| Tôi chào đời năm 1930 tại
làng Ðại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Năm 15 tuổi,
Ba Má tôi dọn về Nha Mân, quận Châu Thành, tỉnh Sa Ðéc.
Nơi đây là quê Nội. Ba tôi được sinh ra và lớn lên tại
miền quê này, nhưng do nghề nghiệp phải chuyển xuống Bãi
Xàu, sau đó lại chuyển ra Ðại Ngãi. Tôi tốt nghiệp khóa
"Vì Dân" tức khóa 5 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, nhưng
học tại Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt. Lý do, vì lúc
bấy giờ trường Thủ Ðức không đủ cơ sở cho hàng ngàn
sinh viên, nên Bộ Quốc Phòng gởi 240 sinh viên từ Hà Nội
vào và từ Thủ Ðức lên Ðà Lạt học, nhưng vẫn là sĩ
quan trừ bị.
Ðơn vị đầu tiên của tôi
là Tiểu đoàn Khinh Quân 510 đồn trú tại Vĩnh Long. Sau đó
nổi trôi lên Cheo Reo, Catecka (cả hai thuộc tỉnh Plei Ku), Kontum,
rồi Dục Mỹ (Nha Trang), Sa Ðéc, Cần Thơ, và Sài Gòn. Năm
1972, tôi phục vụ tại Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận đồn trú
ở Cần Thơ, khi đến thăm đơn vị Tiếp vận ở Sóc Trăng
(lúc bấy giờ tên gọi là Ba Xuyên), tôi ra Ðại Ngãi trong
vài tiếng đồng hồ để thăm lại nơi "chôn nhao cắt rún"
của mình. Như vậy, tôi rời Ðại Ngãi năm 1945 (15 tuổi),
27 năm sau (năm 1972) mới có dịp quay lại làng xưa, và mãi
34 năm sau nữa (2006), tôi mới viết lại từ ký ức.
Thưa bà con đồng hương Sóc
Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau,
Sở dĩ phải dài dòng như vậy,
là mong bà con hiểu và thông cảm cho tôi về những địa danh,
con người, cùng những sự kiện mà tôi viết trong bài này,
chắc chắn có nhiều sai sót. Bởi vì khơi lại trí nhớ của
gần 70 năm trước mà không có nhiều cơ hội cập nhật những
đổi thay, hiển nhiên là không thể nào tránh được. Nhưng
cho dù thời gian có làm biến đổi không gian nơi ấy thế
nào đi nữa, thì Ðại Ngãi vẫn luôn luôn là dấu ấn đầu
đời của tôi, một dấu ấn của thời thơ ấu, của tuổi
học trò bập bẹ a, bờ (b), cờ (c), .... Một dấu ấn mà
mỗi khi nghĩ đến, từ nơi sâu lắng của tâm hồn người
xa xứ xa làng, chợt gợi lên niềm xao xuyến mênh mông ......
Năm nay tôi 76 tuổi, nhưng vẫn tin là tôi có cơ hội hít thở
lại cái không khí xa xưa, nơi còn có tên gọi "Vàm Tấn" dù
rằng tôi đang cách xa quê hương đến nửa vòng trái đất.
Tôi vững tin như vậy.
* * * *
Ðại Ngãi gối đầu lên bờ
nam Sông Bassac, duỗi mình về hướng Sóc Trăng. "Xương sống"
của Ðại Ngãi là con đường Ðại Ngãi - Sóc Trăng dài 19
cây số, và "mạch sống" của Ðại Ngãi là sông Vàm Tấn
(?) có đoạn gần như song song với tỉnh lộ. Khoảng giữa
tỉnh lộ Sóc Trăng - Ðại Ngãi có một thị trấn nhỏ tên
"Dang Cơ". Phần lớn cư dân nơi đây là người Việt gốc
Cam-Bốt và người Việt gốc Hoa. Ðường trải đá hòa trong
lớp nhựa mỏng nên mặt đường nhiều loang lổ. Hai bên đường
có hàng cây tràm với dáng ngoằn ngoèo cung cấp một ít bóng
mát, khi lá rụng xuống làm cho nước ruộng có màu vàng sậm.
Cuối đường là bờ sông Bassac, có chiếc cầu tàu nằm trên
phao nổi nhưng chẳng mấy khi có tàu cặp vào đây.
Con sông dẫn vào Ngã Tư, từ
đây, rẽ phải vào Sóc Trăng, rẽ trái xuống Rạch Gòi Tổng
Cán thuộc quận Long Phú, đi thẳng về hướng Cổ Cò, rồi
đến Bạc Liêu, Cà Mau. Từ vàm sông Bassac vào, bên phải là
Ðại Ngãi, tiếp đến là Sóc Thép, bên trái là làng Long Ðức,
sâu vào trong là Long Hưng. Long Ðức và Long Hưng thuộc quận
Long Phú phía bờ biển. Nhà ba má tôi ở Long Ðức (gần bờ
sông Bassac) nhưng gắn bó với Ðại Ngãi hơn, bởi Long Ðức
bên này sông còn Ðại Ngãi bên kia sông mà bên kia sông có
chợ, có phố, có Nhà Việc (tức trụ sở Xã), có ngôi trường
cũ kỹ, có Chùa Bà rêu phong, có nhà dây thép (tức bưu điện)
nho nhỏ khang trang, có chiếc cầu tàu, và có bến xe đò vừa
thô sơ vừa bé nhỏ. Nói chung, gia đình ba má tôi sống bên
Long Ðức nhưng phần lớn sinh hoạt bên làng Ðại Ngãi.
