| Nha Mân, gối đầu lên một nhánh
bên hữu ngạn Sông Tiền, và duỗi mình về hướng Sông Hậu.
Ðó
là quê nội tôi. Từ thời Pháp cai trị đến năm 1955, thuộc
quận Châu Thành, tỉnh Sa Ðéc. Năm 1956 đến năm 1965, Sa Ðéc
trở thành quận bằng cách phân chia lại lãnh thổ của tỉnh
thì Nha Mân thuộc quận Ðức Tôn, và quận lỵ tại Cái Tàu
Hạ. Năm 1966, tỉnh Sa Ðéc được tái lập và Nha Mân trở
lại trực thuộc quận Châu Thành. Trụ sở xã cạnh đầu
cầu Nha Mân, sát đường liên tỉnh Vĩnh long–Sa đéc–Vàm
cống. Tôi không biết địa danh Nha Mân do đâu mà có, và ranh
giới từ đâu đến đâu nữa. Chỉ biết là con sông trải
dài theo quê Nội tôi có tên là Nha Mân. Tôi nhớ trên bản
đồ quân sự ghi là "rạch" nhưng tôi xin gọi là "sông" để
phân biệt với những con "rạch nhỏ" dọc hai bên bờ sông.
Không biết có phải do vậy mà tên Nha Mân trở thành miền
quê này hay không? Nhưng về mặt hành chánh từ xa xưa, thì
Nha Mân là xã Tân Nhuận Ðông do sự kết hợp 3 xã Phú Nhuận,
Tân Hựu, và Tân Hựu Ðông khoảng năm 1940 hay 1941 gì đó.
Và cho dù tên hành chánh của xã có là gì đi nữa, thì Nha
Mân vẫn là cái tên rất thân thương đối với những người
sinh sống trên vùng đất hiền hòa và trù phú này, một vùng
đất được dòng phù sa bồi đắp quanh năm, nhất là vào
mùa nước dâng cao từ thượng nguồn sông Mékong đổ xuống
với lưu lượng trung bình 90.000m3/giây. Cũng trong 1 giây đồng
hồ, lưu lượng đó chuyên chở trung bình 5/10.000 trọng lượng
phù sa trong mùa khô và khoảng 15/10.000 trọng lượng phù sa
trong mùa mưa cung cấp cho các tỉnh vùng hạ lưu.
Sông Nha Mân, bắt đầu
từ một nhánh của Sông Tiền (còn gọi là Tiền Giang), rồi
quanh co uốn khúc như hằng trăm con sông khác, góp phần tạo
nên hệ thống sông rạch trên miền quê thân thương của vùng
đất "cù lao" giữa Sông Tiền với Sông Hậu. Phần cuối của
sông Nha Mân, nối vào rạch Ba Càng (trên đường Vĩnh Long-Cần
Thơ) và ra Sông Hậu, ngang chợ Cần Thơ.
Dọc bờ trái sông (từ
cầu Nha Mân vào) có nhiều rạch nhỏ. Những rạch này cách
nhau từ vài trăm thước đến vài cây số. Rạch đầu tiên
có tên là Rạch Chùa Ông Chiêm. Nhà Nội tôi ở rạch này.
Khoảng giữa rạch, có chùa Hội Phước, xây cất vào cuối
thế kỷ 19, và được xem là một trong những ngôi chùa lâu
đời nhất của đồng bằng Cửu Long. Con đường từ vàm
Rạch Chùa vào đến chùa Hội Phước, tuy nền đất nhưng
đủ rộng và chắc cho xe du lịch và xe ngựa đưa thiện nam
tín nữ vào lễ Phật trong những ngày hội lớn của bà con
trong vùng. Những lễ lớn tại chùa, có xe du lịch và xe ngựa,
đưa các thiện nam tín nữ từ Sa Ðéc xuống, từ Cái Xép,
Mù U, và Cái Tàu Hạ lên dự. Khỏi Rạch Chùa Ông Chiêm khoảng
500 thước là rạch Bà Thiên. Từ vàm rạch, có nhiều nhà
khá giả với những ngôi nhà nền đúc cao, vách tường hoặc
vách ván, lợp ngói. Rồi đến rạch Cầu Xoay, nhưng bà con
quen gọi là Cầu Xây. Theo lời Ba tôi kể lại (Ba tôi sinh
năm 1903 và lớn lên tại Nha Mân), thì cây cầu nguyên thủy
"xoay được 1/4 vòng tròn" để ghe lớn chở lúa ra vào rạch.
Xa khoảng 2 cây số nữa, sẽ đến Chợ Dinh, và cạnh đó
là rạch Ông Ðại.
Khoảng giữa Cầu Xoay
với Chợ Dinh, có nhiều ngôi nhà nền đúc theo kiểu xưa,
của những vị đại điền chủ. Một số vị trong những
ngôi nhà đó, đã một thời phục vụ trong ngành hành chánh
và quân sự dưới thời đệ nhất và đệ nhị cộng hòa.
Ðó là ông Lê công Chất, Ðốc Phủ Sứ, một thời là Tổng
Trưởng Nội Vụ. Ðại tá Phạm văn Út, một thời là Tỉnh
Trưởng An Xuyên, về sau là Dân Biểu Hạ Viện. Ngang Chợ
Dinh là rạch Ông Yên, có giáo sư Học viện quốc gia hành
chánh Nguyễn văn Tương, năm 1967 là Ðặc Ủy Trưởng Hành
Chánh, tức Tổng Trưởng Nội Vụ. Ông là em của Y sĩ Ðại
tá Nguyễn văn Nhu, bác sĩ giải phẫu của ngành Quân Y.
Cứ tiếp tục theo bờ
trái sông Nha Mân, bà con sẽ đến Rạch Tre. Tại sao có tên
Rạch Tre thì tôi không biết, chỉ biết rằng, trong ngọn rạch
này có ngôi chùa mà chung quanh là hàng rào tre bao bọc. Qua
khỏi Rạch Tre là Ngã Ba sông, tên địa phương là Ngã Ba Phú
Nhơn. Nếu rẽ phải là lên Bình Tiên, và từ đây vào Phú
Nhơn, theo dòng nước lên Rạch Rắn, rẽ phải sẽ ra đến
chợ Sa Ðéc. Cũng từ Ngã Ba, nếu đi thẳng, bà con sẽ đến
rạch Cái Ngổ. Nơi đây nổi tiếng về những nhà giàu với
những vườn cam, quít, xoài, bưởi. Ðoạn sông này bắt đầu
hẹp bề ngang khi qua khỏi ngã ba sông. Tiếp tục đi sâu vào
sông Nha Mân, sẽ là Rạch Chùa và rạch này cũng có ngôi chùa.
