc Biểu Dương Lực Lượng ngày 13 tháng 9 năm 1964,
cuộc Ðảo Chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965, quân đội lãnh đạo
quốc gia từ ngày 19 tháng 6 năm 1965, cuộc Khủng Hoảng miền
Trung từ ngày 9 tháng 3 năm 1966, Phước Long vào tay cộng sản
ngày 7 tháng 1 năm 1975, Ban Mê Thuột mất ngày 13 tháng 3 năm
1975, rút bỏ các tỉnh Cao Nguyên ngày 17 tháng 3 năm 1975, và
Giờ Thứ 25 của cuộc chiến tranh bảo vệ tự do dân chủ.
Tôi kể liên tục trong 9 đêm thì hết chuyện.
Khi kể lại, tôi có hai điều lợi:
Thứ nhất là nhân vật trong chuyện kể có cựu Thiếu Tướng
Huỳnh Văn Cao và cựu Ðại Tá Ðàm Quang Yêu. Cả hai vị này
cùng trong cuộc Khủng Hoảng miền Trung. Kể xong chuyện đó,
tôi hỏi hai vị thấy tôi có điều gì sai sót xin vui lòng
cho biết. Anh Yêu nói "thế là đủ rồi", trong khi ông Cao chỉ
cười cười mà không nói gì hết. Ðiều lợi thứ hai là
khi tôi kể, cùng lúc ký ức tôi nhận lại. Như vậy, xem như
tôi cập nhật hóa những gì mà ký ức tôi lưu giữ. Cũng
nhờ vậy mà tôi lén lút viết lại và "gởi chui" về Sài
Gòn vợ tôi cất giấu.
Về đàn hát. Anh Ðào văn
Ba và anh Nguyễn Văn Quí, được anh em xếp vào "bậc thầy"
về guitare với những bài tân nhạc, nhưng về nhạc cổ điển
có lẽ không ai hơn anh Phạm Kim Qui, kế đó là anh Ðặng Hoàng
Long. Hát nhạc ngoại quốc, khó anh nào đương nỗi với anh
Phạm Gia Ðại với anh Bửu Uy. Anh Phạm Kim Tấn cũng là "cây
hát" nhạc tây nhưng giọng anh "rè quá" nên khó xếp hạng
được. Hát nhạc Việt Nam, phải công nhận là giọng của
anh Ðinh Tiến Dũng với anh Nguyễn Dũng là hấp dẫn nhất.
Nét đặc biệt của anh Nguyễn Dũng là chui vào mùng hát. Trong
số các anh hát hay, phải kể đến anh Phạm Văn Hòa (Trung
Tá Không Quân) là ca sĩ số một với giọng "người Mỹ hát
nhạc Việt".
Về đá banh. Anh Kim Tấn và
anh Chu Mạnh Bích (Ðại Úy Không Quân) là có kỹ thuật nhất.
Anh Vũ Quang Tỉnh mà chúng tôi thường gọi là "Quách Tỉnh"
một nhân vật trong truyện chưởng Trung Hoa thời phong kiến,
thì đá theo sức mạnh. Anh Nguyễn Văn Hóa (Ðại Úy Không
Quân) di tản tháng 4 năm 1975, nhưng lại theo tàu Việt Nam Thương
Tín trở về nên bị bắt nhốt chung với chúng tôi. Anh cùng
ra trại trong đợt này. Anh đứng hàng hậu vệ là số một.
Anh Cao Văn Ủy (Ðại Tá Biệt Ðộng Quân) thủ môn thuộc
hạng khá của đội "lão tướng" nhưng phải tùy hứng. Anh
bạn trẻ Ðinh Vượng cũng là thủ môn có hạng. Khi vào sân
là anh bạn trẻ này liều mạng lắm. Anh bạn trẻ khác là
Nguyễn Minh Chí, khắp sân chỗ nào cũng có mặt, cứ có banh
là đá còn trái banh muốn đi đâu thì đi.
Về tướng số tử vi. Anh
Nguyễn Phát Lộc, trước năm 1975 đã xuất bản hai quyển
sách về loại này. Có lần anh nói với tôi và các bạn:
"Tôi không thể giải đáp cho lá
số của chính tôi. Theo lá số, tôi không chết trong trại
tù, cũng không chết ở nhà".