Xin nhắc lại đôi nét về
sông Bassac chảy trên đầu làng. Sở dĩ tôi nói đến tên
xưa cũ (Bassac) vì tôi muốn được sống lại thời thơ ấu,
cái thời mà tên gọi Bassac thường thấy trên sách học, thường
viết trên trang giấy làm bài, thường nghe qua lời dạy của
Thầy Nguyễn Văn Tốt, và Bassac đã "thường trú" trong tâm
hồn thơ dại tuổi học trò của tôi từ ba phần tư (3/4)
thế kỷ qua. Bassac là một trong hai nhánh của sông Mékong,
bắt nguồn từ xứ Tây Tạng, dài khoảng 4.200 cây số. Sông
Mékong chảy qua Trung Hoa, biên giới Lào -Thái, Cam Bốt, và
khi vào Việt Nam chia làm 2 nhánh với tên gọi Mékong (tức
Sông Tiền hay Tiền Giang) và Bassac (Sông Hậu hay Hậu Giang).
Cả hai nhánh sông Mékong và Bassac đổ ra Biển Ðông qua 9 cửa
sông, là: Cửa Ðại, Cửa Tiểu, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên,
Cung Hầu (của nhánh sông Mékong), Ðịnh An, Ba Thắc, và Tranh
Ðề (của nhánh sông Bassac). Tên "Cửu Long" có thể do phiên
âm từ tiếng Pháp (Mékong) sang tiếng Việt, mà cũng có thể
do 9 cửa sông (Cửu Long, theo Hán Việt là "9 Con Rồng") mà
có tên đó chăng? Sông Mékong vừa dài vừa chảy ngang những
vùng nhiều mưa nên lưu lượng trung bình lên đến 90.000m3.
trong mỗi giây đồng hồ. Cũng trong mỗi giây đồng hồ, dòng
sông chuyên chở đến 15 phần 10.000 (15/10.000) trọng lượng
phù sa bồi đắp cho vùng đồng bằng Cửu Long ngày thêm trù
phú, trong đó có quê tôi "làng Ðại Ngãi".
Nói đến làng xã miền quê,
đầu tiên phải nói đến ngôi chợ. Vì chợ, là nơi mà nam
phụ lão ấu trong làng thường gặp nhau trong mỗi sáng, là
nơi trao đổi mua bán những mặt hàng của chính dân làng tạo
nên, cùng những mặt hàng do các miền khác hay tỉnh thành
khác sản xuất, kể cả hàng ngoại quốc. Nói chung, chợ là
nơi sinh hoạt rộn ràng tiêu biểu cho sức sống của bà con
trong làng về kinh tế, văn hóa, xã hội, và tình cảm.
Chợ Ðại Ngãi, kiểu hai mái
xuôi xuống hai bên hông, đòn dông đâm ra hướng bờ sông,
nơi có bến đò chèo của ông bà Năm Chắc. Chèo đò đưa
khách qua lại giữa bờ Long Ðức với bờ Ðại Ngãi là hai
con gái của ông bà mà tôi gọi là cô Năm cô Sáu. Hai bên
hông chợ có 2 dãy phố liên kế, dãy bên trái (từ bến đò
nhìn lên) nhiều căn phố hơn vì dãy phố từ bên hông Nhà
Việc ra đến con đường lót gạch sát bờ sông, trong khi dãy
bên phải chỉ từ bên hông Nhà Việc (La Commune) đến ngang
mặt trước của chợ. Con đường lót gạch dọc theo bờ sông
có dãy phố liên kế, tuy "tuổi đời" ngang nhau nhưng tương
đối sạch sẽ hơn hai dãy bên hông chợ. Cả 3 dãy phố đều
là tiệm bán đủ các loại hàng cho nhu cầu bình thường của
dân làng, từ hớt tóc, may áo quần, chạp phô, tạp hóa, tiệm
ăn, tiệm thuốc bắc, thuốc tây, đến tiệm rượu, có cả
tiệm hút thuốc phiện. Hầu hết các chủ tiệm đều là "khách
trú" mà dân làng thường phát âm thành "các chú". Dù là "khách
trú" hay "các chú", cũng là người Trung Hoa làm ăn sinh sống
nơi đây, có khi trải qua nhiều thế hệ. Trong nhà lồng chợ
và khu đất rất rộng trước chợ có trải đá lởm chởm,
bày bán đủ thứ hàng hóa, từ vải vóc dép giày, thịt cá,
tép tôm, rau cải, đến bánh trái, hoa quả, mắm muối gạo
nếp, ..v.. v... Họp chợ từ khoảng bốn năm giờ sáng đến
trưa thì tan dần, nhưng bà con trong nhà lồng chợ vẫn bán
hàng đến tối mới thu dọn. Dọc hai bên khu chợ từ bờ
sông vào đến Nhà Việc, là hai hàng "cây cồng" lớn bằng
hai người ôm, nhờ tán cây rộng nên khu chợ có bóng mát
suốt ngày. Trái cồng lớn hơn trái "ô môi", vỏ màu đen và
thịt cũng màu đen.