Qua khỏi Rạch Chùa là Rạch Gia. Ngay đầu rạch, có cây gia
cổ thụ với "râu ria" dài ngoằn xuống đến tận mặt nước,
và rất có thể do vậy mà rạch này mang tên đó cũng nên.
Một đoạn nữa là Rạch Cầu. Ngọn Rạch Cầu thông xuống
một nhánh của ngọn sông Cái Tàu Hạ. Gần Rạch Cầu là
rạch Bằng Lăng, và cách đó không xa là rạch Mương Khai.
Khu vực này là xã Hòa Tân do sự kết hợp xã Hòa Hưng và
Tân Hựu Trung cũng khoảng thời gian hình thành xã Tân Nhuận
Ðông, cũng thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Ðéc. Tiếp tục
về hướng ngọn sông Nha Mân là Xẻo Mát, với đoạn sông
càng lúc càng hẹp bề ngang, cho đến cuối ngọn thì thông
vào rạch Ba Càng.
Nha Mân trước chiến
tranh (tức giữa năm 1945 về trước).
Bờ trái sông Nha Mân
có đưng trải đá vào đến Hòa Tân. Lề đường bên phải
-tức phía bờ sông- có hàng cây me ăn trái. Những cây này
trồng theo khoảng cách đều nhau và cùng lứa với nhau, nên
tán cây cùng cỡ, trông như những cái nấm khổng lồ dọc
hành trình thủy bộ. Vào mùa me vừa chín, đám choai choai trong
làng thường "ăn cắp" chấm muối, ngon ơi là ngon. Tôi nói
"ăn cắp", vì hàng me dọc lề đường Nha Mân-Hòa Tân là tài
sản của Xã, và hằng năm Ban Hội Tề xã đấu thầu bán
cho những ai trả giá cao nhất. Ban Hội Tề hay Hội Ðồng
Hương Chức (về sau gọi là Ủy Ban Hành Chánh xã) theo thứ
tự từ cao xuống thấp: Hương cả, Hương chủ, Hương sư,
Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương
bộ, Hương thân, Hương hào, Xã trưởng, và Chánh lục bộ.
Hương Cả là vị đứng đầu Ban Hội Tề với vị phụ tá
là Hương Chủ, và 2 vị cố vấn là Hương Sư Hương Trưởng.
Hương Chánh trông coi đường sá cầu cống. Hương Giáo trách
nhiệm về trường học. Hương Quản lo về an ninh trật tự.
Hương Bộ ghi chép và lưu giữ sổ bộ của làng. Ba vị Hương
Thân, Hương Hào, và Xã Trưởng, hợp lại thành Ban Chấp Hành
thường trực điều hành công việc của Xã. Riêng Xã Trưởng
có thêm trách nhiệm thuế má. Chánh Lục Bộ trách nhiệm về
bộ đời, như: khai sanh, khai tử, lập hôn thú,...
Hằng ngày có xe đò
loại nhỏ, chạy đường Sa Ðéc-Nha Mân-Hòa Tân, và ngược
lại. Từ hàng cây me ra đến bờ sông, còn một khoảng cách
chừng 5 thước. Ðồng thời, trên sông Nha Mân có "đò máy"
chở khách, xuôi ngược trên thủy trình Xẻo Mát-Hòa Tân-Ngã
Ba-Nha Mân. Ðó là phương tiện chuyên chở công cộng. Ngoài
ra, bà con trong làng còn có phương tiện di chuyển riêng là
ghe, xuồng, xe đạp (thuở đó nông thôn chưa có xe mô tô hay
xe gắn máy), và vài xe du lịch của khu nhà giàu gần chợ
Vinh. Ngay vàm rạch Ông Ðại, có ông bà chủ hãng xe đò Tân
Phát chạy đường Sa Ðéc-Sài Gòn. Vì vậy mà những chiếc
xe loại 40 chỗ ngồi, sơn màu vàng, thường ra vào đường
này, và mặt đường đủ rộng cho hai xe xuôi ngược.
Chợ Nha Mân được xây
cất giống như những chợ nông thôn miền Nam. Ðó là ngôi
chợ hai mái, đòn dông hướng ra bờ sông, mái thoai thoải
về hai dãy phố trệt buôn bán bên hông chợ. Chung quanh có
trải đá lởm chởm. Họa đồ tổng thể của khu chợ, gồm:
-
Nhà chợ, dành cho những
gian hàng áo quần vải vóc, tạp phẩm, quày thịt, trái cây.
-
Hai dãy phố hai bên, là
những tiệm tạp phẩm, tiệm thuốc bắc, hớt tóc, tiệm rượu,
tiệm ăn, có cả tiệm bán và hút thuốc phiện nữa,......
-
Phía trước hướng ra bờ
sông, là nơi dành cho người mua gánh bán bưng trong những giờ
"nhóm chợ". Sau khi "tan chợ" thì sân này trống trơn.
-
Bờ sông là bến đậu
cho ghe xuồng, có chiếc cầu ván mặt rộng dành cho "đò máy"
cặp vào để khách lên xuống.
-
Phía sau chợ là "Nhà Việc"
(sau này gọi là trụ sở xã) nơi mà Ban Hội Tề (sau này là
Ủy Ban Hành Chánh xã) điều hành những công việc của xã
Tân Nhuận Ðông.
-
- Một bến xe nhỏ, vừa
đủ cho vài xe hành khách trên đường Nha Mân-Sa Ðét đậu
chờ khách.
Vị trí của chợ gần
bờ sông, cạnh đầu cầu Nha Mân phía đi xuống bắc Mỹ Thuận.
Chợ nhóm mỗi ngày, từ khoảng 3 giờ sáng đến khoảng 10
giờ trưa và lác đác đến 1-2 giờ trưa thì tan, nhưng những
gian hàng trong nhà chợ thì buôn bán suốt ngày.
Ngôi trường sơ cấp
có 3 lớp: lớp đồng ấu, lớp dự bị, và lớp nhất, với
chương trình Việt Pháp. Học sinh bậc sơ cấp đã học Pháp
ngữ, và học xong 3 lớp là qua kỳ thi tại Sa Ðéc. Bài thi
tiếng Việt và bài thi tiếng Pháp. Bằng cấp có cái tên dài
thoòng là "Việt Nam Sơ Ðẳng Tiểu Học Văn Bằng". Học trò
10 tuổi (7 tuổi mới vào học lớp đồng ấu) đã có thể
nói lai rai những câu thông thường bằng Pháp ngữ sau khi đậu
văn bằng này.