Sau khi tôi ra trại khoảng 6 tháng
thì trại Nam Hà có đợt tha, và trong số đó có anh Lộc.
Ðiều mà anh Lộc không có giải đáp cho lá số của anh, thì
ngay trong đợt tha dường như là tháng 4 năm 1988 có giải đáp,
nhưng tiếc là tự anh không xác định được. Theo thư của
anh Nguyễn Hữu Vị gởi cho tôi, khi anh Lộc nhận được lệnh
tha ra trại cùng lúc có cô em gái út đến thăm. Vì sức khỏe
quá kém, nên trực trại cho anh em khiêng anh ra nhà thăm nuôi
để gặp ga đình, và anh Lộc chết tại đây. Vậy là lá
số của anh rất đúng, vì anh không chết tại nhà cũng không
chết tại trại, cầm giấy ra trại trong tay để rồi chết
tại nhà thăm nuôi (Khi ra trại, tôi thường gởi thư chui cho
anh Vị kể những chuyện của anh em chúng tôi, và những oái
oăm trong xã hội xã hội chủ nghĩa).
Anh Ðoàn Túc (cựu Trung Tá) cũng
là một "nhà bói toán" có hạng. Anh bói cho một số anh liên
quan đến chuyện nhà, ngay cả chuyện các anh ấy được về
trong khoảng thời gian nào, đa số đều đúng.
Trở lại chuyện tôi ra trại.
Trong những ngày chờ lên xe lửa, anh em chúng tôi chung góp
được 23.000 đồng để giúp hai bạn tù cùng về:
- Anh thứ nhất được 13.000 đồng
là anh Lê Văn Khương (Phó Quản Ðốc Nhà Lao Côn Sơn). Trong
thời gian bị giam ở trại "Cổng Trời" sát biên giới với
Trung Hoa cộng sản, đã bị chúng nó hành hạ đến mức không
đi được nữa nên không thể cùng đi xe lửa với chúng tôi,
mà trại chờ người nhà đến đón mới cho ra trại. Anh Huỳnh
Kim Bình (Ðại Úy) và vợ, nhận trách nhiệm mang tiền đến
trao cho gia đình anh Khương, đồng thời chị Bình sẽ hướng
dẫn gia đình này ra trại Nam Hà đón anh ấy về, vì nhà anh
chị Bình cùng ở Long Xuyên. Cũng may là chị Bình khi đến
trại thăm thì biết tin anh Bình được ra trại, nên chúng
tôi nhờ tên Quí mua vé để anh chị được về cùng chuyến
xe lửa. Về đến Sài Gòn, gia đình anh Trang Văn Ngọ (Trung
Tá Không Quân) gởi cho gia đình anh Khương thêm 11.000 đồng
nữa để đủ cho hai người ra đón anh Khương.
- Anh thứ hai là anh Huệ được
10.000 đồng. Anh Huệ lúc bị giam ở trại Tam Hiệp tự xưng
là "Thiếu Tướng Nguyễn Huệ, Tư Lệnh Sự Ðoàn 23B", vì
anh bị thần kinh nên Ðại Ðức Thích Minh Tâm (cùng ra trại)
nhận anh ấy về chùa ở Hóc Môn tạm trú, sau đó sẽ hướng
dẫn về quê dường như cũng ở Long Xuyên thì phải.
Ngày 9 tháng 9 năm 1987, trại cho
chúng tôi bữa cơm trưa, có thịt có rau, nhưng ai cũng nôn
nóng ra khỏi cái trại hắc ám này nên có ăn được bao nhiêu
đâu. 11 giờ trưa bắt đầu ra cổng. Tôi đi sau cùng, nhưng
không dám quay lại nhìn các bạn đứng bên trong cổng. Nếu
tôi nhìn vào trại, rất có thể là tôi không cầm được
nước mắt! Sau 3 tiếng đồng hồ, ba chiếc xe già cỗi cà
rịch cà tang trên con đường đá từ trại ra Phủ Lý, quẹo
phải sang quốc lộ 1 để xuống ga Nam Ðịnh. Tại đây có
tổ quay phim thu hình chúng tôi, và nghe nói tổ này sẽ theo
chúng tôi vào Sài Gòn tiếp tục thu hình nữa. Chắc chắn
là những thước phim đó, họ sẽ sử dụng để "quảng cáo"
trong quốc nội lẫn quốc tế về điều mà bọn họ gọi
là "khoan hồng nhân đạo" với thành phần mà họ gọi là
"ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn".