Nhà Việc (về sau gọi là trụ
sở Xã) tọa lạc ngay cuối nhà chợ với khoảng cách độ
20 thước, là nơi Ban Hội Tề làm việc. Ban Hội Tề gồm
12 vị mà dân làng dùng tên gọi chung một cách kính trọng
là những "chức sắc" trong làng. Ban Hội Tề hay Hội Ðồng
Hương Chức, theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: Hương
Cả, Hương Chủ, Hương Sư, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương
Giáo, Hương Bộ, Hương Thân, Xã Trưởng, Hương Hào, Chánh
Lục Bộ. Xin lỗi là vị thứ 12 tôi không nhớ. Hương Cả
đứng đầu Hội đồng hương chức, với sự phụ tá của
Hương Chủ và hai vị cố vấn là Hương Sư, Hương Trưởng.
Hương Chánh lo về cầu đường, Hương Giáo lo về giáo dục,
Hương Quản lo về an ninh, Hương Bộ trách nhiệm lưu giữ
sổ sách. Ba vị Hương Thân, Hương Hào, và Xã Trưởng họp
thành Ban Chấp Hành Thường Trực, Riêng Xã Trưởng trách nhiệm
thuế má, và Chánh Lục Bộ lo về khai sanh, khai tử, hôn thú.
Các vị hầu hết đều có chữ Hương đứng đầu, vì Hương
cũng có nghĩa là "làng".
Ngay sau lưng Nhà Việc có con
đường thẳng và con đường ngang trải đá lởm chởm, nơi
đây có bến xe đò. Nói là bến xe cho nó oai chớ thật ra
chỉ có 1 chiếc xe đò nhỏ cũ kỹ của bác Hai Tắc, chở
độ 10 hành khách là "chú lơ xe" chỉ có cách đứng đàng
sau lắc qua lắc lại theo "điệp khúc khiêu vũ" mỗi khi bác
tài xế tránh ổ gà. Ðường thẳng nối vào tỉnh lộ khi
cách Nhà Việc chừng 300 thước, từ đây quẹo trái vào Sóc
Trăng, quẹo phải sẽ đến đồn cảnh sát, kế đó là ngôi
trường sơ cấp. Con đường đến bờ sông, cuối đường
là cây cầu tàu, vòng qua trái khoảng vài trăm thước là đến
nhà dây thép có cây phượng vĩ đỏ rực khi vào mùa bãi trường.
Cũng từ cuối đường, nếu vòng qua phải, cặp theo bờ sông
Bassac vào sông Vàm Tấn đến bến đò ông bà Năm Chắc. Trên
đoạn đường này có 4 hay 5 ngôi nhà nền đúc khá cao, khi
đến gần chợ có Chùa Bà do bà con "khách trú" xây cất thờ
phượng. Mỗi năm cúng một lần thật lớn trong 3 ngày liên
tiếp. Có mướn đoàn "hát bộ" Việt Nam đến hát toàn những
vở tuồng dựa theo truyện dã sử Trung Hoa. Không phải chỉ
riêng người "khách trú" lễ bái, mà bà con trong làng tham dự
đông lắm, sân chùa lót "gạch tàu" (3 tấc vuông mỗi miếng
gạch), rất rộng, nhưng chẳng còn chỗ trống.
Từ bến đò ông Năm Chắc
theo bờ sông vào trong, qua khỏi khu phố liên kế hai tầng
vừa buôn bán vừa là nhà ở, đến chiếc cầu ván nhỏ hình
vòng cung. Trước khu phố này là khoảng sân lót gạch rất
rộng, những ngày trước Tết Nguyên Ðán, sân này trở thành
khu chợ Tết buôn bán suốt ngày cho đến nửa đêm mới tan,
để rồi bốn năm giờ sáng rộn ràng trở lại. Khỏi cầu
là khu phố liên kế một tầng sát đường, là nhà ở chớ
không buôn bán. Khỏi khu nhà này là một nhánh đường trải
đá nối từ tỉnh lộ ra đến bờ sông. Từ đoạn này tiếp
tục theo bờ sông vào trong, có 3 ngôi nhà nền đúc cao, với
khuôn viên rất rộng, có hàng rào song sắt bao quanh. Ngôi nhà
đầu tiên là của một người "Tây lai" làm việc ở Sóc Trăng,
ông ta có chiếc xe du lịch "Traction 15" do Pháp sản xuất. Thuở
ấy chủ nhân của loại xe này phải là người rất giàu,
tuy chưa giàu "nứt đố đổ vách" như những nhà giàu xưa
trong quyển 'Nam Kỳ lục tỉnh' của tác giả Hứa Hoành, nhưng
cũng đủ làm cho dân làng "kính nể" sự giàu có của họ.