Hằng năm, người Nha
Mân có 3 lễ hội lớn, là: Tết Nguyên Ðán, cúng đình, và
cúng rằm tháng 7 âm lịch tại chùa Hội Phước.
Tết Nguyên Ðán.
Chắc chắn rằng, vui
Tết ở thành phố không thể nào sánh bằng nông dân Nha Mân
vui Tết được. Nha mân vui Tết trong không khí sum vầy của
từng đàn anh em con cháu khắp nơi trở về, quây quần bên
nhau, và cùng nhau ăn những món ăn đậm đà hương vị của
những ngày đầu năm, như: bánh tét bánh ích, bánh tráng báng
phồng, dưa giá dưa cải, củ cải củ kiệu, cá kho thịt kho,
mứt dừa mứt bí, mứt khoai mứt gừng. Rồi tiếng pháo lạch
tạch pha lẫn tiếng pháo đì đùng đó đây trong xóm. Chỗ
này chơi bầu cua cá cọp, chỗ kia tụm năm tụm ba đánh bài
ba lá,...v... v... Sa Ðéc đã một thời nổi tiếng về làm
pháo bông, pháo thăng thiên, mà Bác Hai tôi là một trong số
ít những làm hai loại pháo nói trên. Trong những thức ăn
ngày Tết, hầu như nhà nào cũng có vài chục "nem chua Nha Mân".
Nem chua của bà Tư Ton là đặc biệt nổi tiếng. Cái quán
của bà cạnh đầu cầu sắt (Nha Mân), rất đông khách địa
phương cùng những khách từ các làng xã lân cận. Khi xe chạy
đường Sa Ðéc-Sài Gòn dừng lại cho khách lên xe, cũng đủ
cho khách trên xe mua được vài chục nem lên Sài Gòn tặng
bà con lối xóm. Sau những giờ thăm và chúc Tết bà con lối
xóm, quay về nhà ăn một tô bún nem của bà Tư Ton, là đủ
sức đi đánh bầu cua cá cọp ngay. Một cái tô cỡ lớn, phía
dưới là rau ghém xanh vàng, kế đó là những lọn bún tròn
trịa, bên trên là những chiếc nem có những cọng trăng trắng
của da heo chen lẫn màu hồng hồng của thịt heo với vài
hột tiêu đen và miếng tỏi màu ngà, xé vội từng miếng
nhỏ, muỗng nước mắm pha chế sẵn cho vào, những miếng
ớt xanh đỏ nằm tênh hênh trên những lọn bún nõn nà, trông
"dễ thương" biết chừng nào. Thế là, tay trái cầm cái tô
ngon lành đó và tay phải cầm đôi đũa thon dài. Ôi chao, chuyện
gì xảy ra khi mà những thứ đó lần lượt trôi vào cái bao
tử đang "cơn giận" sau một buổi chỉ ăn toàn mứt?
Ðêm giao thừa, những
ngôi chùa -nhất là chùa Hội Phước- đều đông nghẹt thiện
nam tín nữ đến lạy Phật và cầu nguyện điều tốt lành
trong năm mới. Mọi người già trẻ lớn bé đều mặc áo
quần đẹp nhất, và thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau bằng những
lời chúc tốt lành nhất. Rõ ràng là mọi người đều gác
sang một bên mọi ưu phiền của năm cũ, và tất cả đều
vui mừng khi gặp nhau trên đường đi hay nơi gọi là phòng
khách. Trong những ngày Tết, đường đi dọc hai bờ rạch
lúc nào cũng nườm nượp kẻ vào trong ngọn người ra ngoài
vàm. Gặp nhau, hầu như không ai hà tiện nụ cười kèm theo
lời "chúc mừng năm mới" cả. Chiều 30 Tết, nhà nào cũng
có mâm cơm "cúng đón ông bà", đồng thời "dựng cây nêu"
tượng trưng bắt đầu vui Tết. Ðến Mồng 7 Tết mới hạ
nêu, có nghĩa là thuở ấy vui Tết đến 7 ngày lận. Ban đêm,
mọi nhà đều đốt đèn treo trên các thân cây dọc theo đường
đi trước nhà để cung cấp ánh sáng cho người người đi
lại vui xuân. Tùy theo đoạn đường chạy ngang trước nhà
dài hay ngắn, mà số đèn treo có thể từ 5 đến 10 chiếc.
Ðó là những chiếc đèn dầu loại nhỏ, được gọi là "đèn
cóc" vì nó có hình dáng tựa như con cóc đang ngồi. Tim đèn
cao để chịu được gió ở tốc độ thông thường. Giữa
đêm, người nhà phải châm thêm dầu hoặc đốt lại ngọn
đèn đã tắt. Tết Nha Mân về đêm, với những ánh lửa lập
lòe ở khoảng cách không đều nhau, cao thấp cũng chênh lệch
nhau, và chính "ánh sáng đèn đường" này đã góp phần tạo
nên cái dáng vẻ của người Nha Mân mừng xuân là vậy.
Cúng đình.
Ngôi đình tọa lạc
bên kia sông, trên đường từ cầu Nha Mân ra ngoài vàm. Mỗi
năm cúng thần một lần theo nghi thức cổ truyền và trong
ba ngày liên tiếp. Ban Hội Tề xã Tân Nhuận Ðông là cơ quan
trách nhiệm tổ chức. Người dân nông thôn nói chung và người
Nha Mân nói riêng, rất tin vào sự chở che và phò độ của
"vị thần trị vì" làng mình, nên mọi người lớn bé trong
làng đều háo hức tham gia lễ cúng. Trong kế hoạch tổ chức
lễ cúng, bao giờ cũng mời một đoàn "hát bộ" về trình
diễn những vở tuồng thường là loại tuồng dã sử Trung
Hoa. Ðoàn hát bộ (cũng như các đoàn hát cải lương vùng
đồng bằng Cửu Long) thường dùng chiếc ghe lớn gọi là
ghe chài hay ghe cà dom, để chuyên chở tất cả những gì cần
cho một rạp hát lưu động cùng tất cả nghệ sĩ của đoàn,
do tàu kéo đến. Rạp hát lộ thiên, sân khấu thì bằng gỗ
và ván được dựng bên cạnh sân đình, với những phông
màn nhiều màu sắc nhưng cũ kỹ. Bà con đến cúng thần và
xem hát, đều ăn mặc tươm tất chẳng khác gì những ngày
vui Tết. Người xem đều đứng hoặc ngồi trên những chiếc
ghế mang từ nhà đến, còn những vị "chức sắc" trong làng
là có những hàng ghế riêng và ngồi gần sân khấu nhất.