4 giờ 30 chiều ngày 9 tháng 9 năm
1987, chuyến xe lửa tốc hành Hà Nội-Sài Gòn rời ga Nam Ðịnh.
Chúng tôi ngồi chung trong một toa. Sau khi rời Nam Ðịnh một
lúc, hai anh mặc đồng phục công nhân xe lửa đến đứng
giữa toa, một anh giới thiệu:
"Ðây là anh Trưởng Tàu" (người
miền Bắc gọi là tàu lửa, người miền Nam gọi là xe lửa).
Vừa nói anh ta vừa chỉ anh đứng cạnh. Và anh "trưởng tàu"
bắt đầu:
"Mấy chú được dành toa đặc
biệt này trên đường về nhà ..."
Một bạn ngắt ngang: "Thế nào là
đặc biệt vậy anh?"
"Ðặc biệt vì toa này có đèn
điện, với lại tương đối sạch so với các toa kia".
"Vậy hành khách trên các toa kia
tối đen à?"
"Các toa kia dùng đèn dầu xách
tay".
"Sao các băng ngồi chỉ trơ gỗ
mà không có nệm vậy anh?"
"Mấy chú đi cải tạo lâu quá
nên không hiểu gì về những sinh hoạt trong xã hội bây giờ.
Tôi nói cho mấy chú biết là khi về nhà, mấy chú không nên
thắc mắc bất cứ điều gì với địa phương, vì không có
lợi cho mấy chú đâu?"
"Sao kỳ vậy?"
"Mấy chú nên nghe tôi. Còn muốn
biết tại sao thì về nhà một thời gian mấy chú sẽ hiểu.
Những toa này do Ấn Ðộ viện trợ, nhưng chỉ 24 tiếng đồng
hồ sau thì tất cả những gì tháo gỡ được đều mất hết,
ngay cả thắng xe cũng bị mất cắp nữa, chỉ còn trơ lại
toa tàu thôi. Nếu họ đem toa tàu đi được thì chẳng còn
toa nào đâu".
"Sao tệ quá vậy?"
"Tôi nhắc lại. Mấy chú đừng
nên thắc mắc gì cả, mọi việc rồi mấy chú cũng quen như
mọi người thôi. Tôi nói thêm: Khi tàu gần đến Quảng Trị,
mấy chú phải đóng cửa sổ lại, vì có những đám thanh
niên ném đá hoặc bắn đá vào xe đó. Ðã có những hành
khách bị thương rồi".
"Xã hội chủ nghĩa ghê thiệt!"
Anh trưởng tàu nhìn về hướng
phát ra âm thanh, chừng như anh ta không có ý tìm ai nói, mà
chỉ quay về hướng đó để nhắc lại lời khuyên của anh
ta:
"Một lần nữa tôi nhắc mấy
chú, về địa phương đừng bao giờ thắc mắc gì hết, thấy
vậy hay vậy là tốt. Chẳng hạn như thắc mắc vừa rồi,
mấy chú sẽ bị ghép vào tội chống đối nhà nước đấy.
Mấy chú ráng nhớ giùm tôi".
Nói xong là anh ta xoay lưng đi ngay,
chừng như sợ phải nghe tiếp những thắc mắc tương tự.
Thật lòng mà nói, sau hơn 12 năm
trong các trại tập trung từ trong Nam ra đất Bắc, ngay ngày
đầu tiên bước vào xã hội xã hội chủ nghĩa, chỉ với
những sinh hoạt ngay trên chuyến xe lửa thuộc loại "tốc
hành" này, đã trở nên lạ lẫm với tôi rồi. Lúc chiều,
anh trưởng tàu nói đây là toa xe đặc biệt mà lại nệm
ngồi không có, nệm tựa lưng cũng không có, cầu tiêu thì
dơ ơi là dơ! Ðêm đầu tiên, tôi lần qua các toa tìm đến
toa hàng ăn để uống ly cà phê, mới nhận ra nỗi khổ của
hành khách đi xe lửa dù là xe lửa tốc hành, tức là chỉ
dừng lại những ga chính thôi. Dưới ánh sáng lờ mờ của
những ngọn đèn dầu leo lét, thật khó mà tưởng tượng!
Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai băng phía
bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên của
hai băng 6 người ngồi, máng được 3 cái võng cho 3 người
nằm, 1 người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy nhụa
giữa 2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng nằm co
quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ
thấy, băng ngồi đầy người nằm, những chiếc võng bé xíu
che kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp
cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hỗn
độn. Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô,
biết bao là nhọc nhằn gian khổ! Cứ mỗi bước đi phải
chen từng bước chân giữa người với hành lý, vì ngay cửa
vào cầu tiêu cũng chật kín người. Vậy mà, không đụng
chân cũng chạm tay, có lúc lại đạp nhầm lên gói hành lý
nữa, trong khi hai tay phải khép sát vào ngực mới mong tránh
va chạm vào những người nằm trên cái võng bé xíu từ đầu
băng bên này sang đầu băng bên kia. Ðến cuối toa xe đứng
nhìn lại, cái cảnh tượng thật là buồn cho đất nước
Việt Nam mình bất hạnh quá!
Giả thử, nếu những ông chồng
như anh em chúng tôi chứng kiến những hành khách nằm cong
queo trong cái gọi là chiếc võng kia, hay co quắp giữa những
gói quà đầy ấp tình thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là
những bà vợ của mình, liệu có cầm được nước mắt không?
Tôi nghĩ, nghe nói lại, nghe thuật lại, ông chồng nào cũng
đớn đau thương cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh năm
gánh gạo nuôi chồng! Nhưng không có đớn đau thương cảm
nào có thể đem cân bằng nỗi đớn đau thương cảm của
những bà vợ trọn tình vẹn nghĩa như vậy được cả!
Từ hình ảnh này tôi chợt nghĩ
đến những chuyến vợ tôi cùng những chị bạn, lăn lốc
trên những toa xe như thế này trong khi mang theo hằng trăm kí
lô hành lý thức ăn thuốc uống, vất vả biết ngần nào!
Ðâu đã hết, theo lời vợ tôi kể lại, vì muốn rút ngắn
thời gian khỏi phải lên Hà Nội rồi quay trở xuống, nên
"hối lộ" 200 đồng cho anh trưởng tàu khi ngang Phủ Lý xe
chạy chậm lại, lúc ấy vợ tôi nhảy xuống cùng với vài
thùng hàng, phần còn lại trên xe nhờ các chị bạn đẩy
xuống giùm. Vợ tôi lần lượt gom lại, chờ xe trại đi công
tác về ngang chở vào trại với một số tiền nhất định
chớ không phải họ chở giùm đâu. Cái giá để gọi là sòng
phẳng, là từ 50 đến 100 hay 200 tùy lượng hàng nhiều hay
ít. Thuật lại quí vị quí bạn nghe đơn giản lắm, nhưng
thật ra rất gian nan khi đi dọc theo đường xe lửa, bưng từng
gói từng thùng gom lại. Có một lần vì trời chưa sáng hẳn,
có những bóng đen lấy những gói hàng chạy mất vào bóng
tối. Ðành chịu thôi! Gian nan lắm quí vị quí bạn à!
Ðó là nỗi khổ trên xe lửa, bây
giờ mới quí vị quí bạn theo chân tôi đi tắm, mới cảm
nhận được nỗi khổ của phụ nữ nói chung, và các bà vợ
của tù chính trị chúng tôi nói riêng, khi đi tắm. Trước
khi rời trại, tôi chuẩn 3 bộ đồ lót loại có thể cho "về
hưu" mà không thương tiếc để mỗi khi tắm xong là bỏ lại
tại chỗ. Xe ngừng, tôi vừa đi vừa chạy tìm chỗ tắm.
Mua thùng nước 200 đồng, xách vội vào khu vực tắm tìm chỗ
trống. Vừa máng cái khăn và áo quần lót lên vách thì tiếng
phụ nữ bên ngoài ơi ới:
"Lẹ lẹ lên các anh chị ơi, cho
tôi tắm với".
Nhìn thấy một bà sồn sồn và
hai cô gái, tôi xách thùng nước với áo quần trở ra:
"Chị vào đây tắm đi, tôi tắm
bên ngoài".