Thành ngữ "nứt đố đổ vách" có lẽ để chỉ thời ấy
đo lường mức độ giàu có tính bằng đất ruộng mà kết
quả của đất ruộng cho nông dân mướn canh tác là trả bằng
lúa. Nơi trữ lúa gọi là "kho lúa" hay "bồ lúa" hoặc "lẫm
lúa" làm bằng cây và ván. Mà trữ lúa quá nhiều đến mức
cây ván chịu không nổi phải bung ra đổ xuống. Ý nói, người
chủ ở miền quê rất giàu.
Phía bên Long Ðức, từ vàm
sông Bassac vào khoảng 2 cây số có đến 3 nhà máy xay lúa:
Một tại đầu vàm, cách chừng 500 thước là cái thứ nhì
hiệu Vĩnh Hưng, và xa vào phía trong là nhà máy loại lớn
mà bà con gọi là "nhà máy lửa". Nhà máy chạy suốt ngày
suốt đêm suốt tuần suốt tháng, cung cấp gạo cho các ghe
chài chở lên Sài Gòn bán cho các vựa ngũ cốc trên đó. Sở
dĩ gọi là "nhà máy lửa" vì năng lượng cung cấp cho nhà
máy không phải bằng dầu cặn mà là "hơi đốt" lấy từ
trong trấu. "Trấu" do nhà máy xay lúa thành gạo, vỏ lúa trở
thành trấu, chuyển vào lò đốt biến thành năng lượng cung
cấp cho nhà máy. Loại năng lượng này chẳng tốn kém bao
nhiêu nhưng bụi trấu bay lan khắp vùng. Chắc là do ánh lửa
thoát lên khỏi ống khói thật cao, nên bà con gọi là "nhà
máy lửa" chăng? Trước khi đến "nhà máy lửa" có một khu
nhà lá khoảng chục căn, nơi đây gọi là "hãng dầu". Cho
đến năm 1945, lúc ấy tôi 15 tuổi, chẳng có hãng dầu nào
cả mà chỉ có 2 cái bồn chứa dầu loại nhỏ, ẩn trong khu
vườn chuối bên cạnh khu nhà. Không rõ do nhu cầu nào mà
có "hãng dầu" nơi đây, chớ khi tôi biết thì 2 bồn này trong
tình trạng "về hưu" mà mỗi lần đi ngang tôi phải chạy
cho nhanh, vì quá vắng vẻ. Nói cho đúng là tôi "sợ ma". Trong
khu nhà cạnh "hãng dầu" có hai chị chuyên bán gạo lẻ ở
chợ -chị Hai Nuôi và chị Ba Dư- thường cho tôi quà bánh
mỗi khi gặp tôi vào chợ mua xôi bánh phồng ăn đi học buổi
sáng.
Ngôi trường làng Ðại Ngãi
khá khang trang. Tường gạch lợp ngói, nền cao ngang đầu tôi.
Có hàng rào chung quanh, cổng vào hình vòng cung, có 2 hàng chữ:
Hàng trên "École Élémentaire de Dai Ngai", hàng dưới "Trường
Sơ Học Ðại Ngãi". Trường có 3 lớp học và 1 văn phòng.
Xa về bên trái (từ cổng nhìn vào) có gian nhà lợp ngói vách
ván, một phòng làm "căn tin" còn phòng kia là kho để nhiều
vật dụng khác nhau. Sau trường là đám bông ngãi, có lối
đi tắt ra chợ. Sân trường phía trước, ngang độ vài chục
thước và dài trên dưới 50 thước.
Năm 7 tuổi, tôi vào lớp Ðồng
Ấu (Enfantin). Tiền ăn đi học của tôi được ba xu, gồm
hai xu buổi sáng mua xôi bánh phồng của cô Bảy trước khi
đến trường, và buổi chiều một xu mua nước đá nhận.
Cuối tháng mẹ tôi trả 1 lần. Tuần đi học 5 ngày, ngày
học hai buổi, thứ năm và chủ nhật nghỉ.
Khi học lớp Dự Bị (Préparatoire),
tôi và các bạn lập 2 đội banh. Giữa buổi học sáng với
chiều, đám cầu thủ tí hon chúng tôi hễ cơm trưa xong là
đến trường đá banh. Sân trường trở thành "vận động
trường", còn banh thì chia nhau "ăn cắp bưởi" vườn nhà hoặc
vườn hàng xóm. Ðem bưởi hơ lửa cho mềm mềm rồi dùng
giây chuối quấn nhiều vòng để đá được năm bảy trận.