Cúng đình cũng là cơ
hội tốt cho các thanh niên thiếu nữ trong làng, gặp gỡ hàn
huyên tâm sự và cũng là dịp để các cô cậu ngắm nhìn
nhau. Trong những ngày cúng đình, hầu như lúc nào cũng đông
người chen lấn trên sân đình nhỏ hẹp. Tiếng cười nói
ồn ào, chen lẫn tiếng rao hàng rộn rã, tạo nên một hoạt
cảnh đậm đà tình tự dân tộc của người Nha Mân.
Cúng rằm tháng 7 âm
lịch.
Chùa Hội Phước tọa
lạc giữa Rạch Chùa, tổ chức cúng rằm tháng 7 rất lớn.
Rất đông bà con Nha Mân, vùng lân cận, và có cả bà con từ
Sa Ðéc và Cái Tàu Hạ đến dự nữa. Không có đốt pháo
như những ngày vui Tết, cũng không có hát bộ như lễ cúng
đình, nhưng cúng rằm tháng 7 có "thí thực" (thường gọi
là thí vàng) vui ơi là vui. Lễ cúng xong, thanh thiếu niên nam
nữ trong "tư thế xung phong" chờ tiếng hô: "Xong". Lập tức
tràn vào đụng gì giành cái nấy. Một khu vực khá rộng trước
sân chùa, gạch lót đã mốc meo, được để sẵn những thức
ăn, có cả những đồng xu bằng đồng đỏ ao treo lủng lẳng,
ai tranh được món nào thì món ấy thuộc về họ. Thuở đó,
1 xu đã mua được gói xôi đậu xanh là vững bụng đi học
rồi. Tất cả những món dành cho "lễ thí" này là do thập
phương bá tánh mang đến cúng, và được kết vào những "cái
đụn" hoặc để rời tùy theo loại. "Cái đụn" làm bằng
những thanh tre nhỏ cột vòng tròn, dưới lớn trên nhỏ theo
hình kim tự tháp, và cao độ 1 thước. Dán giấy màu, trông
rất đẹp mắt. Chung quanh hình tròn, được cột dính trên
đó, là bánh, kẹo, mía, những đồng xu hay đồng cắc, những
khúc vải,.......... Ðây là hoạt cảnh ồn ào nhất, vui vẻ
nhất, và tuổi trẻ là thích nhất.
Kinh tế.
Lúa là nguồn thu chính
của bà con Nha Mân, và những vườn cây ăn trái cũng đem lại
nguồn lợi rất đáng kể. Ðồng ruộng không đến mức "cò
bay mỏi cánh", nhưng những vườn cam vườn quít, vườn chuối
vườn xoài, cũng đủ "cho người mỏi chân". Những trái cam
sành cam mật tròn trỉn, mượt mà, những trái quít vàng ánh,
bóng loáng. Những trái "xoài hòn" vừa tròn vừa lớn, lúc
xoài chín, vừa giòn vừa ngọt lại vừa thơm. Những trái
chuối xiêm, ăn dưới dạng "chuối chát" kèm theo mắm chưn
đậm đà hương vị miền Nam, ăn dưới dạng "chuối chín"
rất ngọt ngào, và ăn dưới dạng "chuối khô" phảng phất
vị ngọt của mật. Nha Mân với những vườn cây ăn trái,
cung cấp cho cơ thể con người nhiều sinh tố C, một loại
sinh tố không thể thiếu trong nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày
của mỗi người chúng ta. Ðó là niềm tự hào của người
Nha Mân về khả năng, kỹ thuật làm vườn, và lòng kiên nhẫn
của mình. Ngoài ra, bà con trong làng còn những nguồn thu nhập
từ hoa màu phụ, là rau cải đậu cà, khoai dưa bắp mía. Rồi
đánh bắt cá trên sông, rạch, và trên đồng ruộng vào mùa
nước lên. Chăn nuôi heo, gà, vịt. Và những công việc thuộc
các ngành nghề khác.
Dọc theo đường lộ
Nha Mân-Hòa Tân, có 5 nhà máy xay lúa cỡ vừa tại các địa
điểm sau đây:
-1 gần rạch chùa Ông
Chiêm.
-1 cạnh đầu cầu rạch
Bà Thiên.
-1 ngang Chợ Dinh.
-1 tại Ngã Ba Phú Nhơn.
- Và 1 tại Hòa Tân.
Khả năng những nhà
máy này chỉ đủ giải quyết nhu cầu cho người Nha Mân xay
lúa ăn và mang ra chợ bán từng thúng một, chớ không có khả
năng cung cấp gạo cho những vựa ngũ cốc lớn trên Sài Gòn.
Nói chung, xã hội Việt
Nam chúng ta chớ không riêng gì Nha Mân, là xã hội nông nghiệp,
mà nông nghiệp có nhanh cách mấy đi nữa cũng kém xa xã hội
kỹ nghệ. Vì vậy mới có bài ca dao gói ghém công việc nông
dân sau đây: Tháng giêng là tháng ăn chơi. Tháng hai trồng
đậu trồng khoai trồng cà. Tháng ba thì đậu đã già. Ta đi
ta hái về nhà phơi khô. Tháng tư đi tậu trâu bò. Ðể ta
sắp sửa làm mùa tháng năm. Sáng ngày đem lúa ra ngâm. Bao
giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra. Gánh đi ta ném ruộng ta. Ðến
khi lên mạ thì ta nhổ về. Sắp tiền mướn kẻ cấy thuê.
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi. Cỏ lúa dọn đã sạch
rồi. Nước ruộng vơi mười còn độ một hai. Ruộng cao đóng
một gàu giai. Ruộng thấp thì phải đóng hai gàu sòng. Chờ
cho lúa có đòng đòng. Bây giờ ta sẽ trả công cho người.
Bao giờ cho đến tháng mười. Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng
ta. Gặt hái ta đem về nhà. Phơi khô quạt sạch ấy là xong
công.
Chẳng khi nào nghe nói
đến trộm cắp. Dân làng sống với nhau rất thuận hòa vui
vẻ. Những tiệc tùng như; cúng giỗ, cưới gả, những chuyện
đau buồn, hay công việc đồng áng, đều được bà con lối
xóm đến góp vui hay chia buồn bằng cách trợ giúp công sức
hay phẩm vật hoặc bạc tiền. Vì vậy mà cuộc sống của
người Nha Mân thời bấy giờ, nói chung, rất an bình, thanh
thản, tuy đời sống kinh tế chưa dám gọi là giàu nhưng chắc
chắn không phải là nghèo, và nhất là về tình cảm, người
dân Nha Mân sống với nhau như một đại gia đình nông thôn.
Nha Mân trong chiến tranh
1945-1954.
