4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaingoai.com
Email: tonghoithuduchaingoai@yahoo.com


Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 - 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai
Điều Lệ
Nội Qui
Quan Điểm
Binh Luận, Thời Sự Việt Nam
Biên Khảo
Tài Liệu Tổng Hội
Tâm Sự Người Cư An Tư Nguy
Tin Tức
Sinh Hoạt
Nối Kết
Hậu Duệ Thủ Đức

Tâm Sự Người Alfa Cư An Tư Nguy

Quê tôi, làng Ðại Ngãi
Phạm bá Hoa 

Tôi chào đời năm 1930 tại làng Ðại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Năm 15 tuổi, Ba Má tôi dọn về Nha Mân, quận Châu Thành, tỉnh Sa Ðéc. Nơi đây là quê Nội. Ba tôi được sinh ra và lớn lên tại miền quê này, nhưng do nghề nghiệp phải chuyển xuống Bãi Xàu, sau đó lại chuyển ra Ðại Ngãi. Tôi tốt nghiệp khóa "Vì Dân" tức khóa 5 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, nhưng học tại Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt. Lý do, vì lúc bấy giờ trường Thủ Ðức không đủ cơ sở cho hàng ngàn sinh viên, nên Bộ Quốc Phòng gởi 240 sinh viên từ Hà Nội vào và từ Thủ Ðức lên Ðà Lạt học, nhưng vẫn là sĩ quan trừ bị.

Ðơn vị đầu tiên của tôi là Tiểu đoàn Khinh Quân 510 đồn trú tại Vĩnh Long. Sau đó nổi trôi lên Cheo Reo, Catecka (cả hai thuộc tỉnh Plei Ku), Kontum, rồi Dục Mỹ (Nha Trang), Sa Ðéc, Cần Thơ, và Sài Gòn. Năm 1972, tôi phục vụ tại Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận đồn trú ở Cần Thơ, khi đến thăm đơn vị Tiếp vận ở Sóc Trăng (lúc bấy giờ tên gọi là Ba Xuyên), tôi ra Ðại Ngãi trong vài tiếng đồng hồ để thăm lại nơi "chôn nhao cắt rún" của mình. Như vậy, tôi rời Ðại Ngãi năm 1945 (15 tuổi), 27 năm sau (năm 1972) mới có dịp quay lại làng xưa, và mãi 34 năm sau nữa (2006), tôi mới viết lại từ ký ức. 

Thưa bà con đồng hương Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau,

Sở dĩ phải dài dòng như vậy, là mong bà con hiểu và thông cảm cho tôi về những địa danh, con người, cùng những sự kiện mà tôi viết trong bài này, chắc chắn có nhiều sai sót. Bởi vì khơi lại trí nhớ của gần 70 năm trước mà không có nhiều cơ hội cập nhật những đổi thay, hiển nhiên là không thể nào tránh được. Nhưng cho dù thời gian có làm biến đổi không gian nơi ấy thế nào đi nữa, thì Ðại Ngãi vẫn luôn luôn là dấu ấn đầu đời của tôi, một dấu ấn của thời thơ ấu, của tuổi học trò bập bẹ a, bờ (b), cờ (c), .... Một dấu ấn mà mỗi khi nghĩ đến, từ nơi sâu lắng của tâm hồn người xa xứ xa làng, chợt gợi lên niềm xao xuyến mênh mông ...... Năm nay tôi 76 tuổi, nhưng vẫn tin là tôi có cơ hội hít thở lại cái không khí xa xưa, nơi còn có tên gọi "Vàm Tấn" dù rằng tôi đang cách xa quê hương đến nửa vòng trái đất. Tôi vững tin như vậy.

* * * *

Ðại Ngãi gối đầu lên bờ nam Sông Bassac, duỗi mình về hướng Sóc Trăng. "Xương sống" của Ðại Ngãi là con đường Ðại Ngãi - Sóc Trăng dài 19 cây số, và "mạch sống" của Ðại Ngãi là sông Vàm Tấn (?) có đoạn gần như song song với tỉnh lộ. Khoảng giữa tỉnh lộ Sóc Trăng - Ðại Ngãi có một thị trấn nhỏ tên "Dang Cơ". Phần lớn cư dân nơi đây là người Việt gốc Cam-Bốt và người Việt gốc Hoa. Ðường trải đá hòa trong lớp nhựa mỏng nên mặt đường nhiều loang lổ. Hai bên đường có hàng cây tràm với dáng ngoằn ngoèo cung cấp một ít bóng mát, khi lá rụng xuống làm cho nước ruộng có màu vàng sậm. Cuối đường là bờ sông Bassac, có chiếc cầu tàu nằm trên phao nổi nhưng chẳng mấy khi có tàu cặp vào đây.