Ðá xong, kéo nhau ra cầu tàu tắm. Cô bạn Yến của tôi thỉnh
thoảng cung cấp bưởi cho đội banh và cung cấp xôi cho tôi
ăn trước giờ học chiều. Cả hai thứ đều do cô ta ăn cắp
ở nhà, cũng vì vậy mà thỉnh thoảng bị ông anh bắt gặp
là "bộp tai" lia lịa. (Năm 1951, anh của Yến là cảnh sát
Quận 5, tôi có đến thăm cô bạn ngày xưa và ông anh cô ta.
Về sau tôi không rõ. Chẳng biết bây giờ "Chị bạn già"
của tôi hay con cháu của Chị có nơi đây không nhỉ?)
Thầy Nguyễn Văn Tốt dạy
tôi ở lớp nhất (Élémentaire), "lớp nhất trường làng".
Nhà Thầy ở căn thứ nhì trong dãy phố liên kế bên hông
phải Nhà Việc. Tôi được Thầy chọn viết bảng, Thầy nói
tôi viết chữ nhỏ, ít choán chỗ trên bảng đen. Ðến giờ
"chính tả", tấm bảng đen hạ xuống để cạnh bàn học đầu
tiên, Thầy Tốt đọc và tôi viết chính tả trên bảng cùng
lúc với cả lớp viết vào tập. Hết bài, bảng đen đưa
lên chỗ cũ, tôi về chỗ và viết vào tập. Nếu viết sai
trên bảng thì trong tập chính tả của tôi cũng sai như vậy.
Giờ "bài làm" cũng thế.
Tôi đi thi ở Sóc Trăng. Ba
tôi định gởi tôi ở nhờ nhà người bạn rất thân có cùng
sở thích "xem đấu võ đài", nhưng Thầy Tốt bảo để Thầy
gởi nhà người bạn của Thầy ở gần trường thi. "Việt
Nam Sơ Ðẳng Tiểu Học Văn Bằng", đó là văn bằng mà tôi
được cấp sau mùa thi năm 1940 với 2 bài tiếng Pháp và 3
bài tiếng Việt. (Năm 1964, do tình cờ bạn tôi biết tình
trạng Thầy Tốt và anh cho tôi hay Thầy đang bệnh. Tôi tìm
đến Thầy trong khu nhà khoảng giữa Cầu Bông với Ty Công
Chánh Gia Ðịnh. Tuần sau tôi trở lại thăm nhưng Thầy đã
dọn đi nơi khác, và từ đó tôi không có tin tức gì về
Thầy nữa).
Ðại Ngãi cũng như Long Ðức,
không có những khu vườn trồng cây ăn trái để chở lên
Sàigòn bán, ngoài 3 nhà máy xay lúa kể trên không có nhà máy
biến chế sản phẩm gì khác, đất ruộng không thể gọi
là "cò bay mỏi cánh chó chạy vẹo sườn" như phần lớn các
xã khác của tỉnh Sóc Trăng, nên bà con trong làng phần lớn
sống với nghề "hạ bạc", một nghề được xem là thu lợi
không nhiều nhưng rất nhọc nhằn nguy hiểm.
Những bạn học ngày xưa. Tôi
chỉ còn nhớ nổi vài bạn học ngày xưa:
- Yến, con của cô Bảy bán
xôi bánh phồng trong buổi chợ sáng.
- Tuyết -có biết danh là Tuyết
móm- con bác Ba chủ nhà máy xay lúa Vĩnh Hưng, ở khoảng giữa
vàm sông với nhà máy lửa. (Năm 1967, khi tôi giữ chức Tỉnh
Trưởng Phong Dinh, Bác Ba có nhà thuốc tây tại Cần Thơ. Vợ
chồng tôi có dùng cơm với Bác và chị em của bạn Tuyết
móm).
- Ðạt -có biệt danh là Ðạt
khòm- con ông bà chủ nhà máy xay lúa ngoài vàm sông. Ðạt
khòm là vì bạn có tật lưng nhưng là "chúa" trêu chọc bạn
bè, mà tôi là "nạn nhân" thường trực của bạn. Bạn thường
cọ hai ngón trỏ vào nhau có ý ghép tôi với cô bạn Yến.
- Luông -có biệt danh là Luông
chấm phết- con bác Bảy làm cảnh sát. Bạn Luông có tật
chân, một chân đi bình thường còn chân kia (dường như là
chân trái) kéo lê.
- Trí -có biệt danh là Trí
banh mousse- dẫu sao thì bạn cũng là con của bác Hai Tắc chủ
xe đò, nên có trái banh mousse đá êm chân lắm, nhưng không
bao giờ cho mượn trong khi "đội banh" bọn tôi đá toàn banh
bưởi.
- Và Ðịnh, ở gần nhà máy
lửa.