Tháng 9.1945, quân Pháp
trở lại chiếm đóng Sài Gòn. Lần lượt chúng tiến quân
xuống các tỉnh đồng bằng Cửu Long. Nha Mân cũng trong tình
trạng đó. Hầu hết người Nha Mân từ ngoài vàm và Rạch
Chùa Ông Chiêm, đều bồng bế gia đình "tản cư" vào sâu
trong ngọn sông Nha Mân. Trong số này có gia đình Ba Má tôi.
Chúng tôi sống ở ngọn Rạch Cầu. Gần 1 năm, thì gia đình
Ba Má tôi cùng nhiều gia đình khác, "hồi cư" về lại nhà
cũ. Nhưng phần lớn nhà cửa từ vàm sông Nha Mân vào đến
Rạch Chùa Ông Chiêm và một phần ở rạch Bà Thiên, đều
bị quân Pháp đốt hết. Thay vào đó là những mái chòi hoặc
mái lá đơn sơ để sống cho qua thời khói lửa. Trong khi đó,
thì Việt Minh -tức Việt cộng- đập phá toàn bộ những ngôi
nhà bằng gạch mà chúng gọi là "tiêu thổ kháng chiến", nhiều
nhất là những ngôi nhà đồ sộ ở giữa rạch Cầu Xoay với
rạch Ông Ðại, và toàn bộ khu phố Chợ Dinh. Bắt dân (có
tôi trong số này) chở đi đắp đập ngang sông Nha Mân, đoạn
qua khỏi Ngã Ba Phú Nhơn vài trăm thước. Ðập này, Việt
Cộng nói là ngăn không cho hải quân Pháp tiến sâu vào trong.
Nhưng chỉ một loạt chất nổ của quân Pháp, là chúng vào
ra thong thả. Bên nào cũng phá theo mục đích của họ, trong
khi bao đau thương, mất mát, đều trút lên đầu người dân
hiền hòa Nha Mân!
Các cầu trên đường
bên trái sông Nha Mân vào đến Hòa Tân, đều bị Việt cộng
phá sập. Từng đoạn đường bị đào làm hầm hố, cùng
với những đám chuối được trồng trên mặt đường để
ngăn đường tiến quân của giặc, và mọi người không được
sử dụng đường này nữa, mà tất cả phải đi từ vườn
này sang vườn kia hoặc đi ngoài ruộng. Nhiều "trạm gác lưu
động" của Việt cộng bố trí dọc bờ sông Nha Mân. Gần
rạch Bà Thiên 1 trạm. Rạch Cầu Xoay 1 trạm. Bên kia Chợ
Dinh 1 trạm.
Nửa cuối năm 1945, tôi
được chứng kiến (lúc đó tôi làm thơ ký cho ông đại đội
trưởng du kích hoàn toàn mù chữ) ít nhất là 3 lần khi họ
kiểm soát những ghe xuồng qua lại trạm gác gần rạch Bà
Thiên. Họ lục soát toàn bộ những gì có trên những chiếc
ghe xuồng và cả trên người của những người đi trên đó.
Bất kỳ có bao nhiêu màu sắc, nhưng chỉ cần có 3 màu "xanh
trắng đỏ" và bất kỳ 3 màu đó rải rác trên các vật dụng
khác nhau, là họ ghép vào tội "Việt gian" và người đó bị
bắt ngay. Không thể biện minh bất cứ điều gì. Chỉ đêm
đó thôi, hay chậm lắm là đêm sau đó, người bị ghép tội
"Việt gian", bị giết và thả trôi sông. Những năm đầu cuộc
chiến 1945-1954, rất nhiều xác chết -phần lớn là vô thừa
nhận- thả trôi trên sông Nha Mân. Nhiều đến nỗi không ai
dám ăn tôm tép vì loại này háu rỉa thịt người. Ba màu
xanh trắng đỏ là màu quốc kỳ của Pháp. Việt cộng cho
rằng, 3 màu đó trên vật dụng của người bị kết tội
Việt gian, là dấu hiệu để Việt gian với thực dân Pháp
nhận nhau.
Người dân Nha Mân, từ
đó, từ dạo chiến tranh tràn đến, biến đổi nhanh chóng
cuộc sống của họ theo cái nghĩa điêu tàn, đau khổ, và
u buồn! Không còn những cái Tết vui vầy bên cha mẹ họ hàng
với bà con chòm xóm, không còn những ngày cúng đình rộn
rã với những hồi trống mời gọi của đoàn hát bộ, cũng
không còn những lễ cúng rằm tháng 7 (âm lịch) vừa trang
nghiêm vừa ồn ào náo nhiệt!
Một cái đồn ngay cạnh
đầu cầu Nha Mân, với khoảng 20 tên lính Pháp (toàn là gốc
Bắc Phi) trấn đóng. Ngày đêm chúng tuần tiễu chung quanh
hai bên cầu ra đến vàm sông. Ðôi khi chúng đột nhập vào
hướng Rạch Chùa, bất kỳ ai thấy trước là hô to: 'Tây
vô. Tây vô". Thế là mọi người túa chạy vào chùa, lên hướng
rạch Bà Thiên, và chạy ra đồng. Cái đồn chẳng khác "cái
pháp trường" và những tên "lính gạch mặt" chẳng khác "tên
đao phủ" đối với người Nha Mân. Rất nhiều người Nha
Mân đã bị tra tấn, bị giết, thậm chí sau khi chết, chúng
còn chặt làm nhiều khúc đem quẳng trôi sông nữa. Ðó là
trường hợp con trai của ông Tư Tàng ở gần vàm Rạch Chùa
(ông Tư Tàng, trước kia là Ông Quản trong Ban Hội Tề xã
Tân Nhuận Ðông). Bạn tôi tên Lợi, bị bắt và ném xuống
sông sau khi chúng cột tảng đá vào chân anh ấy!
Ðáng sợ hơn hết là
những cuộc hành quân lớn với quân Pháp từ Sa Ðéc xuống
và Vĩnh Long lên. Cho nên mọi người, già trẻ lớn bé, lúc
nào cũng sẵn sàng tay xách nách mang để "chạy giặc", nhất
là khi nửa đêm về sáng mà nghe có tiếng động cơ xe rầm
rì ngoài lộ liên tỉnh, thì cầm chắc là có cuộc hành quân
càn quét của Pháp vào làng. Chạy đi đâu khi giặc đến?
Ðàn ông con trai thì chạy sâu vào phía trong sông Nha Mân, có
người chạy ra giữa đồng nhờ những đám cỏ lớn che dấu.