Con sông dẫn vào Ngã Tư, từ đây, rẽ phải vào Sóc Trăng, rẽ trái xuống Rạch Gòi Tổng Cán thuộc quận Long Phú, đi thẳng về hướng Cổ Cò, rồi đến Bạc Liêu, Cà Mau. Từ vàm sông Bassac vào, bên phải là Ðại Ngãi, tiếp đến là Sóc Thép, bên trái là làng Long Ðức, sâu vào trong là Long Hưng. Long Ðức và Long Hưng thuộc quận Long Phú phía bờ biển. Nhà ba má tôi ở Long Ðức (gần bờ sông Bassac) nhưng gắn bó với Ðại Ngãi hơn, bởi Long Ðức bên này sông còn Ðại Ngãi bên kia sông mà bên kia sông có chợ, có phố, có Nhà Việc (tức trụ sở Xã), có ngôi trường cũ kỹ, có Chùa Bà rêu phong, có nhà dây thép (tức bưu điện) nho nhỏ khang trang, có chiếc cầu tàu, và có bến xe đò vừa thô sơ vừa bé nhỏ. Nói chung, gia đình ba má tôi sống bên Long Ðức nhưng phần lớn sinh hoạt bên làng Ðại Ngãi. 

Xin nhắc lại đôi nét về sông Bassac chảy trên đầu làng. Sở dĩ tôi nói đến tên xưa cũ (Bassac) vì tôi muốn được sống lại thời thơ ấu, cái thời mà tên gọi Bassac thường thấy trên sách học, thường viết trên trang giấy làm bài, thường nghe qua lời dạy của Thầy Nguyễn Văn Tốt, và Bassac đã "thường trú" trong tâm hồn thơ dại tuổi học trò của tôi từ ba phần tư (3/4) thế kỷ qua. Bassac là một trong hai nhánh của sông Mékong, bắt nguồn từ xứ Tây Tạng, dài khoảng 4.200 cây số. Sông Mékong chảy qua Trung Hoa, biên giới Lào -Thái, Cam Bốt, và khi vào Việt Nam chia làm 2 nhánh với tên gọi Mékong (tức Sông Tiền hay Tiền Giang) và Bassac (Sông Hậu hay Hậu Giang). Cả hai nhánh sông Mékong và Bassac đổ ra Biển Ðông qua 9 cửa sông, là: Cửa Ðại, Cửa Tiểu, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu (của nhánh sông Mékong), Ðịnh An, Ba Thắc, và Tranh Ðề (của nhánh sông Bassac). Tên "Cửu Long" có thể do phiên âm từ tiếng Pháp (Mékong) sang tiếng Việt, mà cũng có thể do 9 cửa sông (Cửu Long, theo Hán Việt là "9 Con Rồng") mà có tên đó chăng? Sông Mékong vừa dài vừa chảy ngang những vùng nhiều mưa nên lưu lượng trung bình lên đến 90.000m3. trong mỗi giây đồng hồ. Cũng trong mỗi giây đồng hồ, dòng sông chuyên chở đến 15 phần 10.000 (15/10.000) trọng lượng phù sa bồi đắp cho vùng đồng bằng Cửu Long ngày thêm trù phú, trong đó có quê tôi "làng Ðại Ngãi".

Nói đến làng xã miền quê, đầu tiên phải nói đến ngôi chợ. Vì chợ, là nơi mà nam phụ lão ấu trong làng thường gặp nhau trong mỗi sáng, là nơi trao đổi mua bán những mặt hàng của chính dân làng tạo nên, cùng những mặt hàng do các miền khác hay tỉnh thành khác sản xuất, kể cả hàng ngoại quốc. Nói chung, chợ là nơi sinh hoạt rộn ràng tiêu biểu cho sức sống của bà con trong làng về kinh tế, văn hóa, xã hội, và tình cảm. 

Chợ Ðại Ngãi, kiểu hai mái xuôi xuống hai bên hông, đòn dông đâm ra hướng bờ sông, nơi có bến đò chèo của ông bà Năm Chắc. Chèo đò đưa khách qua lại giữa bờ Long Ðức với bờ Ðại Ngãi là hai con gái của ông bà mà tôi gọi là cô Năm cô Sáu. Hai bên hông chợ có 2 dãy phố liên kế, dãy bên trái (từ bến đò nhìn lên) nhiều căn phố hơn vì dãy phố từ bên hông Nhà Việc ra đến con đường lót gạch sát bờ sông, trong khi dãy bên phải chỉ từ bên hông Nhà Việc (La Commune) đến ngang mặt trước của chợ. Con đường lót gạch dọc theo bờ sông có dãy phố liên kế, tuy "tuổi đời" ngang nhau nhưng tương đối sạch sẽ hơn hai dãy bên hông chợ. Cả 3 dãy phố đều là tiệm bán đủ các loại hàng cho nhu cầu bình thường của dân làng, từ hớt tóc, may áo quần, chạp phô, tạp hóa, tiệm ăn, tiệm thuốc bắc, thuốc tây, đến tiệm rượu, có cả tiệm hút thuốc phiện. Hầu hết các chủ tiệm đều là "khách trú" mà dân làng thường phát âm thành "các chú". Dù là "khách trú" hay "các chú", cũng là người Trung Hoa làm ăn sinh sống nơi đây, có khi trải qua nhiều thế hệ. Trong nhà lồng chợ và khu đất rất rộng trước chợ có trải đá lởm chởm, bày bán đủ thứ hàng hóa, từ vải vóc dép giày, thịt cá, tép tôm, rau cải, đến bánh trái, hoa quả, mắm muối gạo nếp, ..v.. v... Họp chợ từ khoảng bốn năm giờ sáng đến trưa thì tan dần, nhưng bà con trong nhà lồng chợ vẫn bán hàng đến tối mới thu dọn. Dọc hai bên khu chợ từ bờ sông vào đến Nhà Việc, là hai hàng "cây cồng" lớn bằng hai người ôm, nhờ tán cây rộng nên khu chợ có bóng mát suốt ngày. Trái cồng lớn hơn trái "ô môi", vỏ màu đen và thịt cũng màu đen. 