"Cám ơn anh quá".
Tắm xong, tôi bỏ áo quần ướt
lại đó như dự tính, có điều là lúc dự tính tôi không
nghĩ "chúng nó về hưu" trong tình cảnh ướt nhẹp như vậy.
Tôi mua thùng nước khác xách lại xe lửa để anh Trà tắm
trên xe. Chuyện là tôi với anh Nguyễn Ðình Trà ngồi cạnh
nhau, và chúng tôi phân công mỗi khi đến ga Huế, Qui Nhơn,
Nha Trang, anh Trà chạy mua thức ăn, tôi tắm xong đem về anh
thùng nước. Khi xe chạy, anh tắm xong, hai chúng tôi cùng ăn.
Trở lại với chuyến về của anh
em chúng tôi. Có hai Công An -một nam một nữ-theo áp giải
chúng tôi về Sài Gòn. Nam tên Ðính và nữ tên Ngân, cô ta
là y tá. Tại nhà ga Nam Ðịnh, hắn bảo tôi:
"Anh Hoa. Anh thu lại tất cả Giấy
Ra Trại rồi đưa tôi. Khi hoàn tất thủ tục tại Chí Hòa
xong tôi sẽ trao lại các anh".
"Thủ tục gì mà phải làm ở khám
Chí Hòa cán bộ?"
"Về đến thành phố, các anh
còn phải vào Chí Hòa, sau đó mới tự do. Anh biết vậy là
được rồi, đừng có hỏi nữa".
"Vì cán bộ nói lững lờ như vậy
làm tôi thêm thắc mắc. Cán bộ có thế cho tôi biết sự
thể như thế nào không?"
"Anh đừng hỏi nữa. Tôi chỉ
được lệnh của trên như vậy thôi".
Trong số anh em chúng tôi có một
số bạn có gia đình ở Huế, Ðà Nẳng, Nha Trang muốn ghé
nhà trước khi vào Sài Gòn trình diện, vì theo trong giấy đến
hết tháng 9 mới hết hạn trình diện, nhưng nói cách gì hắn
cũng không chịu. Vì vậy mà anh em chúng tôi đồng ý với
nhau, không mời hai đứa nó ăn uống gì hết mà khi rời trại,
tôi và vài anh có ý định mời họ ăn uống với chúng tôi
trên hành trình Nam Ðịnh-Sài Gòn.
Từ Biên Hòa về đến Sài Gòn,
tôi lấy làm lạ là trên quãng đường này, từng bao hàng
loại 50 kí lô được thả xuống vệ đường, có thể nói
giống như trường hợp vợ tôi đẩy những gói những thùng
xuống Phủ Lý vậy. Có điều là những bao hàng này khi xuống
đường là có người đến nhận bỏ lên xe hai bánh chở đi
ngay.
Trước khi đến Hòa Hưng (Sài Gòn),
Công An Ðính bảo tôi khi xe vào nhà ga, tất cả anh em chúng
tôi phải tập trung một chỗ để xe đưa vào nhà giam Chí
Hòa làm thủ tục trước khi ra về.
6 giờ chiều 12 tháng 9 năm 1987,
chuyến "xe lửa tốc hành" sau 70 giờ 30 phút chạy tà tà trên
quãng đường dài 1.736 cây số, cuối cùng cũng vào nhà ga
Hòa Hưng. Rất đông thân nhân chúng tôi đứng đầy bên ngoài
nhà ga. Khi xe lửa dừng hẳn, bà con ra sát bên hông xe mong
gặp người thân. Ðón tôi có vợ tôi và vợ chồng đứa
em thứ tư của vợ tôi là Triệu Văn Lễ từ Vĩnh Long lên.
Tôi đưa vợ tôi cái túi xách đựng đồ lặt vặt, trong khi
cái "ba lô" với tất cả áo quần và đồ dùng thường ngày
vẫn trên lưng, vì tôi phải đề phòng không biết bọn họ
nói chúng tôi vào nhà giam Chí Hòa làm thủ tục, hay lại nhốt
chúng tôi nữa, lúc ấy có mà dùng. Tôi nói:
"Em ơi! Bây giờ tụi Anh còn phải
vào làm thủ tục gì đó ở nhà giam Chí Hòa mới về được.