Ðàn bà con gái, những người khỏe bơi xuồng vào các ngọn
rạch lẩn trốn trong những mái chòi ngoài đồng, những ngời
già yếu và trẻ con chạy vào ẩn trú trong chùa Hội Phước,
vì chùa có vách gạch khá dày có thể ngăn được lằn đạn
bắn thẳng, với hy vọng cao nhất là nhờ Phật Trời che chở.
Không biết Phật Trời có che chở hay không, nhưng có điều
chắc chắn là những người vào chùa ẩn trú, khi có cuộc
hành quân của Pháp từ đầu đến cuối cuộc chiến, không
một ai bị bắt hay bị giết trong khuôn viên chùa cũng như
trong chùa cả.
Sau Nguyên Ðán đầu
năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc hành quân vào Nha Mân lớn
hơn bất cứ cuộc hành quân nào từ trước đến lúc bấy
giờ. Mờ sáng ngày thứ nhất, chúng tung hai cánh quân tiến
dọc bên trái sông Nha Mân và sông Cái Xép (phía dưới Nha
Mân khoảng 2 cây số). Cả hai cánh quân cùng tiến sâu vào
ngọn sông. Chúng bắn bất kỳ ai mà chúng gặp, không có vấn
đề già trẻ gái trai lớn bé trước nòng súng của những
tên lính thực dân này cả. Mọi người đều kinh hoàng tột
độ, và tuôn chạy ra đồng. Nhờ còn lại những cánh đồng
đang mùa lúa chín, mà nương vào đó nhờ che dấu được phần
nào. Ðàn bà trẻ con ở Rạch Chùa lẫn rạch Bà Thiên, đều
ùa vào chùa Hội Phước. Tôi cũng chạy, nhưng Ba tôi kéo lại
bảo chui vào đống cây sau chùa. Còn Ba tôi thì chui vào vựa
lúa thật lớn của chùa. Ba tôi vùi người xuống lớp lúa,
chỉ chừa một khe hở thật nhỏ để thở. Nửa đêm hôm
đó, một người đàn bà (tôi không nhớ tên) từ rạch Bà
Thiên chạy xuống chùa ẩn trú, và cho biết là rất nhiều
người ẩn trú trong vườn cũng như ngoài đồng, đã bị bắn
chết. Mọi người càng kinh hoàng!
Gần sáng ngày thứ nhì,
tôi theo Ba tôi và một số thanh niên cùng ẩn trú trong chùa,
chạy ra đồng. Trời sáng hẳn thì ra đến giữa đồng -tức
là giữa Nha Mân với Cái Xép- thấy thấp thoáng lố nhố đầu
người từ hướng trong ngọn chạy ra, và xa xa sau lưng họ
là tiếng súng ròn rã. Ðịnh thần một lúc, càng hoảng hơn,
vì thấy hai cánh quân của Pháp cùng ra đồng và đang từ
hướng trong ngọn tiến ra hướng lộ liên tỉnh, cho nên lằn
đạn véo véo trên đầu. Không ai nói với ai lời nào, nhưng
tất cả cùng nhanh chân nhắm hướng vườn Cái Xép mà chạy.
trong khi chiếc phi cơ "bà già" (loại phi cơ quan sát) cứ lượn
vòng trên vùng ruộng để hướng dẫn các cánh quân của chúng.
Vào được bờ vườn, ai nấy đều dừng lại để thở. Chỉ
chốc lát là cùng chạy đến bờ sông, và cùng lội qua bên
kia bờ. Buổi chiều, chúng ra đến lộ liên tỉnh, và lên
xe. Theo lời thuật của những người có kinh nghiệm "chạy
giặc" đã chạy ngược ra hướng lộ ẩn trú (vì cho rằng
khu vực đó chúng ít lục soát), thì chúng không bắt theo một
người nào khi chúng lên xe. Rõ ràng là chúng bắn chết tại
chỗ hết rồi!
Khoảng nửa đêm, khi
về đến, tôi theo Ba tôi ra vàm Rạch Chùa, thấy những cây
cột của tất cả nhà chung quanh đang còn cháy, chẳng khác
những cây đèn cầy cắm trên bàn thờ rộng lớn, mà ở đó
như có những linh hồn vừa thoát xác đang phảng phất chung
quanh! Mái nhà đơn sơ của Bà Nội tôi cũng trong tình trạng
như vậy, nhưng Bà thoát chết nhờ chui vào bụi hoa ngải vừa
cao vừa rậm bên hông nhà. Bóng đêm dày đặc, yên ắng. Cái
yên ắng đến nghẹt thở trong ánh lửa lập lòe trên đầu
những cột nhà còn cháy, đã tạo nên bức tranh mờ mờ ảo
ảo, trông thê lương ảm đạm vô cùng!Càng thê lương ảm
đạm hơn nữa, khi hai chiếc xuồng từ vàm rạch bơi vào thật
nhẹ nhàng, vì sợ "những tên đao phủ" từ ngoài cầu Nha
Mân bắn khi nghe tiếng động. Trên hai chiếc xuồng có 5 xác
chết, là thân nhân của hai chị bơi xuồng. Ðó là cha, anh,
và em trai của hai chị ấy, đã bị quân Pháp bắn ngoài đồng
(trong ngọn rạch Bà Thiên). Trong khi gia đình của hai chị
này -và những gia đình cùng thảm cảnh- chỉ sống nhờ vào
những cánh tay khỏe mạnh của đàn ông con trai, nay bỗng dưng
cha chết, anh em chết, từ nay biết trông cậy vào đâu. Ôi!
Còn đau thương nào hơn đau thương này nữa, hỡi người
Nha Mân trong chiến tranh!
Và từ năm đó, hằng
năm, sau Tết Nguyên Ðán, người Nha Mân nói chung, và người
xóm Rạch Chùa, rạch Bà Thiên, nói riêng, đều cúng giỗ cùng
ngày cùng tháng.
Tình cảnh người Nha
Mân rất khốn đốn. Ðồng ruộng tuy vẫn được canh tác
nhưng diện tích đều thu hẹp lại, và canh tác trong một tinh
thần luôn luôn sợ sệt, lo âu! Không biết lúc nào "Tây vào".
Không biết lúc nào đại bác của chúng từ Sa Ðéc bắn xuống
và từ Cái Tàu Hạ bắn lên. Không biết khi nào bị máy bắn
xối xả từ trên cao. Cũng không biết khi nào tàu Pháp chạy
vào bắn loạn lên để khủng bố tinh thần. Cho nên thiếu
trước hụt sau là điều không tránh khỏi. Có những gia đình
phải dùng bao bố (loại đựng lúa gạo) để may áo quần
cho con trẻ. Và loại áo quần này sản sinh những con rận,
cắn đến đâu là ghẻ lở đến đó. Trẻ con ngoài vàm còn
có mái trường xiêu vẹo, nhưng bên trong thì trẻ con chẳng
được học hành gì cả. Tôi tình nguyện dạy mấy đứa bé
trong xóm, bằng cách nhờ mái hiên chùa làm chỗ dạy và học.