Nhà Việc (về sau gọi là trụ sở Xã) tọa lạc ngay cuối nhà chợ với khoảng cách độ 20 thước, là nơi Ban Hội Tề làm việc. Ban Hội Tề gồm 12 vị mà dân làng dùng tên gọi chung một cách kính trọng là những "chức sắc" trong làng. Ban Hội Tề hay Hội Ðồng Hương Chức, theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: Hương Cả, Hương Chủ, Hương Sư, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Bộ, Hương Thân, Xã Trưởng, Hương Hào, Chánh Lục Bộ. Xin lỗi là vị thứ 12 tôi không nhớ. Hương Cả đứng đầu Hội đồng hương chức, với sự phụ tá của Hương Chủ và hai vị cố vấn là Hương Sư, Hương Trưởng. Hương Chánh lo về cầu đường, Hương Giáo lo về giáo dục, Hương Quản lo về an ninh, Hương Bộ trách nhiệm lưu giữ sổ sách. Ba vị Hương Thân, Hương Hào, và Xã Trưởng họp thành Ban Chấp Hành Thường Trực, Riêng Xã Trưởng trách nhiệm thuế má, và Chánh Lục Bộ lo về khai sanh, khai tử, hôn thú. Các vị hầu hết đều có chữ Hương đứng đầu, vì Hương cũng có nghĩa là "làng". 

Ngay sau lưng Nhà Việc có con đường thẳng và con đường ngang trải đá lởm chởm, nơi đây có bến xe đò. Nói là bến xe cho nó oai chớ thật ra chỉ có 1 chiếc xe đò nhỏ cũ kỹ của bác Hai Tắc, chở độ 10 hành khách là "chú lơ xe" chỉ có cách đứng đàng sau lắc qua lắc lại theo "điệp khúc khiêu vũ" mỗi khi bác tài xế tránh ổ gà. Ðường thẳng nối vào tỉnh lộ khi cách Nhà Việc chừng 300 thước, từ đây quẹo trái vào Sóc Trăng, quẹo phải sẽ đến đồn cảnh sát, kế đó là ngôi trường sơ cấp. Con đường đến bờ sông, cuối đường là cây cầu tàu, vòng qua trái khoảng vài trăm thước là đến nhà dây thép có cây phượng vĩ đỏ rực khi vào mùa bãi trường. Cũng từ cuối đường, nếu vòng qua phải, cặp theo bờ sông Bassac vào sông Vàm Tấn đến bến đò ông bà Năm Chắc. Trên đoạn đường này có 4 hay 5 ngôi nhà nền đúc khá cao, khi đến gần chợ có Chùa Bà do bà con "khách trú" xây cất thờ phượng. Mỗi năm cúng một lần thật lớn trong 3 ngày liên tiếp. Có mướn đoàn "hát bộ" Việt Nam đến hát toàn những vở tuồng dựa theo truyện dã sử Trung Hoa. Không phải chỉ riêng người "khách trú" lễ bái, mà bà con trong làng tham dự đông lắm, sân chùa lót "gạch tàu" (3 tấc vuông mỗi miếng gạch), rất rộng, nhưng chẳng còn chỗ trống.