Trong số đông bạn thân của
Ba Má tôi, tôi chỉ nhớ có bác Tư Quý. Bác chuyên làm nghề
"đóng đáy". "Ðóng đáy" cũng như những công việc đánh bắt
cá được gọi chung là "nghề hạ bạc". Bác có "miệng đáy"
hay "giàn đáy" trên sông trước nhà ông Tây lai. "Ðáy" chung
qui cũng là lưới chận bắt cá tôm trên sông. Xin hình dung,
hai cây cột thật dài được cắm sâu dưới lòng sông, và
chiều dài phải cao khỏi mặt sông lúc nước lớn đầy để
treo hai ngọn đèn cho ghe xuồng ban đêm thấy mà tránh. Khoảng
cách giữa hai cây cột cũng khoảng 10 thước hoặc hơn. "Ðáy"
là một cái miệng gần như hình vuông, bốn góc của miệng
đáy cột vào đầu trên và đầu dưới của hai cây cột,
lưới đáy từ miệng nhỏ dần đến cuối "đáy" cột vào
cái "đụt". Khi nước ròng, cá tôm và mọi thứ khác theo dòng
nước trôi vào miệng đáy, sẽ lọt vào cái đụt. "Cái đụt"
hình tròn với đường kính độ bốn hay năm tấc và dài khoảng
một thước rưởi, đít túm lại. Ðụt làm bằng thanh tre
mỏng, đan kín để giữ cá tôm trong đó. Phần "lưới đáy"
ngay trước đầu cái đụt có sợi dây thòng lọng mà đầu
dây cột ở trên ghe, khi kéo đụt lên thì giây thòng lọng
thắt cổ lưới (cá tôm không thoát ra), gọi là "đổ đụt".
Bắt cá tôm xong, đụt được thả xuống dòng nước lại.
Nhà ở của gia đình bác là chiếc ghe, và nghề nghiệp của
bác cũng nằm gọn trên chiếc ghe đó. Con gái lớn của bác
tôi gọi là chị Xuyến, còn con trai kế học chung với tôi
nhưng tôi quên tên.
Sông Ðại Ngãi vào mùa "nước
lợ" -vì nước sông Bassac hạ xuống nên nước biển tràn
vào pha trộn thành nước mằn mặn- có những ghe chở nước
ngọt chèo dọc theo sông để bà con "đổi nước" uống và
nấu ăn. "Ðổi nước" là cách dùng chữ cho nhẹ tai, chớ
thật ra lúc ấy "nước ngọt cũng là món hàng" đem bán cho
bà con vùng nước lợ tiêu thụ thôi. Sản phẩm đặc biệt
là "cá lẹp". Cá lẹp trắng và cá lẹp huyết. Gọi là "cá
lẹp huyết", chẳng qua vảy của nó màu vàng vàng có chút
phơn phớt màu hồng trên đó chớ không đến mức đỏ lòm
mà gọi lẹp huyết. Thịt nó rất ngọt nhưng phải cái tội
là xương nhiều lắm. Ăn ngon nhất là luộc, gói bánh tráng
chấm nước mắm. Ai sợ xương là không cách gì thưởng thức
được. Nói đến cá lẹp mà quên một giống cá cũng đặc
biệt không kém, thì chưa phải là dân làng Long Ðức-Ðại
Ngãi. Ðó là "cá cháy", một giống cá nấu canh mẳn ăn với
bún là tuyệt diệu đến mức không bao giờ quên dù chỉ một
lần thưởng thức. Người đi lưới chỉ đánh bắt được
cá cháy trên sông Bassac đến ngang Trà Ôn khoảng giữa tháng
hai âm lịch. Ðây là thời gian cá vào vùng nước này để
đẻ, cho nên lúc ấy bộ trứng của nó nặng hơn thân. Ðầu
năm 1955, khi đại đội tôi đồn trú tại Trà Ôn, tôi có
dịp được ăn lại món canh mẳn cá cháy với bún, do Bà Bảy
chủ tiệm cà phê bên hông trái chợ Trà Ôn nấu. "Cá cháy
kho rệu" có hương vị tuyệt diệu khác. Cá phải kho với
mía lau và kho khoảng 10 tiếng đồng hồ, lúc ấy xương mềm
như bột mà là loại bột rất bùi, ăn luôn thịt cá lẫn
xương cá. Nhưng từ đầu những năm 1960, không một ngư dân
nào bắt được cá cháy nữa. Cũng có thể vì cá bị đánh
bắt trong mùa đi đẻ mà giống cá đặc biệt này tuyệt chủng
chăng?
Viết đến đây bỗng dưng
tôi nhớ đến chú Tư Tỵ, cũng là bạn thân của Ba Má tôi.