Nhưng sau cuộc hành quân tàn sát đó, tôi rời Nha Mân lên
sống ở Sài Gòn.
Những cánh đồng mượt
màu xanh mạ lúc vào mùa và óng ánh màu vàng khi lúa chín,
cùng mảnh vườn bát ngát cây trái thuở nào, nay hư hại nhiều
vì bom đạn của quân Pháp, vì đốn phá của Việt cộng,
mà sự chăm bón ruộng vườn cũng hạn chế. Số người mua
cam quít bưởi xoài chỉ còn lại trên đầu ngón tay, vì chuyên
chở ra khỏi Nha Mân là điều hết sức khó khăn nguy hiểm.
Ở Rạch Chùa Ông Chiêm có một người mà hàng xóm gọi là
bà "Ba Quán", cố gắng vượt hiểm nguy để chở lên bán cho
người dân Sài Gòn, kiếm chút tiền sinh nhai. Bà mướn những
thanh niên trong xóm chuyên vận chuyển những bao những giỏ
đầy cam quít, bằng cách đêm đêm hì hà hì hục khuân vác
băng qua lộ liên tỉnh Sa Ðéc-Vĩnh Long, cho lên xuồng xuống
Mỹ Thuận và lên xe vận tải. Những ai cần phải đi chợ
tỉnh để mua thuốc hay những gì tối cần thiết, thì tháp
tùng theo bà, chừng như bà là người có khả năng che chở
an toàn trên đoạn đường đêm ngắn ngủi nhưng đầy tai
ương bất trắc này vậy. Có những lần bị đám quân "gạch
mặt" từ đồn xuống phục kích, bắn chạy tóe khói. Những
lần như vậy, cam quít đổ hết trơn, nhưng may mắn là không
ai bị bắn chết. Nguy hiểm vô cùng! Nhưng sống mãi trong hiểm
nguy đau khổ, rồi cũng quen thôi!
Nha Mân trong chiến tranh
1955-1975.
Hiệp định đình chiến
ký kết tháng 7.1954 tại Genève (Thụy Sĩ) đã chia đôi nước
Việt Nam chúng ta thành 2 quốc gia: "Vĩ tuyến 17 trở lên phía
bắc do cộng sản cai trị theo chế độ độc tài, vĩ tuyến
17 trở xuống phía nam được quản trị bởi chế độ dân
chủ tự do". Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, có một chánh phủ
được tổ chức và quản trị theo kiểu phương Tây. Và từ
đó, người Nha Mân lần lượt hồi cư, xây dựng lại cuộc
sống. Dần đà, cuộc sống trên đà hồi sinh. Nhưng niềm
vui chưa tròn vẹn, nếp sống ngày trước chưa khôi phục,
thì người Nha Mân -cùng người dân toàn quốc- một lần nữa,
bị Việt cộng đẩy vào cuộc chiến tranh kế tiếp. Vì khi
tập kết ra bắc, chúng đã để lại hằng chục ngàn cán
bộ để tiếp tục chiến tranh.
Hàng me dọc lề đường
từ cầu sắt Nha Mân vào đến rạch Bà Thiên, dần dần bị
cuốn xuống sông hết trơn, do đất lở. Nguyên nhân chính
của đất lở là do tàu của hải quân Pháp vào ra thường
xuyên, tạo nên những đợt sóng vào bờ đất mềm. Có đoạn
lở vào gần hết mặt đường trải đá, nên chỉ còn xe hai
bánh sử dụng được thôi, nhất là đoạn từ cầu sắt Nha
Mân vào đến rạch Bà Thiên. Các cầu được sửa chữa lại
theo dạng "cầu khỉ", chỉ có một tấm ván cho người đi
bộ. Những năm về sau, một số cầu đã tu bổ lại và xe
bốn bánh hạng nhẹ sử dụng được. Ngôi chợ trước kia
đã hoang tàn, nay ngôi chợ mới được xây cất tạm thời.
Trụ sở Hội Ðồng Xã xây cất cạnh đầu cầu sắt. Ngôi
đình cùng những ngôi chùa, được trùng tu đôi chút sau những
năm tiêu điều. Những lễ hội của dân làng, tuy vẫn tổ
chức hằng năm, nhưng không còn đúng nghĩa lễ hội như thời
trước chiến tranh, bởi du kích cộng sản trà trộn phá hoại
cuộc sống của dân làng. Chỉ có chùa Hội Phước còn có
người tham dự, vì ở khu vực được xem là tương đối an
ninh. Rất nhiều thanh niên
nam nữ lứa tuổi 20-30
của Nha Mân, đã vào quân đội, hoặc tìm sống trên Sài Gòn
hay các tỉnh lân cận. Cũng có người bị Việt cộng cưỡng
bách theo chúng. Về phần tôi, những tháng trước khi đình
chiến, tôi đã nhập học trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt.
Cuối năm 1967, ông Lê
công Chất rủ tôi (và nhiều bạn quê ở Nha Mân), sẽ cùng
về Nha Mân ngay sau Tết Nguyên Ðán, vừa thăm quê vừa bàn
thảo xem làm được gì cho Nha Mân. Lúc bấy giờ, anh Lê thọ
Trung là Tỉnh Trưởng Sa Ðéc, cũng có kế hoạch xây dựng
xã Tân Nhuận Ðông phát triển về nông nghiệp. Nhưng cuộc
tấn công bất ngờ của cộng sản trong Tết Mậu Thân (đầu
năm 1968), đã cắt đứt ý định của chúng tôi vì nhiệm
vụ trở nên bận rộn hơn. Thỉnh thoảng tôi về thăm Bà
tôi (ba má tôi sống ở Vĩnh Long), cũng để có cái nhìn về
cuộc sống của bà con trong làng. Sinh hoạt của người Nha
Mân có thể xem là bình thường, nhưng là cái bình thường
trong cuộc chiến tranh giữa chế độ độc tài với chế độ
tự do, mà hai bên đối phương đều là người Việt Nam. Do
vậy mà có hình ảnh trái ngược nhau, chẳng hạn người dân
ban ngày sống với cơ quan chánh quyền, ban đêm bị Việt cộng
buộc phải đóng thuế cho chúng hoặc nghe chúng tuyên truyền,
nhất là vùng sâu trong ngọn sông Nha Mân. Gia đình có người
bị cộng sản lôi kéo theo chúng, Những gia đình khác có con
em gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa chống lại chúng.