Từ bến đò ông Năm Chắc theo bờ sông vào trong, qua khỏi khu phố liên kế hai tầng vừa buôn bán vừa là nhà ở, đến chiếc cầu ván nhỏ hình vòng cung. Trước khu phố này là khoảng sân lót gạch rất rộng, những ngày trước Tết Nguyên Ðán, sân này trở thành khu chợ Tết buôn bán suốt ngày cho đến nửa đêm mới tan, để rồi bốn năm giờ sáng rộn ràng trở lại. Khỏi cầu là khu phố liên kế một tầng sát đường, là nhà ở chớ không buôn bán. Khỏi khu nhà này là một nhánh đường trải đá nối từ tỉnh lộ ra đến bờ sông. Từ đoạn này tiếp tục theo bờ sông vào trong, có 3 ngôi nhà nền đúc cao, với khuôn viên rất rộng, có hàng rào song sắt bao quanh. Ngôi nhà đầu tiên là của một người "Tây lai" làm việc ở Sóc Trăng, ông ta có chiếc xe du lịch "Traction 15" do Pháp sản xuất. Thuở ấy chủ nhân của loại xe này phải là người rất giàu, tuy chưa giàu "nứt đố đổ vách" như những nhà giàu xưa trong quyển 'Nam Kỳ lục tỉnh' của tác giả Hứa Hoành, nhưng cũng đủ làm cho dân làng "kính nể" sự giàu có của họ. Thành ngữ "nứt đố đổ vách" có lẽ để chỉ thời ấy đo lường mức độ giàu có tính bằng đất ruộng mà kết quả của đất ruộng cho nông dân mướn canh tác là trả bằng lúa. Nơi trữ lúa gọi là "kho lúa" hay "bồ lúa" hoặc "lẫm lúa" làm bằng cây và ván. Mà trữ lúa quá nhiều đến mức cây ván chịu không nổi phải bung ra đổ xuống. Ý nói, người chủ ở miền quê rất giàu. 

Phía bên Long Ðức, từ vàm sông Bassac vào khoảng 2 cây số có đến 3 nhà máy xay lúa: Một tại đầu vàm, cách chừng 500 thước là cái thứ nhì hiệu Vĩnh Hưng, và xa vào phía trong là nhà máy loại lớn mà bà con gọi là "nhà máy lửa". Nhà máy chạy suốt ngày suốt đêm suốt tuần suốt tháng, cung cấp gạo cho các ghe chài chở lên Sài Gòn bán cho các vựa ngũ cốc trên đó. Sở dĩ gọi là "nhà máy lửa" vì năng lượng cung cấp cho nhà máy không phải bằng dầu cặn mà là "hơi đốt" lấy từ trong trấu. "Trấu" do nhà máy xay lúa thành gạo, vỏ lúa trở thành trấu, chuyển vào lò đốt biến thành năng lượng cung cấp cho nhà máy. Loại năng lượng này chẳng tốn kém bao nhiêu nhưng bụi trấu bay lan khắp vùng. Chắc là do ánh lửa thoát lên khỏi ống khói thật cao, nên bà con gọi là "nhà máy lửa" chăng? Trước khi đến "nhà máy lửa" có một khu nhà lá khoảng chục căn, nơi đây gọi là "hãng dầu". Cho đến năm 1945, lúc ấy tôi 15 tuổi, chẳng có hãng dầu nào cả mà chỉ có 2 cái bồn chứa dầu loại nhỏ, ẩn trong khu vườn chuối bên cạnh khu nhà. Không rõ do nhu cầu nào mà có "hãng dầu" nơi đây, chớ khi tôi biết thì 2 bồn này trong tình trạng "về hưu" mà mỗi lần đi ngang tôi phải chạy cho nhanh, vì quá vắng vẻ. Nói cho đúng là tôi "sợ ma". Trong khu nhà cạnh "hãng dầu" có hai chị chuyên bán gạo lẻ ở chợ -chị Hai Nuôi và chị Ba Dư- thường cho tôi quà bánh mỗi khi gặp tôi vào chợ mua xôi bánh phồng ăn đi học buổi sáng. 

Ngôi trường làng Ðại Ngãi khá khang trang. Tường gạch lợp ngói, nền cao ngang đầu tôi. Có hàng rào chung quanh, cổng vào hình vòng cung, có 2 hàng chữ: Hàng trên "École Élémentaire de Dai Ngai", hàng dưới "Trường Sơ Học Ðại Ngãi". Trường có 3 lớp học và 1 văn phòng. Xa về bên trái (từ cổng nhìn vào) có gian nhà lợp ngói vách ván, một phòng làm "căn tin" còn phòng kia là kho để nhiều vật dụng khác nhau. Sau trường là đám bông ngãi, có lối đi tắt ra chợ. Sân trường phía trước, ngang độ vài chục thước và dài trên dưới 50 thước. 

Năm 7 tuổi, tôi vào lớp Ðồng Ấu (Enfantin). Tiền ăn đi học của tôi được ba xu, gồm hai xu buổi sáng mua xôi bánh phồng của cô Bảy trước khi đến trường, và buổi chiều một xu mua nước đá nhận. Cuối tháng mẹ tôi trả 1 lần. Tuần đi học 5 ngày, ngày học hai buổi, thứ năm và chủ nhật nghỉ. 