Em đem cái túi xách về nhà trước, còn Lễ đến chờ Anh
ở cổng nhà giam Chí Hòa".
Vợ tôi nói: "Liệu họ có nói đúng
không Anh?"
"Biết làm sao được Em. Cứ tạm
tin là họ chỉ làm thủ tục thôi. Nếu có gì khác thì mọi
người đứng chờ bên ngoài sẽ biết được mà. Em với Nhung
(vợ của Lễ) về trước nhé!"
Thế rồi xe của nhà giam đưa chúng
tôi vào Chí Hòa. Tên Công An nào đó giảng giải về chính
sách nhân đạo, về thủ tục xin thẻ "chứng minh nhân dân",
phải thi hành tốt những lệnh của địa phương, ..v..v…
Ðiều mà họ nói làm thủ tục là như vậy, và lúc ấy thật
sự chúng tôi được ra về. Lúc ấy, họ trả Giấy Ra Trại
cho chúng tôi. Ra đến cổng, em tôi đang chờ ở đó, đưa
tôi về nhà bằng xe Honda. "Giấy ra Trại" của tôi số 122
với mã số hồ sơ là "00087801342" do tên Thượng Tá Công An
Lưu Văn Hán, trưởng trại Nam Hà ký ngày 9 tháng 9 năm 1987,
do căn cứ Quyết Ðịnh tha số 18 ngày 31 tháng 8 năm 1987 của
Bộ Công An. Trong giấy này ghi tôi can tội "Ðại Tá, Tham Mưu
Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận Bộ Tổng Tham Mưu. Xã hội xã
hội chủ nghĩa có những cái tội nghe "lạ tai" quá! Bị bắt
ngày 24 tháng 10 năm 1975 theo án lệnh "tập trung cải tạo".
Sau án 3 năm đầu, tôi bị tăng án đến 3 lần, mỗi lần
3 năm. Cũng trong Giấy Ra Trại ghi họ bắt tôi ngày 24/10/1975
mà thật ra là ngày 14/6/1975. Số tù của tôi là 968 mà họ
gọi là số danh bạ.
Vậy là, khi vào trại tập trung,
con tôi đưa tôi bằng xe Honda 2 bánh. Khi từ trại tập trung
trở về, em tôi đón về nhà cũng bằng xe Honda 2 bánh. Chuyện
ngẫu nhiên!
Tính đến lúc ấy, tôi là
tù chính trị 12 năm 2 tháng 27 ngày và 6 tiếng đồng hồ!
Nếu số ngày tính tròn là 28 ngày!
Vào nhà rất đông đủ người thân:
Ngoài vợ tôi, có Ba Má tôi, Dượng tôi (Dì tôi đã chết),
vợ chồng của em vợ tôi (Lễ & Nhung), một bà Cô (Cô
Bảy), và một số bạn bè hàng xóm. Tôi rất vui mừng khi
thấy Má tôi đứng và đi được từng bước. Mừng, vì Má
tôi bị đứt mạch máu và liệt nửa người bên trái. Vợ
tôi đưa Má tôi về Sài Gòn, và theo chỉ dẫn của chị Nhan
Minh Trang -cũng bị liệt nửa người- hằng ngày vợ tôi đưa
Má tôi đến nhà một người ở gần trường đua Phú Thọ
mà hàng xóm gọi là "Thầy Năm" để bấm huyệt. Chỉ một
tuần sau đó Má tôi đứng được, và xem là tốt như tình
trạng hiện giờ.
Ngay sau đó, vợ chồng tôi sang nhà
cái bà có cái chức "Tổ Trưởng Tổ Dân Phố" để trình
diện. Ngày hôm sau, vợ chồng tôi đến trình diện Công An
"khu vực", tiếp đó Công An Phường 25, Quận 10, ở ngay trong
cư xá Bắc Hải. Tại đây, tôi phải chờ tên Phó Công An
Phường phụ trách chính trị ký xác nhận trên giấy ra trại,
mới được xem là hợp lệ. Vài hôm sau tôi mới nhận ra quyền
lực của "Công An khu vực" gần như "Công An quản giáo" trong
trại tập trung. Bà Tổ trưởng tổ dân phố là vợ của đại
tá cộng sản, cùng với tên Công An khu vực, là "hai tên cộng
sản quyền lực" đối với gia đình cựu tù chính trị chúng
tôi trong khu vực này. Riêng với gia đình tôi, từ sau khi các
con chúng tôi vượt biển đến Hoa Kỳ an toàn, bà ta trở nên
thù hằn nhất mà bằng chứng là thường xuyên gây khó khăn
đến mức không cho Ba Má tôi từ Sa Ðéc lên ở trị bệnh.