Trong quân sự có danh từ "vùng xôi đậu", theo nghĩa đen là
xôi với đậu lẫn lộn nhau, còn nghĩa bóng là để chỉ trong
cuộc sống của người dân, có chánh quyền và có cả việt
cộng.
Bà con đã có phần ăn
nên làm ra, có được xe gắn máy nhiều hơn, có "máy đuôi
tôm" đẩy những chiếc xuồng chiếc ghe nhanh chóng hơn, và
máy đuôi tôm còn dùng trong đồng ruộng, như tát nước vào
ruộng, bơm nước tưới rẩy, tát nước trong đìa ra để
bắt cá. Luật "người cày có ruộng" đã giúp một số bà
con Nha Mân làm chủ vài ba mẫu ruộng. Có máy móc dùng trong
nông nghiệp, có phân bón cho đồng ruộng nương rẫy. Nhưng
vẫn không thấy lại được nếp sống êm đềm thanh thản
của "ngày xưa ấy"! Hình ảnh người Nha Mân trong một đại
gia đình của thời trước chiến tranh, đã trở thành cái
quá khứ xa xôi dù mới chỉ vài chục năm, bởi những mất
mát lớn lao và những đau thương trong 9 năm chiến tranh với
thực dân Pháp, cộng với chiến tranh 1955-1975 giữa dân chủ
tự do với cộng sản độc tài, chẳng những không hồi phục
lại được, mà trong một chừng mực nhất định, đã đưa
đến sự phân hóa giữa người bên này với người bên kia.
Nha Mân, sau chiến tranh
(từ giữa năm 1975 về sau)
Tháng 6.1975 tôi vào tù,
đến cuối năm 1987 tôi ra khỏi tù. Giữa năm 1991, vợ chồng
tôi rời Việt Nam sang định cư tại Houston. Trong hơn 3 năm
đó (1988-1991), chúng tôi thường về Nha Mân và Hòa Tân thăm
gia đình thân quyến, nhờ vậy tôi mới hiểu được -ở một
mức độ nào đó- cuộc sống của bà con trong làng.
16 năm (1975-1991) dưới
chế độ độc tài của cộng sản Việt Nam, chẳng riêng gì
người Nha Mân nghèo, mà là mọi người trên mọi miền đất
nước đều nghèo. Nói cho thật đúng là rất nghèo, nghèo
đến tận cùng danh sách các quốc gia trên thế giới theo thống
kê của Liên Hiệp Quốc. Nhưng tôi xin tách riêng Nha Mân ra,
đê có cái nhìn về nỗi khổ của bà con trong làng dưới
sự cai trị của cộng sản.
Quê nội tôi (Nha Mân)
rất nghèo. Nghèo vật chất và nghèo cả tình người. Ðây
là niềm đau chưa bao giờ xảy ra từ thời phong kiến, thực
dân, đến thời chiến tranh 1945-1975. Về vật chất, trước
đây người Nha Mân nghèo nhưng chút ít tài sản có được
là của mình, còn bây giờ mọi người trở nên trắng tay,
không còn quyền sở hữu ruộng đồng vườn tược, cũng không
còn cơ sở buôn bán làm ăn, tất cả đã bị cưỡng bách
đưa vào hợp tác xã do chúng quản trị, dưới lớp vỏ mị
dân nghe rất kỳ cục là "nhân dân làm chủ, nhà nước quản
lý, đảng lãnh đạo". Với chính sách này, người Nha Mân
vẫn làm nhưng không đủ mức ăn, người Nha Mân vẫn sống
nhưng không đủ sức sống. Về tình người, trước đây người
Nha Mân sống với nhau như trong một đại gia đình, còn bây
giờ sự phân hóa giữa người Nha Mân là hết sức lớn lao,
trong khi tình người là nền tảng của đời sống. Người
theo cộng sản trong chiến tranh không bao nhiêu, nhưng người
hùa theo cộng sản sau khi chúng chiếm Việt Nam Cộng Hòa thì
nhiều. Chính những người này đã tạo nên sự phân hóa đó!
Gặp nhau, không dám nói hết lời, vì không ai biết rõ ai là
người đang rình rập mình để tố cáo với công an xã. Trong
chiến tranh, nỗi đau là mất người. Sau chiến tranh, người
trông thấy nhau nhưng không biết rõ người là ai. Ðau là vậy!
Bởi vì b ản chất của cộng sản là nghi ngờ. Họ nghi ngờ
tất cả mọi người chung quanh, nghi ngờ cả vợ con họ, thậm
chí họ cũng không thể không nghi ngờ bản thân họ nữa,
như không dám nói thật những điều họ nghĩ chẳng hạn.
Vì điều họ nghĩ chẳng may không đúng theo điều đảng của
họ dạy thì vào tù là cái chắc. Bản chất của đảng lãnh
đạo như vậy, tạo nên xã hội như vậy là điều tất nhiên
thôi!
Tóm lại, từ xa xưa
cho đến năm 1991, gồm cả 9 năm chiến tranh với thực dân
Pháp, 20 năm chiến tranh giữa tự do với độc tài, và sau
16 năm gọi là "hòa bình" dưới chế độ cộng sản, Nha Mân
vẫn còn đó, nhưng Nha Mân đã thay đổi quá nhiều. Ruộng
đồng, vườn tược, nương rẫy, đều xác xơ già cỗi, và
nhất là tuột khỏi tầm tay sở hữu tư nhân. Dọc bờ sông
bị lở sâu vào trong, và phần còn lại của con đường trải
đá đã bị cạy lên từng mảng, trông chẳng khác những ống
chân ghẻ lở với chiếc quần bằng "vải bao bố" của thời
chiến tranh 1945-1954. Cũng không còn những chiếc cầu ván thô
kệch mà ngày trước mỗi khi xe chạy qua nghe như tiếng pháo
nổ lúc vui xuân. Cảnh trí ngày nay, không còn sức quyến rũ
như sức quyến rũ diệu kỳ của người con gái Nha Mân, từng
nổi tiếng là đẹp của tỉnh Sa Ðéc, qua lời truyền tụng
của dân làng: "Gà nào hay cho bằng gà Cao Lãnh, gái nào bảnh
cho bằng gái Nha Mân". Và nỗi buồn sâu nhất của người
Nha Mân là "trong hòa bình dưới chế độ cộng sản", đã
mất hẳn cái tình thân trong một đại gia đình thời trước
chiến tranh.
Nha Mân, quê nội tôi, trước chiến
tranh, trong chiến tranh, và sau chiến tranh, theo nét nhìn của
tôi là như vậy đó.
Phạm bá Hoa
Houston, mùa xuân 1997
Bổ túc 1999
|