Khi học lớp Dự Bị (Préparatoire), tôi và các bạn lập 2 đội banh. Giữa buổi học sáng với chiều, đám cầu thủ tí hon chúng tôi hễ cơm trưa xong là đến trường đá banh. Sân trường trở thành "vận động trường", còn banh thì chia nhau "ăn cắp bưởi" vườn nhà hoặc vườn hàng xóm. Ðem bưởi hơ lửa cho mềm mềm rồi dùng giây chuối quấn nhiều vòng để đá được năm bảy trận. Ðá xong, kéo nhau ra cầu tàu tắm. Cô bạn Yến của tôi thỉnh thoảng cung cấp bưởi cho đội banh và cung cấp xôi cho tôi ăn trước giờ học chiều. Cả hai thứ đều do cô ta ăn cắp ở nhà, cũng vì vậy mà thỉnh thoảng bị ông anh bắt gặp là "bộp tai" lia lịa. (Năm 1951, anh của Yến là cảnh sát Quận 5, tôi có đến thăm cô bạn ngày xưa và ông anh cô ta. Về sau tôi không rõ. Chẳng biết bây giờ "Chị bạn già" của tôi hay con cháu của Chị có nơi đây không nhỉ?)

Thầy Nguyễn Văn Tốt dạy tôi ở lớp nhất (Élémentaire), "lớp nhất trường làng". Nhà Thầy ở căn thứ nhì trong dãy phố liên kế bên hông phải Nhà Việc. Tôi được Thầy chọn viết bảng, Thầy nói tôi viết chữ nhỏ, ít choán chỗ trên bảng đen. Ðến giờ "chính tả", tấm bảng đen hạ xuống để cạnh bàn học đầu tiên, Thầy Tốt đọc và tôi viết chính tả trên bảng cùng lúc với cả lớp viết vào tập. Hết bài, bảng đen đưa lên chỗ cũ, tôi về chỗ và viết vào tập. Nếu viết sai trên bảng thì trong tập chính tả của tôi cũng sai như vậy. Giờ "bài làm" cũng thế. 

Tôi đi thi ở Sóc Trăng. Ba tôi định gởi tôi ở nhờ nhà người bạn rất thân có cùng sở thích "xem đấu võ đài", nhưng Thầy Tốt bảo để Thầy gởi nhà người bạn của Thầy ở gần trường thi. "Việt Nam Sơ Ðẳng Tiểu Học Văn Bằng", đó là văn bằng mà tôi được cấp sau mùa thi năm 1940 với 2 bài tiếng Pháp và 3 bài tiếng Việt. (Năm 1964, do tình cờ bạn tôi biết tình trạng Thầy Tốt và anh cho tôi hay Thầy đang bệnh. Tôi tìm đến Thầy trong khu nhà khoảng giữa Cầu Bông với Ty Công Chánh Gia Ðịnh. Tuần sau tôi trở lại thăm nhưng Thầy đã dọn đi nơi khác, và từ đó tôi không có tin tức gì về Thầy nữa). 

Ðại Ngãi cũng như Long Ðức, không có những khu vườn trồng cây ăn trái để chở lên Sàigòn bán, ngoài 3 nhà máy xay lúa kể trên không có nhà máy biến chế sản phẩm gì khác, đất ruộng không thể gọi là "cò bay mỏi cánh chó chạy vẹo sườn" như phần lớn các xã khác của tỉnh Sóc Trăng, nên bà con trong làng phần lớn sống với nghề "hạ bạc", một nghề được xem là thu lợi không nhiều nhưng rất nhọc nhằn nguy hiểm. 

Những bạn học ngày xưa. Tôi chỉ còn nhớ nổi vài bạn học ngày xưa: 

- Yến, con của cô Bảy bán xôi bánh phồng trong buổi chợ sáng. 

- Tuyết -có biết danh là Tuyết móm- con bác Ba chủ nhà máy xay lúa Vĩnh Hưng, ở khoảng giữa vàm sông với nhà máy lửa. (Năm 1967, khi tôi giữ chức Tỉnh Trưởng Phong Dinh, Bác Ba có nhà thuốc tây tại Cần Thơ. Vợ chồng tôi có dùng cơm với Bác và chị em của bạn Tuyết móm). 

- Ðạt -có biệt danh là Ðạt khòm- con ông bà chủ nhà máy xay lúa ngoài vàm sông. Ðạt khòm là vì bạn có tật lưng nhưng là "chúa" trêu chọc bạn bè, mà tôi là "nạn nhân" thường trực của bạn. Bạn thường cọ hai ngón trỏ vào nhau có ý ghép tôi với cô bạn Yến. 

- Luông -có biệt danh là Luông chấm phết- con bác Bảy làm cảnh sát. Bạn Luông có tật chân, một chân đi bình thường còn chân kia (dường như là chân trái) kéo lê. 

- Trí -có biệt danh là Trí banh mousse- dẫu sao thì bạn cũng là con của bác Hai Tắc chủ xe đò, nên có trái banh mousse đá êm chân lắm, nhưng không bao giờ cho mượn trong khi "đội banh" bọn tôi đá toàn banh bưởi. 

- Và Ðịnh, ở gần nhà máy lửa. 