Chú đậu bằng "Cao Ðẳng Tiểu Học" khoảng tôi mới chào
đời, nhưng ít năm sau đó chú bị mù nhưng tôi không rõ nguyên
nhân. Vợ chú ở rạch Mương Ðiều, khoảng giữa sông Vàm
Tấn (?) với cầu Mương Ðiều trên tỉnh lộ Ðại Ngãi -
Sóc Trăng. Vợ chồng chú có hai con trai, đứa lớn tên Louis,
đứa nhỏ tôi không nhớ. Chú Tư Tỵ đàn kìm (đàn 2 giây)
rất "mùi". Khi tôi học "lớp nhất trường làng", chú thường
nhờ tôi viết thư gởi cho cô bạn cũ ở trên Sài Gòn. Ngược
lại chú dạy tôi ca vọng cổ. Dường như lúc ấy tôi ca nghe
chừng cũng không tệ lắm, nên bà con thường xin ba má tôi
cho tôi theo chú Tỵ và vài cô chú nữa, cùng đàn ca trên sông
vào những đêm trăng sáng. Cả nhóm dùng chiếc tam bản, cứ
nước lớn khoảng nửa chừng thì lững thững trôi vào, nước
ròng lại trôi ra. Ban đêm thanh vắng, mặt sông phóng âm thanh
tiếng đàn câu hát vừa xa vừa nhẹ nhàng thanh thoát hơn trên
bờ. Khi trôi ra đến "miệng đáy" của bác Tư Quý là cặp
vào "nhà" bác, chờ đổ đụt là mua tép bạc luộc cuốn bánh
tráng chấm nước mắm. Nói là mua chớ chẳng mấy khi trả
tiền vì thường là bác cho và cho rất nhiều. Lúc ấy chỉ
có quai hàm làm việc, còn đàn kìm và đàn gáo treo lên hai
cột chèo. Năm 1955 cho đến 1957, tôi vẫn còn ca vọng cổ
vì Trung sĩ Nguyễn văn Út -thư ký đại đội- là tay đàn
guitare cổ nhạc rất cừ. Còn bây giờ, chỉ có ... ậm ừ
thôi.
Nói là cuốn tép luộc chấm
nước mắm nhưng riêng tôi thì chấm ... muối tiêu. Không hiểu
nguyên nhân ra sao mà tôi (thuở nhỏ) rất sợ nước mắm.
Năm 1938, trước khi sang nhà bảo sanh Ðại Ngãi sinh cô em thứ
năm, má tôi nhờ bà Ba Ðộng nấu cơm cho tôi và em trai tôi
ăn. Ði học về thấy dĩa nước mắm bên cạnh tô canh chua
là khóc rấm ra rấm rứt. Bà Ba Ðộng dỗ mãi không xong, bà
phải chạy sang nhà bảo sanh hỏi má tôi. Khi trở về bà dẹp
dĩa nước mắm và cho tôi tí muối tiêu. Mọi việc trở nên
bình thường. Ăn xong là ôm cặp qua trường đặng ... đá
banh vì trễ giờ thường lệ. Tôi vẫn ăn muối tiêu với
bất cứ món ăn nào cần nước mắm, mãi đến năm 1955 ...
khi "quen" với cô con gái cưng của ông bà chủ hãng nước
mắm ở Vĩnh Long mới bắt đầu ăn nước mắm, nhưng chút
chút thôi. Từ đầu năm 1958, chắc vì "cảm mến sự hi sinh
cao cả của tôi" (bỏ muối tiêu mà ăn nước mắm) nên cô
ta cùng tôi "ký giấy cam kết" sống chung suốt đời. Bây giờ
(năm 2006) là Bà Nội Bà Ngoại của 9 cháu.
*****
Những tháng đầu năm 1972,
lúc ấy tôi phục vụ tại Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận đồn trú
ở Cần Thơ, nhân chuyến đến thăm Ðại đội Hành Chánh
Tiếp Vận Tiểu Khu Ba Xuyên (Sóc Trăng), anh Ðại Úy Sơn Sâm,
lái xe jeep đưa tôi ra thăm Ðại Ngãi trong khoảng hai tiếng
đồng hồ. Ðầu tiên là tôi đến thăm trường học. Bước
vào lớp 3 (tức lớp élémentaire ngày trước), chào cô giáo
xong, bỗng dưng tôi thấy như mình bé lại khi nhìn vào vị
trí chiếc bàn và cái băng ngồi ngày xưa, tất nhiên không
phải là cái bàn cũ cái băng cũ, nhưng đó vẫn là chỗ ngồi
rất quen thuộc của tôi. Sự im lặng và có thể có một chút
ngớ ngẩn nào đó của tôi, làm cho cô giáo trẻ ngạc nhiên.
Sau đó cô giáo thật vui, khi biết "một học trò 32 năm trước"
trở lại thăm ngôi trường xưa, chớ không điều giợ phải
ngạc nhiên cả.
"Theo cô biết thì ngôi trường
này từ xưa đến giờ vẫn thế hay có thay đổi gì không
cô?"
"Cháu nghĩ là không có gì thay
đổi, ngoại trừ những sửa chữa hư hỏng thông thường".
"Tôi thấy như nền đúc này
thấp xuống thì phải .... – Ô không. Tôi nhầm rồi cô à.
Tôi thấy nó thấp chẳng qua là lúc tôi mới bảy tám tuổi,
nên nền đúc cao gần bằng người tôi ngày ấy thôi".
Cô quay vào lớp trong lúc học
trò bắt đầu ồn ào:
"Các em nghe cô nói. Ðây là
một sĩ quan quân đội đến thăm chúng ta. Hơn ba chục năm
trước, ông cũng là học trò tại trường này như các em hôm
nay. Các em chào ông đi".
"Chào ông". Tiếng chào không
cùng lúc nhưng nghe rất dễ thương, vì trong âm thanh ồn ào
vui vẻ đó có bóng dáng tôi ngày trước mỗi khi chào ông
Ðốc Học đến thanh tra.