Nhưng vợ tôi cứ liều mạng rồi mọi việc vẫn êm xuôi.
Làm thủ tục tại địa phương
xong, vợ chồng tôi đến bưu điện gởi điện tín cho các
con chúng tôi ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, rằng tôi thật sự về
đến nhà. Thật ra khi vợ tôi nhận được điện tín khi tôi
chưa rời trại Nam Hà, đã gởi điện tín sang các con chúng
tôi rồi, nhưng các con chúng tôi cần cái điện tín xác nhận.
Các con chúng tôi vượt biển sáu bảy năm trước đó, nhưng
có lẽ vẫn còn nhớ câu nói của Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu hồi đầu năm 1968: "Ðừng nghe những gì cộng sản
nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm", vì vậy khi
nhận điện tín báo tin tôi về nhưng vẫn không tin, nên cần
được xác nhận để biết là thật.
Ðâu đã xong quí vị quí bạn ơi!
Tôi và các bạn phải đến Sở Công An để làm thủ tục
"nhập hộ khẩu". Thủ tục này nhiêu khê lắm, vì đây là
loại giấy tờ thuộc vào hàng "sinh tử" trong xã hội xã hội
chủ nghĩa, vì bất cứ có việc gì đến cơ quan hành chánh
hay Công An đều phải mang theo cái giấy này. Hồ sơ xin nhập
cái gọi là "hộ khẩu" gồm: Ðơn của tôi + bản tóm tắt
lý lịch 3 đời + giấy ra trại + tờ hộ khẩu + đơn của
vợ tôi đồng ý cho nhập hộ khẩu + và hôn thú của vợ
chồng tôi. Một tháng sau mới nhận được tờ giấy nhỏ
xíu xác nhận hợp lệ, lại mang đến Phòng Quản Lý Hành
Chánh & Trật Tự Xã Hội Quận 10, mua một lô các mẫu
đơn xin nhập hộ khẩu tại Quận 10. Chưa hết, khi nộp đống
hồ sơ này tôi phải viết "bản kiểm điểm" với đại ý
là tôi chưa có hành vi nào chống đối chế độ xã hội chủ
nghĩa. Một tuần sau nữa, tôi nhận được tờ hộ khẩu có
tên tôi.
Thế là xong một loại "giấy hộ
mạng" thứ nhất, đến "giấy hộ mạng thứ hai là "chứng
minh nhân dân". Lại phải đến Sở Công An, lại phải làm
thủ tục với một đống hồ sơ nữa để xin cái giấy ấy.
Mãi đến cuối năm 1987, tôi có trong tay hai cái "giấy hộ
mạng". Công An tại Sở này cho biết, các "ngụy quân ngụy
quyền cao cấp" do trung ương của họ quản trị mà họ gọi
là quản lý. Với chính sách đó, cho thấy là họ vẫn sợ
chúng tôi nên nắm chắc phần theo dõi, thay vì địa phương.
Ấy vậy mà lúc học tập chính trị tại trại tập trung Long
Giao hồi tháng 9 năm 1975, tên Công An gọi là giáo viên nói
như con vẹt, rằng:
"... Ðội ngũ sĩ quan các anh là
cái đám người nắng không ưa mưa không chịu, nhát gió kỵ
mù sương, nắng ngủ mưa nghỉ, mát trời đi chơi à."
Khoảng 2.000 anh em chúng tôi ngồi
bệt trên sàn xi măng dơ dáy, có tiếng nói khơi khơi:
"Phải rồi. Chúng tôi chỉ có ăn
chơi mà hai chục năm mới chiếm được đất đai của chúng
tôi".
"Anh nào phát biếu đó?"
Anh em chúng tôi êm re, dại gì làm
"anh hùng rơm" mà lên tiếng. Hắn tức lắm, nhưng làm gì được
ai.
(Tiếp theo Chương
chín)
|