Trong số đông bạn thân của Ba Má tôi, tôi chỉ nhớ có bác Tư Quý. Bác chuyên làm nghề "đóng đáy". "Ðóng đáy" cũng như những công việc đánh bắt cá được gọi chung là "nghề hạ bạc". Bác có "miệng đáy" hay "giàn đáy" trên sông trước nhà ông Tây lai. "Ðáy" chung qui cũng là lưới chận bắt cá tôm trên sông. Xin hình dung, hai cây cột thật dài được cắm sâu dưới lòng sông, và chiều dài phải cao khỏi mặt sông lúc nước lớn đầy để treo hai ngọn đèn cho ghe xuồng ban đêm thấy mà tránh. Khoảng cách giữa hai cây cột cũng khoảng 10 thước hoặc hơn. "Ðáy" là một cái miệng gần như hình vuông, bốn góc của miệng đáy cột vào đầu trên và đầu dưới của hai cây cột, lưới đáy từ miệng nhỏ dần đến cuối "đáy" cột vào cái "đụt". Khi nước ròng, cá tôm và mọi thứ khác theo dòng nước trôi vào miệng đáy, sẽ lọt vào cái đụt. "Cái đụt" hình tròn với đường kính độ bốn hay năm tấc và dài khoảng một thước rưởi, đít túm lại. Ðụt làm bằng thanh tre mỏng, đan kín để giữ cá tôm trong đó. Phần "lưới đáy" ngay trước đầu cái đụt có sợi dây thòng lọng mà đầu dây cột ở trên ghe, khi kéo đụt lên thì giây thòng lọng thắt cổ lưới (cá tôm không thoát ra), gọi là "đổ đụt". Bắt cá tôm xong, đụt được thả xuống dòng nước lại. Nhà ở của gia đình bác là chiếc ghe, và nghề nghiệp của bác cũng nằm gọn trên chiếc ghe đó. Con gái lớn của bác tôi gọi là chị Xuyến, còn con trai kế học chung với tôi nhưng tôi quên tên. 

Sông Ðại Ngãi vào mùa "nước lợ" -vì nước sông Bassac hạ xuống nên nước biển tràn vào pha trộn thành nước mằn mặn- có những ghe chở nước ngọt chèo dọc theo sông để bà con "đổi nước" uống và nấu ăn. "Ðổi nước" là cách dùng chữ cho nhẹ tai, chớ thật ra lúc ấy "nước ngọt cũng là món hàng" đem bán cho bà con vùng nước lợ tiêu thụ thôi. Sản phẩm đặc biệt là "cá lẹp". Cá lẹp trắng và cá lẹp huyết. Gọi là "cá lẹp huyết", chẳng qua vảy của nó màu vàng vàng có chút phơn phớt màu hồng trên đó chớ không đến mức đỏ lòm mà gọi lẹp huyết. Thịt nó rất ngọt nhưng phải cái tội là xương nhiều lắm. Ăn ngon nhất là luộc, gói bánh tráng chấm nước mắm. Ai sợ xương là không cách gì thưởng thức được. Nói đến cá lẹp mà quên một giống cá cũng đặc biệt không kém, thì chưa phải là dân làng Long Ðức-Ðại Ngãi. Ðó là "cá cháy", một giống cá nấu canh mẳn ăn với bún là tuyệt diệu đến mức không bao giờ quên dù chỉ một lần thưởng thức. Người đi lưới chỉ đánh bắt được cá cháy trên sông Bassac đến ngang Trà Ôn khoảng giữa tháng hai âm lịch. Ðây là thời gian cá vào vùng nước này để đẻ, cho nên lúc ấy bộ trứng của nó nặng hơn thân. Ðầu năm 1955, khi đại đội tôi đồn trú tại Trà Ôn, tôi có dịp được ăn lại món canh mẳn cá cháy với bún, do Bà Bảy chủ tiệm cà phê bên hông trái chợ Trà Ôn nấu. "Cá cháy kho rệu" có hương vị tuyệt diệu khác. Cá phải kho với mía lau và kho khoảng 10 tiếng đồng hồ, lúc ấy xương mềm như bột mà là loại bột rất bùi, ăn luôn thịt cá lẫn xương cá. Nhưng từ đầu những năm 1960, không một ngư dân nào bắt được cá cháy nữa. Cũng có thể vì cá bị đánh bắt trong mùa đi đẻ mà giống cá đặc biệt này tuyệt chủng chăng? 