Hai chúng tôi đi một vòng bờ
đất lở, vào quán cơm khu nhà chợ gặp người bà con của
anh Sơn Sâm, tôi hỏi thăm các bạn tôi và chú bác bạn của
ba má tôi, bà cho biết chỉ còn lại một vài gia đình nhưng
là hàng con cháu của họ.
Quả tình là Ðại Ngãi đã
khác rất nhiều so với những gì tôi còn lưu giữ trong ký
ức. Nếu tôi nhớ không lầm là khu đất khá rộng ngay từ
vàm sông vào đã bị sụp lở, ngôi chợ ngày xưa không còn
nữa và ngôi chợ lúc bấy giờ tọa lạc ở cuối đường
nối từ tỉnh lộ ra đến bờ sông cạnh nhà "ông Tây lai".
Bờ sông bên làng Long Ðức, từ vàm sông vào mút tầm nhìn,
không một cái nhà, cũng không một bóng người! Nhà cửa san
sát ngày xưa, giờ đây chỉ là một dải đất trống với
những đám cỏ cao ít nhất cũng quá đầu người. Trông thật
là buồn!
Sau cuộc chiến tranh giữa Việt
Minh cộng sản với quân viễn chinh Pháp thực dân 1945-1954,
tôi có mặt trong cuộc chiến tranh 1954-1975, chống lại quân
cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa -theo chế
độ độc tài- gây chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Cộng
Hòa -theo chế độ tự do. Tôi đã tham dự hành quân hoặc
đi công tác trên khắp miền đất nước, tôi đã trông thấy
nhiều làng mạc nông thôn trở thành hoang vắng điêu tàn!
Thậm chí còn điêu tàn thảm hại hơn Long Ðức nữa! Tôi
biết như vậy, nhưng trước mắt tôi -Ðại Ngãi, nhất là
Long Ðức- nơi mà tôi chào đời và sống thuở ấu thơ với
thời niên thiếu, sao mà buồn thảm đến như vậy! Tự dưng
nỗi xót xa tràn đến, khiến tôi nín lặng trong một khoảnh
khắc nào đó ... và dường như tôi khóc à Ðến khi anh Ðại
Úy Sơn Sâm nắm tay tôi về quán dùng cơm để kịp về lại
Sóc Trăng, lúc ấy tôi mới chợt tỉnh.
Xin nói thêm một chút về chuyện
con tôi vượt biển có liên hệ đến chút nghĩa ân. Khoảng
cuối năm 1979, lúc ấy tôi bị giam trong trại tập trung Nam
Hà trên đất Bắc, 3 đứa con trai chúng tôi vượt biển từ
bờ biển Long Phú, Sóc Trăng. Bị quân cộng sản phác giác
truy lùng, hai con lớn chúng tôi (20 tuổi và 16 tuổi) chạy
thoát, đứa còn lại bị bắt. Nó mới 13 tuổi nên không bị
nhốt mà cho xuống nhà bếp phụ việc lặt vặt. Mấy ngày
sau được cho về. Nhưng lúc ấy con tôi trần trụi vì lúc
chạy "bán sống bán chết", cái áo bị các nhánh cây "giữ
làm kỷ niệm" lúc nào chẳng hay. Có một gia đình gần đó,
thấy vậy mới cho con tôi một cái áo, mà là "cái áo con gái"
vì nhà bà không có con trai. Khi con tôi về đến nhà, Ba Má
tôi và vợ tôi trông thấy, vừa cười vừa khóc! Khóc vì
thấy nó nhỏ quá mà bị tù, còn cười vì cái áo con gái
trên người nó. Khi còn sống, mỗi khi Ba Má tôi nhắc lại
chuyện ấy là Ông Bà vẫn cười dài dài. Hiện giờ (năm
2006) con trai tôi đã vào tuổi 40, có vợ 2 con, và có cơ sở
làm ăn ở tiểu bang khác. Chúng tôi xin mượn bài này để
gởi lời nhắn: "Nếu như gia đình ân nhân của con tôi 27
năm về trước có mặt nơi đây, xin vui lòng cho chúng tôi
biết qua địa chỉ e-mail <hoabapham@hotmail.com> để vợ chồng
tôi có dịp cám ơn cho tròn đạo nghĩa. Cái áo không là bao,
nhưng điều nghĩa ân mới là đáng quí".
Thưa bà con đồng hương, ký
ức về nơi chôn nhao cắt rún của tôi là như vậy đó. Xin
hẹn một ngày đất nước thật sự hồi sinh, với một chế
độ phục vụ nguyện vọng người dân, và một xã hội mà
mọi người được tôn trọng, cùng gặp lại nhau nơi miền
quê thật quê, nhưng thật đậm tình đậm nghĩa. Ðó là làng
Ðại Ngãi quê tôi./.
Phạm bá Hoa
Houston, mùa Ðông 2000-2001.
Bổ túc và cập nhật mùa
hè-2006.
|