Viết đến đây bỗng dưng tôi nhớ đến chú Tư Tỵ, cũng là bạn thân của Ba Má tôi. Chú đậu bằng "Cao Ðẳng Tiểu Học" khoảng tôi mới chào đời, nhưng ít năm sau đó chú bị mù nhưng tôi không rõ nguyên nhân. Vợ chú ở rạch Mương Ðiều, khoảng giữa sông Vàm Tấn (?) với cầu Mương Ðiều trên tỉnh lộ Ðại Ngãi - Sóc Trăng. Vợ chồng chú có hai con trai, đứa lớn tên Louis, đứa nhỏ tôi không nhớ. Chú Tư Tỵ đàn kìm (đàn 2 giây) rất "mùi". Khi tôi học "lớp nhất trường làng", chú thường nhờ tôi viết thư gởi cho cô bạn cũ ở trên Sài Gòn. Ngược lại chú dạy tôi ca vọng cổ. Dường như lúc ấy tôi ca nghe chừng cũng không tệ lắm, nên bà con thường xin ba má tôi cho tôi theo chú Tỵ và vài cô chú nữa, cùng đàn ca trên sông vào những đêm trăng sáng. Cả nhóm dùng chiếc tam bản, cứ nước lớn khoảng nửa chừng thì lững thững trôi vào, nước ròng lại trôi ra. Ban đêm thanh vắng, mặt sông phóng âm thanh tiếng đàn câu hát vừa xa vừa nhẹ nhàng thanh thoát hơn trên bờ. Khi trôi ra đến "miệng đáy" của bác Tư Quý là cặp vào "nhà" bác, chờ đổ đụt là mua tép bạc luộc cuốn bánh tráng chấm nước mắm. Nói là mua chớ chẳng mấy khi trả tiền vì thường là bác cho và cho rất nhiều. Lúc ấy chỉ có quai hàm làm việc, còn đàn kìm và đàn gáo treo lên hai cột chèo. Năm 1955 cho đến 1957, tôi vẫn còn ca vọng cổ vì Trung sĩ Nguyễn văn Út -thư ký đại đội- là tay đàn guitare cổ nhạc rất cừ. Còn bây giờ, chỉ có ... ậm ừ thôi. 

Nói là cuốn tép luộc chấm nước mắm nhưng riêng tôi thì chấm ... muối tiêu. Không hiểu nguyên nhân ra sao mà tôi (thuở nhỏ) rất sợ nước mắm. Năm 1938, trước khi sang nhà bảo sanh Ðại Ngãi sinh cô em thứ năm, má tôi nhờ bà Ba Ðộng nấu cơm cho tôi và em trai tôi ăn. Ði học về thấy dĩa nước mắm bên cạnh tô canh chua là khóc rấm ra rấm rứt. Bà Ba Ðộng dỗ mãi không xong, bà phải chạy sang nhà bảo sanh hỏi má tôi. Khi trở về bà dẹp dĩa nước mắm và cho tôi tí muối tiêu. Mọi việc trở nên bình thường. Ăn xong là ôm cặp qua trường đặng ... đá banh vì trễ giờ thường lệ. Tôi vẫn ăn muối tiêu với bất cứ món ăn nào cần nước mắm, mãi đến năm 1955 ... khi "quen" với cô con gái cưng của ông bà chủ hãng nước mắm ở Vĩnh Long mới bắt đầu ăn nước mắm, nhưng chút chút thôi. Từ đầu năm 1958, chắc vì "cảm mến sự hi sinh cao cả của tôi" (bỏ muối tiêu mà ăn nước mắm) nên cô ta cùng tôi "ký giấy cam kết" sống chung suốt đời. Bây giờ (năm 2006) là Bà Nội Bà Ngoại của 9 cháu. 

*****

Những tháng đầu năm 1972, lúc ấy tôi phục vụ tại Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận đồn trú ở Cần Thơ, nhân chuyến đến thăm Ðại đội Hành Chánh Tiếp Vận Tiểu Khu Ba Xuyên (Sóc Trăng), anh Ðại Úy Sơn Sâm, lái xe jeep đưa tôi ra thăm Ðại Ngãi trong khoảng hai tiếng đồng hồ. Ðầu tiên là tôi đến thăm trường học. Bước vào lớp 3 (tức lớp élémentaire ngày trước), chào cô giáo xong, bỗng dưng tôi thấy như mình bé lại khi nhìn vào vị trí chiếc bàn và cái băng ngồi ngày xưa, tất nhiên không phải là cái bàn cũ cái băng cũ, nhưng đó vẫn là chỗ ngồi rất quen thuộc của tôi. Sự im lặng và có thể có một chút ngớ ngẩn nào đó của tôi, làm cho cô giáo trẻ ngạc nhiên. Sau đó cô giáo thật vui, khi biết "một học trò 32 năm trước" trở lại thăm ngôi trường xưa, chớ không điều giợ phải ngạc nhiên cả. 

"Theo cô biết thì ngôi trường này từ xưa đến giờ vẫn thế hay có thay đổi gì không cô?"

"Cháu nghĩ là không có gì thay đổi, ngoại trừ những sửa chữa hư hỏng thông thường". 

"Tôi thấy như nền đúc này thấp xuống thì phải .... – Ô không. Tôi nhầm rồi cô à. Tôi thấy nó thấp chẳng qua là lúc tôi mới bảy tám tuổi, nên nền đúc cao gần bằng người tôi ngày ấy thôi".

Cô quay vào lớp trong lúc học trò bắt đầu ồn ào:

"Các em nghe cô nói. Ðây là một sĩ quan quân đội đến thăm chúng ta. Hơn ba chục năm trước, ông cũng là học trò tại trường này như các em hôm nay. Các em chào ông đi". 

"Chào ông". Tiếng chào không cùng lúc nhưng nghe rất dễ thương, vì trong âm thanh ồn ào vui vẻ đó có bóng dáng tôi ngày trước mỗi khi chào ông Ðốc Học đến thanh tra. 

Hai chúng tôi đi một vòng bờ đất lở, vào quán cơm khu nhà chợ gặp người bà con của anh Sơn Sâm, tôi hỏi thăm các bạn tôi và chú bác bạn của ba má tôi, bà cho biết chỉ còn lại một vài gia đình nhưng là hàng con cháu của họ. 

Quả tình là Ðại Ngãi đã khác rất nhiều so với những gì tôi còn lưu giữ trong ký ức. Nếu tôi nhớ không lầm là khu đất khá rộng ngay từ vàm sông vào đã bị sụp lở, ngôi chợ ngày xưa không còn nữa và ngôi chợ lúc bấy giờ tọa lạc ở cuối đường nối từ tỉnh lộ ra đến bờ sông cạnh nhà "ông Tây lai". Bờ sông bên làng Long Ðức, từ vàm sông vào mút tầm nhìn, không một cái nhà, cũng không một bóng người! Nhà cửa san sát ngày xưa, giờ đây chỉ là một dải đất trống với những đám cỏ cao ít nhất cũng quá đầu người. Trông thật là buồn! 

Sau cuộc chiến tranh giữa Việt Minh cộng sản với quân viễn chinh Pháp thực dân 1945-1954, tôi có mặt trong cuộc chiến tranh 1954-1975, chống lại quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa -theo chế độ độc tài- gây chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa -theo chế độ tự do. Tôi đã tham dự hành quân hoặc đi công tác trên khắp miền đất nước, tôi đã trông thấy nhiều làng mạc nông thôn trở thành hoang vắng điêu tàn! Thậm chí còn điêu tàn thảm hại hơn Long Ðức nữa! Tôi biết như vậy, nhưng trước mắt tôi -Ðại Ngãi, nhất là Long Ðức- nơi mà tôi chào đời và sống thuở ấu thơ với thời niên thiếu, sao mà buồn thảm đến như vậy! Tự dưng nỗi xót xa tràn đến, khiến tôi nín lặng trong một khoảnh khắc nào đó ... và dường như tôi khóc à Ðến khi anh Ðại Úy Sơn Sâm nắm tay tôi về quán dùng cơm để kịp về lại Sóc Trăng, lúc ấy tôi mới chợt tỉnh.

Xin nói thêm một chút về chuyện con tôi vượt biển có liên hệ đến chút nghĩa ân. Khoảng cuối năm 1979, lúc ấy tôi bị giam trong trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc, 3 đứa con trai chúng tôi vượt biển từ bờ biển Long Phú, Sóc Trăng. Bị quân cộng sản phác giác truy lùng, hai con lớn chúng tôi (20 tuổi và 16 tuổi) chạy thoát, đứa còn lại bị bắt. Nó mới 13 tuổi nên không bị nhốt mà cho xuống nhà bếp phụ việc lặt vặt. Mấy ngày sau được cho về. Nhưng lúc ấy con tôi trần trụi vì lúc chạy "bán sống bán chết", cái áo bị các nhánh cây "giữ làm kỷ niệm" lúc nào chẳng hay. Có một gia đình gần đó, thấy vậy mới cho con tôi một cái áo, mà là "cái áo con gái" vì nhà bà không có con trai. Khi con tôi về đến nhà, Ba Má tôi và vợ tôi trông thấy, vừa cười vừa khóc! Khóc vì thấy nó nhỏ quá mà bị tù, còn cười vì cái áo con gái trên người nó. Khi còn sống, mỗi khi Ba Má tôi nhắc lại chuyện ấy là Ông Bà vẫn cười dài dài. Hiện giờ (năm 2006) con trai tôi đã vào tuổi 40, có vợ 2 con, và có cơ sở làm ăn ở tiểu bang khác. Chúng tôi xin mượn bài này để gởi lời nhắn: "Nếu như gia đình ân nhân của con tôi 27 năm về trước có mặt nơi đây, xin vui lòng cho chúng tôi biết qua địa chỉ e-mail <hoabapham@hotmail.com> để vợ chồng tôi có dịp cám ơn cho tròn đạo nghĩa. Cái áo không là bao, nhưng điều nghĩa ân mới là đáng quí". 

Thưa bà con đồng hương, ký ức về nơi chôn nhao cắt rún của tôi là như vậy đó. Xin hẹn một ngày đất nước thật sự hồi sinh, với một chế độ phục vụ nguyện vọng người dân, và một xã hội mà mọi người được tôn trọng, cùng gặp lại nhau nơi miền quê thật quê, nhưng thật đậm tình đậm nghĩa. Ðó là làng Ðại Ngãi quê tôi./. 

Phạm bá Hoa 
Houston, mùa Ðông 2000-2001.
Bổ túc và cập nhật mùa hè-2006.
 

Đầu trang